Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

HẢI PHÒNG: HOÃN PHIÊN TÒA XỬ VỤ ÔNG VƯƠN KIỆN UBND HUYỆN TIÊN LÃNG

Hải Phòng: 
Hoãn phiên xử vụ ông Đoàn Văn Vươn kiện UBND huyện Tiên Lãng

(Dân trí) - Ngay trong buổi sáng nay (30/9), chủ tọa phiên toà đã quyết định hoãn phiên xét xử do thiếu nhân chứng trong vụ án “khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai” giữa ông Đoàn Văn Vươn và UBND huyện Tiên Lãng.

 >> Hôm nay, xét xử vụ ông Đoàn Văn Vươn kiện UBND huyện Tiên Lãng


Lãnh đạo Toà án nhân dân TP Hải Phòng vừa chính thức xác nhận với PV Dân trí thông tin hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án “khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai” vào sáng nay 30/9 với lý do: “Phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án bắt đầu diễn ra từ lúc 8h sáng nhưng trong phần kiểm tra các thành phần, đương sự thì phát hiện thiếu 2 nhân chứng quan trọng liên quan đến vụ án."
Ông Đoàn Văn Vươn ( Bìa trái) cùng người thân tại phiên toà sơ thẩm vụ án: "Giết người và chống người thi hành công vụ" đầu năm 2013.

Theo bà Đỗ Thị Xuyến - Thẩm phán, Chủ toạ phiên xét xử sơ thẩm, có mặt tham dự tại toà hôm nay có đại diện UBND huyện Tiên Lãng là ông Phạm Văn Chống - Phó phòng TN&MT huyện Tiên Lãng (Bên bị kiện) và ông Vũ Văn Luân - Thư ký Liên chi Hội nuôi trồng thuỷ hải sản nước lợ huyện Tiên Lãng, đại diện cho bên đương sự khởi kiện. 2 nhân chứng không có mặt tại toà là ông Phạm Văn Bìa và Vũ Văn Hoạ đều ở xóm Chùa, xã Vinh Quang, Tiên Lãng - Hải Phòng.

Do đó, bà Đỗ Thị Xuyến đã quyết định hoãn phiên xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ngày hôm nay chuyển sang xét xử vào tháng 10 tới.

Trước đó, tháng 8/2009, ông Đoàn Văn Vươn khởi kiện ra tòa yêu cầu UBND huyện Tiên Lãng thu hồi quyết định 461 về việc thu hồi diện tích đầm nuôi trồng thủy sản của gia đình.

Theo ông Vươn thì 19,3 ha đất bị thu hồi được sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản là đất nông nghiệp, đất bị thu hồi chưa hết thời hạn sử dụng và nếu hết thời hạn thì được tiếp tục sử dụng dưới các hình thức Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, khi thu hồi phải bồi thường...

Ngày 27/1/2010, TAND huyện Tiên Lãng đã tuyên bản án hành chính sơ thẩm bác đơn khởi kiện với những yêu cầu trên của ông Vươn. Sau đó, ông Vươn đã viết đơn kháng cáo bản án này lên TAND TP Hải Phòng. Đến 19/4/2010, ông Vươn lại có đơn xin rút kháng cáo để UBND huyện Tiên Lãng tiếp tục thực hiện các thủ tục bàn giao đất. Khi có đơn xin rút kháng cáo, TAND TP Hải Phòng đã ra quyết định đình chỉ vụ án này.

Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ án, vào ngày 10/2/2012, Chánh án TAND Tối cao đã qa quyết định kháng nghị tái thẩm với quyết định đình chỉ vụ án của TAND TP Hải Phòng và với bản án sơ thẩm mà TAND huyện Tiên Lãng đã tuyên vào năm 2010; giao TAND TP Hải Phòng và TAND huyện Tiên Lãng xử lại vụ án khiếu kiện hành chính của ông Đoàn Văn Vươn theo đúng quy định của pháp luật.
Quốc Đô
Nguồn: Dân trí

HÔM NAY, XÉT XỬ VỤ ÔNG ĐOÀN VĂN VƯƠN KIỆN UBND HUYỆN TIÊN LÃNG

 
Hải Phòng:
Hôm nay, xét xử vụ ông Đoàn Văn Vươn kiện UBND huyện Tiên Lãng

(LĐ) - Số 225 - Thứ hai 30/09/2013 06:07
Hôm nay (30.9), TAND huyện Tiên Lãng đưa ra xét xử sơ thẩm vụ ông Đoàn Văn Vươn kiện UBND huyện Tiên Lãng vụ “khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”.
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là bà Đỗ Thị Xuyến. Ông Vũ Văn Luân - Thư ký Liên chi hội Nuôi trồng thủy sản nước lợ huyện Tiên Lãng - là người đại diện theo ủy quyền cho ông Đoàn Văn Vươn. Đại diện cho UBND huyện Tiên Lãng là ông Phạm Văn Trống - Phó Trưởng phòng TNMT huyện Tiên Lãng.
Năm 2009, ông Đoàn Văn Vươn khởi kiện ra tòa, yêu cầu UBND huyện Tiên Lãng thu hồi quyết định 461 về việc thu hồi diện tích đầm nuôi trồng thủy sản của gia đình ông, vì cho rằng chưa hết thời hạn sử dụng và xin được tiếp tục sử dụng dưới các hình thức giao hoặc cho thuê đất, khi thu hồi phải bồi thường... Tháng 1.2010, TAND huyện Tiên Lãng  bác đơn khởi kiện của ông Vươn, ông Vươn kháng cáo; sau đó, ông Vươn có đơn xin rút kháng cáo và TAND TP.Hải Phòng quyết định đình chỉ vụ án.
Tháng 2.2012, Chánh án TAND Tối cao quyết định kháng nghị tái thẩm đối với quyết định đình chỉ vụ án của TAND TP.Hải Phòng và bản án sơ thẩm của TAND huyện Tiên Lãng. Sau đó, Tòa hành chính - TAND Tối cao ra quyết định hủy quyết định đình chỉ vụ án của TAND TP.Hải Phòng và bản án sơ thẩm của TAND huyện Tiên Lãng, giao TAND huyện Tiên Lãng giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

GS. Nguyễn Minh Thuyết: SÂU THAM NHŨNG ĐANG BIẾN THÀNH BẠCH TUỘC


SÂU THAM NHŨNG ĐANG BIẾN THÀNH BẠCH TUỘC

Vương Tuấn Anh thực hiện    

Đại hội XI của Đảng đã xác định “tích cực phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng” là một trong những nhiệm vụ quan trọng để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và nêu nhiều biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ này. Tuy nhiên, trên thực tế, kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) còn rất hạn chế. Vậy, nguyên nhân từ đâu và cần có những biện pháp như thế nào để thực hiện nhiệm vụ Đại hội XI đã chỉ ra? Hà Nội Ngày nay có cuộc trao đổi với GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội về vấn đề này.
Tham nhũng… cơ chế, chính sách

*Tham nhũng đang làm chậm sự phát triển kinh tế-xã hội, làm suy giảm giảm nghiêm trọng lòng tin của nhân dân vào nhà nước. Giáo sư đánh giá thực trạng tham nhũng ở nước ta hiện nay như thế nào?

- Tham nhũng ở nước ta đang diễn ra phức tạp. Quy mô các vụ tham nhũng ngày càng lớn, thể hiện ở lượng tài sản bị chiếm đoạt và số người vi phạm ngày càng tăng. Tính chất tham nhũng ngày càng nghiêm trọng, thể hiện ở xu hướng liên kết, hình thành tổ chức phạm tội ngày càng rõ rệt. Việc PCTN ngày càng bộc lộ những lỗi hệ thống khó khắc phục. Bất chấp các biện pháp tổ chức và tuyên truyền – giáo dục, số vụ việc tham nhũng được phát hiện qua công tác thanh tra, kiểm tra còn rất ít. Các vụ việc được vạch ra chủ yếu nhờ báo chí, nhờ người dân hoặc bị vỡ lở do ăn chia không đều, khiến nội bộ mâu thuẫn, “vạch áo cho người xem lưng”. Việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị để xảy ra tham nhũng không chỉ lúng túng mà còn chưa nghiêm… Đó là những nét chính về tình trạng tham nhũng hiện nay.


* Vì sao việc tố cáo tham nhũng ở nước ta còn rất hạn chế, thưa giáo sư?

- Theo khảo sát mới đây của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, số người Việt Nam khẳng định sẵn sàng tố cáo tham nhũng thấp nhất Đông Nam Á. Đó là vì số người mất niềm tin vào quyết tâm phòng chống tham nhũng của nhà nước ngày càng tăng lên. Người ta mất lòng tin vì thấy tuyên truyền rầm rộ nhưng kết quả chỉ bắt được mấy con mèo; trong khi người đấu tranh chống tham nhũng thì bị trả thù, không biết tránh đâu cho thoát. Quan sát một số quyết định bất hợp lý từ các cơ quan nhà nước, người ta cũng thấy thấp thoáng hình bóng của các nhóm lợi ích. Nếu tham nhũng đã là con đẻ của cơ chế thì chống nó có nghĩa là lấy trứng chọi với đá. Đó là những lý do khiến ít người muốn mua dây buộc mình.

* Một hình thức tham nhũng rất khó phát hiện đó là tham nhũng cơ chế, chính sách. Giáo sư nhận định thế nào về hành vi tham nhũng này?

- Hai năm liền, kết quả khảo sát dư luận người dân của Tổ chức Minh bạch Quốc tế đều xếp cảnh sát giao thông đứng đầu danh sách tham nhũng. Nhiều anh em trong lực lượng cho rằng điều đó không công bằng. Nói như thế cũng đúng, vì tuy có gây bức xúc cho dân nhưng tham nhũng của mấy anh cảnh sát ngoài đường làm sao so được với tham nhũng của những anh ngồi phòng máy lạnh vạch chính sách. Tham nhũng chính sách, tức là ban hành chính sách, pháp luật vì lợi ích nhóm, chính là loại tham nhũng lớn nhất, tệ hại nhất. Nếu ví cán bộ tham nhũng với những con sâu làm rầu nồi canh thì tham nhũng chính sách cho thấy con sâu đã trở thành con bạch tuộc chi phối kinh tế và tác động vào chính trị. 


Chính vì đánh giá được mối nguy từ loại tham nhũng này mà tại phiên họp cuối tháng 8 vừa qua của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các đại biểu Quốc hội Nguyễn Bá Thuyền (Lâm Đồng), Chu Sơn Hà (Hà Nội) đã chất vấn Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường về vấn đề ban hành chính sách, pháp luật vì lợi ích nhóm. Điều đó cho thấy tham nhũng chính sách không chỉ là dư luận mà đã được đặt lên bàn nghị sự của Quốc hội.

Trả lời đại biểu, Bộ trưởng Hà Hùng Cường không khẳng định, cũng không phủ nhận sự tồn tại của loại hình tham nhũng mới, mặc dù câu hỏi của đại biểu chỉ gói gọn trong phạm vi ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ngoài các văn bản trao đặc quyền, đặc lợi cho nhóm lợi ích của mình, những người tham mưu, người có quyền còn có thể đưa ra những dự án béo bở cho người thân, người cùng phe lợi ích với họ.          

Cái nguy của tham nhũng chính sách là nó bóp méo chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước, đi ngược lại quyền lợi của đông đảo nhân dân, cản trở sự phát triển của đất nước. Nó còn đẩy nhanh sự suy thoái của bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và làm mất lòng tin của nhân dân.

* Chuyện các sếp ở doanh nghiệp nhà nước nhận “lương khủng” được phát hiện vừa qua liệu có phải là tham nhũng cơ chế hay không và nguyên nhân để xảy ra việc này từ đâu, thưa giáo sư?

- Đối chiếu những gì đã được phát hiện với quy định của pháp luật thì đây đúng là tham nhũng, mà có nhiều dấu hiệu tham nhũng tập thể, tức là có những “anh” chống lưng để đẻ ra cơ chế phục vụ lợi ích nhóm.

Có hai nguyên nhân dẫn đến chuyện này: Thứ nhất, nhà nước đang “ôm” các doanh nghiệp và từ “sở hữu chung” đến “cha chung không ai khóc” là điều không tránh khỏi. Nguyên nhân thứ hai là xử lý không nghiêm. Chính vì không nghiêm nên chuyện “lương khủng” ở nhiều doanh nghiệp nhà nước vẫn cứ tiếp diễn.

Tôi nhớ là trước đây các đại biểu Quốc hội đã chất vấn việc người đứng đầu Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) lương cao gấp cả chục lần lương Chủ tịch nước. Người có trách nhiệm cũng đã hứa kiểm tra nhưng chuyện đó được kết luận thế nào, có ai bị xử lý kỷ luật không và bây giờ lương Tổng giám đốc SCIC ra sao thì không ai rõ. Những chuyện không bình thường ở cơ quan cấp trung ương còn chưa được xử lý nghiêm chỉnh, thì ở địa phương làm ăn xằng bậy là điều dễ hiểu.

Tiếp “lửa” chống tham nhũng

* Theo giáo sư, chúng ta cần phải có biện pháp thiết thực gì để ngăn chặn, loại trừ tham nhũng có hiệu quả?

- Theo tôi, giải pháp hiệu quả nhất vẫn là công khai, minh bạch ở tất cả các lĩnh vực, tất cả các hoạt động và xác định thật rõ trách nhiệm công vụ của mỗi vị trí công tác trong bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị. Đây là điều không mới, nhưng vấn đề là chúng ta phải triển khai thực hiện thật.

Thực tế cho thấy tự kiểm tra là khâu yếu, chỉ khi có mâu thuẫn nội bộ, tố cáo lẫn nhau mới phát hiện được tham nhũng. Vì vậy, công khai là giải pháp tốt nhất để dân giám sát và để ai đó muốn nhắm mắt làm ngơ hay ém nhẹm cũng không làm ngơ, ém nhẹm được.

Cùng với các biện pháp trên, phải chú trọng bố trí, sử dụng, đãi ngộ đúng mức đội ngũ thanh tra, kiểm toán, điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán có năng lực và bản lĩnh nghề nghiệp phát hiện, xử lý và làm án tham nhũng; cần phải có những chế tài nghiêm khắc liên quan giữa trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan, người có thẩm quyền trong phát hiện và xử lý tham nhũng.

Vấn đề tiền lương với công chức, viên chức nhà nước cũng là việc đáng quan tâm. Nhà nước sẽ phải sớm giải quyết dứt điểm vấn đề này, bởi nếu cắt đi được khoảng 40% số công chức, viên chức đang “ăn bám” thì sẽ có thêm một khoản kinh phí đủ lớn để trả cho những người thực sự xứng đáng. Đây cũng là một nút cởi cho bài toán chống tham nhũng.

* Thực tế rất nhiều vụ tham nhũng bị người dân và báo chí phát hiện. Chúng ta phải làm gì để tạo điều kiện cho người dân cùng báo chí tích cực tham gia vào công tác chống tham nhũng?

- Người dân và anh em báo chí không được đào tạo bài bản về điều tra nhưng họ lại là những người phát hiện cho cơ quan nhà nước rất nhiều vụ việc tham nhũng. Hầu hết những hiện tượng tham nhũng, tiêu cực nảy sinh ở các cơ quan, đơn vị, địa phương khó qua khỏi tai mắt của nhân dân. Để công tác PCTN được hiệu quả hơn nữa, cần phải sử dụng báo chí để tạo sức ép dư luận, răn đe, ngăn chặn. Có một thực tế là chúng ta rất lúng túng với việc nội bộ che giấu cho nhau. Trong khi đó, nguồn tin của báo chí là khách quan, được người dân tin tưởng. Rất nhiều vụ do báo chí, dư luận phanh phui ra, chứ không phải do các cơ quan chức năng. Vì vậy, tôi cho rằng bất kể một biện pháp nào nhằm kiểm soát, bưng bít nguồn tin báo chí sẽ hạn chế công tác PCTN và sự phát triển của xã hội.



Bên cạnh đó, chúng ta cần phải triển khai nhiều việc góp phần vào công tác PCTN như: Nâng cao dân trí thông qua các hoạt động truyền thông; điều tra nghiên cứu; cung cấp thông tin PCTN nhằm phát huy vai trò của báo chí trong việc phản ánh dư luận xã hội. Vai trò của các tổ chức phi chính phủ, các đoàn thể xã hội, các tổ chức cộng đồng… trong công tác PCTN cần phải được quy định chi tiết trong các văn bản pháp luật hiện hành.

* Cơ chế bảo vệ người chống tham nhũng, tiêu cực nên được xây dựng như thế nào, thưa giáo sư?

- Trên thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp người đấu tranh chống tham nhũng bị trù dập, thậm chí bị trả thù dã man… Người tố cáo tham nhũng nếu không được bảo vệ thì sẽ bị chùn bước vì họ rất ngại bị trả thù.

Luật Tố cáo, có hiệu lực thi hành ngày 01-7-2012, đã quy định việc bảo vệ người tố cáo được thực hiện tại tất cả những nơi có thể ảnh hưởng đến người tố cáo. Đối tượng bảo vệ không chỉ có người tố cáo mà còn cả những người thân thích của người tố cáo như vợ hoặc chồng, con cái, bố mẹ, anh em ruột thịt… Luật xác định trách nhiệm chính trong việc bảo vệ người tố cáo thuộc về người giải quyết tố cáo; đồng thời, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người tố cáo được bảo vệ như bảo vệ bí mật thông tin; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo…

Tin rằng với những quy định này, những chiến sĩ dũng cảm trên mặt trận đấu tranh PCTN sẽ có thêm sự hỗ trợ đắc lực để đấu tranh chống giặc nội xâm một cách mạnh mẽ hơn.

Tuy nhiên, tôi vẫn phải nhắc lại một điều đã nói không ít lần: Quan trọng nhất là lãnh đạo phải thực sự quyết tâm chống tham nhũng. Lãnh đạo quyết tâm thì đấu tranh mới thắng lợi. Và nếu không may có chiến sĩ nào bị thương vong trong cuộc đấu tranh, họ vẫn có thể an lòng với niềm tin vào thắng lợi cuối cùng.

* Trân trọng cảm ơn giáo sư!
Nguồn: HN Ngày Nay.


Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013

CHAO ÔI ! NHỤC NHÃ QUÁ ! LẠI MỘT QUẢ LỪA TẦM CỠ QUỐC TẾ NỮA

“Nhà thơ thần” Hoàng Quang Thuận, Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, các nhà nghiên cứu và các cựu lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam đã bị Đại học Kỷ lục Thế giới lừa?
T.K.L

Mấy ngày qua, báo chí trong nước đưa tin sự kiện trường Đại học Kỷ lục Thế giới trao tặng “bằng tôn vinh giá trị nội dung kỷ lục” cho cuốn sách Thi vân Yên Tử của “nhà thơ thần” Hoàng Quang Thuận, tại Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử.

Nghe tên trường “Đại học Kỷ lục Thế giới” hơi lạ, nên mình quyết tìm hiểu xem trường này ở đâu và các hoạt động của nó như thế nào. Search tìm trên mạng khá lâu, nhưng không thấy có bài báo bằng tiếng Anh nào ở nước ngoài nói về trường này, chỉ có vài bài nói về trường này đều có nguồn gốc từ các trang web ở Việt Nam. 
Mình đã tìm được website của trường tại đây: http://worldrecordsuniversity.co.uk/
Vào website trường thì thấy có link của 75 nước, từ Âu sang Á, từ Đông sang Tây, nhưng bấm vào tất cả các link đó, đều dẫn tới một trang duy nhất là “about us”, tức là thông tin của trường. Đọc nội dung trang này thì thấy thông tin rất mơ hồ, không phải trường đại học gì cả. Thông tin trong trang này ghi “trường Đại học Kỷ lục Thế giới là một trường đại học tự quản, được thành lập bởi sự kết nối giữa các cuốn sách kỷ lục khắp thế giới”. Và những cuốn sách kỷ lục mà họ đã kết nối gồm tên của 6 nhóm sách kỷ lục, trong đó có Việt Nam: Asia Book of Records, Vietnam Book of Records, Indo-China Book of Records, India Book of Records, Nepal Book of Records and International Council of Holistic Health.

Wesite này còn cho biết, đây là trường đại học duy nhất trao tặng bằng tiến sĩ danh dự cho những người giữ kỷ lục của cộng đồng. Bất cứ người nào đang giữ sách được cho là kỷ lục cũng có thể làm hồ sơ nộp cho họ, kèm theo lệ phí $1.000 để họ xem xét, nếu đủ điều kiện thì sẽ trao tặng bằng tiến sĩ danh dự cho người giữ sách đó. Người nào được trao tặng bằng tiến sĩ danh dự, có thể sử dụng cụm từ “tiến sĩ” trước cái tên của mình vì đã được trường này công nhận.

Ngoài ra, website này còn quảng cáo chương trình đào tạo tiến sĩ Khoa học Tự nhiên và Tiến sĩ Y khoa, qua chương trình đào tạo từ xa. Các ứng viên theo học sẽ có bằng tiến sĩ cho một khóa học qua mạng kéo dài… 6 tháng. Những người có thể tham gia học chương trình tiến sĩ là những người đã tốt nghiệp bất kỳ khóa học nào (Eligibility: Graduation degree in any stream), không cần phải có cử nhân hay hay thạc sĩ gì cả: http://worldrecordsuniversity.co.uk/intl/phd-in-nature-science-and-medicine/

Thấy chuyện có được danh hiệu tiến sĩ và bằng tiến sĩ quá dễ dàng, nên mình nghi ngờ và cố tìm kiếm thêm thông tin của trường này. Vào trang “liên lạc” ghi trên website của trường thì thấy có ghi 2 địa chỉ: ở Anh và Mỹ. Địa chỉ ở Mỹ là: 3050 Fite Cir, Suite 211, Rancho Cordova, California, 95827: http://worldrecordsuniversity.co.uk/intl/contact-us/

Nhưng kiểm tra lại thì thấy địa chỉ này là “địa chỉ ma” vì ở Mỹ không có địa chỉ nào như thế trong TP Rancho Cordova. Ở TP Rancho Cordova không có mã bưu điện (zip code) 95827. TP Rancho Cordova chỉ có 3 mã bưu điện là: 95670, 95741, 95742.

Tìm thêm thì thấy mã 95827 nằm trong TP Sacramento, thủ phủ bang California. Nghĩ rằng website của trường ghi lộn tên thành phố, nên mình thử tìm địa chỉ này ở TP Sacramento: 3050 Fite Circle Suite 211 Sacramento, CA 95827, thì thấy đây là văn phòng của công ty địa ốc 5th Avenue Real Estate Services, không phải của trường ĐH Kỷ lục Thế giới: http://hoamanagement.com/association-management-company/5th-avenue-real-estate-services/

Có quá nhiều dữ kiện để mình nghi ngờ rằng trường Đại học Kỷ lục Thế giới là một “trường đại học lừa”. Nếu đúng như vậy, cuốn sách Thi vân Yên Tử của “nhà thơ thần” Hoàng Quang Thuận đã được trao “bằng tôn vinh giá trị nội dung kỷ lục” hôm 22/9 chỉ là bằng ảo và các cựu lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam đã đến dự buổi lễ hôm đó như ông Trương Quang Được, cựu Phó Chủ tịch Quốc hội, ông Phạm Gia Khiêm, cựu Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cùng lãnh đạo các bộ, ngành, đơn vị Trung ương đã đến dự buổi lễ tại Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, đều bị trường ĐH Kỷ lục Quốc tế lừa.

Nếu trường Đại học Kỷ lục Thế giới là “trường đại học lừa”, thì những người đã từng được trường này trao bằng tiến sĩ danh dự hôm 21/9 tại Khách sạn Rex, Sài Gòn, đã nhận được những bằng ảo: nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần, võ sư Phạm Đình Phong, nhà soạn nhạc Lê Văn Tuấn, nhà sáng chế Hoàng Đức Thảo, nhà nhiếp ảnh Võ Văn Tường, đạo diễn NSƯT Nguyễn Văn Lượng.

PS: Mình đang liên lạc với trường ĐH Cornell ở Mỹ để hỏi thêm thông tin về trường ĐH Kỷ lục Thế giới, vì thấy có một chỗ trong website của ĐHKLTG nhắc tới trường ĐH Cornell. Do bây giờ là cuối tuần nên trường Cornell đã đóng cửa, khi nào có thêm thông tin, sẽ cho bà con biết.

---------
Mời xem thêm:
Trao tặng bằng tôn vinh giá trị nội dung kỉ lục thế giới của "Thi Vân Yên Tử" cho thiền viện Trúc lâm Yên Tử: http://www.cand.com.vn/vi-VN/toiphama-z/2013/3/209884.cand

Thơ thiền núi thiêng Yên Tử lay động ĐH Kỷ lục Thế giới: http://www.gdtd.vn/channel/2776/201309/tho-thien-nui-thieng-yen-tu-lay-dong-dh-ky-luc-the-gioi-1973025/

6 kỷ lục gia Việt nhận bằng tiến sĩ danh dự: http://vtc.vn/538-443508/giao-duc/6-ky-luc-gia-viet-nhan-bang-tien-si-danh-du.htm

Trao 11 bằng tiến sĩ danh dự của Đại học Kỷ lục gia thế giới: http://petrotimes.vn/news/vn/xa-hoi/trao-11-bang-tien-si-danh-du-cua-dai-hoc-ky-luc-gia-the-gioi.html

Xem thêm bài trên báo SaigonTimes “Đại học Kỷ lục Thế giới vinh danh 6 tiến sĩ trong nước” – World Records University honors six local doctors: http://english.thesaigontimes.vn/Home/travel/aroundcountry/31137/World-Records-University-honors-six-local-doctors.html
Nguồn: Tin Không lề

Ông Thomas Bains, Hiệu trưởng Trường Đại học kỉ lục thế giới, GS.TS Hoàng Quang Thuận, Trung tướng - Nhà văn Hữu Ước tại buổi lễ.

Thượng tọa
Thượng tọa Thích Tuệ Phúc nhận Bằng tôn vinh giá trị nội dung kỷ lục  do ông Thomas Bains trao tặng
6 kỷ lục gia Việt nhận bằng tiến sĩ danh dự
Ông Thomas Bains - Hiệu trưởng Đại học Kỷ lục Thế giới đã trao bằng Tiến sĩ danh dự cho các kỷ lục gia Việt Nam và kỷ lục gia Ấn Độ.
Ông Thomas Bains trao bằng TS danh dự cho các kỷ lục gia Việt Nam (Ảnh: T.Thanh)
Ông Thomas Bains trao bằng TS danh dự cho các kỷ lục gia Ấn Độ (Ảnh: T.Thanh)

Họa sĩ Trương Hán Minh tặng ông Thomas Bains bức tranh thủy mặc (Ảnh: T.Thanh)

Xem thêm bài viết về "Nhà thơ thần" Hoàng Quang Thuận tại đây: 
http://xuandienhannom.blogspot.com/2012/08/moi-au-tuan-thoi-um-ca-van-len-roi.html
 

Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013

DANH SÁCH 870 NGƯỜI KÝ TÊN HƯỞNG ỨNG TUYÊN BỐ 23 - 9


HƯỞNG ỨNG TUYÊN BỐ 23-9
Danh sách 2, 3 và 4

Tuyên bố về thực thi quyền Dân sự và Chính trị công bố ngày 23.9.2013 (gọi tắt là Tuyên bố 23-9) với danh sách chữ ký đầu tiên (130 người) đã được sự hưởng ứng rộng rãi trong nước và ở nước ngoài. Trong vòng 4 ngày, số người ký tên đã lên tới con số 500.

Dưới đây, chúng tôi xin đăng Danh sách 2, 3 và 4. Về hoạt động của Diễn đàn Xã hội Dân sự, bạn đọc có thể theo dõi trên mạng diendanxahoidansu. Chữ ký xin gửi về diendanxahoidansu@gmail.com(với những thông tin sau đây : tên họ, nghề nghiệp và/hay chức danh, thành phố / tỉnh, cùng địa chỉ bưu điện, địa chỉ email -- Diễn đàn tất nhiên không công bố địa chỉ người ký tên).


Danh sách ký tên Đợt 2 

131.    Doãn Kiều Anh, kỹ sư, TP HCM
132.    Lã Việt Dũng, kỹ sư tin học, Hà Nội
133.    Nguyễn Việt Hà, kỹ sư, TP HCM
134.    Chientrantien, Schanzen str 25, 90478 Nürnberg, CHLB Đức
135.    Lê Quốc Chơn, nghiên cứu sinh TS Hóa vật liệu, Pháp
136.    Nguyễn Thị Hải Yến, TS, CHLB Đức
137.    Lê Nguyên Long, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
138.    Nguyên Thi Thanh Van, phóng viên, Paris, Pháp
139.    Phan Quốc Tuyên, kỹ sư tin học, Genève, Thuỵ Sĩ
140.    Nguyễn Quyền, công nhân, München, CHLB Đức
141.    Gerardo Nguyễn Nam Việt, linh mục Giáo phận Vinh, Hoa Kỳ
142.    Trần Kim Thập, giáo chức, Perth, Australia
143.    Nguyễn Công Hệ, thuyền trưởng viễn dương, TP HCM
144.    Đặng Lợi Minh, giáo viên hưu trí, Hải Phòng
145.    Trịnh Trọng Thủy, đảng viên đã bỏ sinh hoạt 3 năm, Hà Nội
146.    Nguyễn Bá Dũng, kỹ sư, Hà Nội
147.    Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch Hội Người Hải Phòng tại CHLB Đức
148.    Joseph Le, CPA, Sydney, Australia
149.    Tô Oanh, giáo viên THPT, đã nghỉ hưu, TP Bắc Giang, Bắc Giang
150.    Võ Văn Tạo, nhà báo, Nha Trang, Khánh Hòa
151.    Trương Long Điền, công chức hưu trí, Long Xuyên, An Giang
152.    Ngô Khiết, công dân tự do, thành phố Hồ Chí Minh
153.    Nguyễn Hòa, Cao-học hành-chánh Sài-Gòn, đã nghỉ hưu, Hoa Kỳ
154.    Le Mai Linh, thi sĩ/nhà văn, Hoa Kỳ
155.    Phạm Đỗ Chí, nguyên chuyên viên cấp cao Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Washington DC, Hoa Kỳ
156.    Hà Văn Thùy, nhà văn, thành phố Hồ Chí Minh
157.    Hà Văn Chiến, cựu chiến binh, Thái Bình
158.    Vu Huy Do, công nhân, Seattle, Hoa Kỳ
159.    Nguyễn Thái Hùng, kỹ sư xây dựng, Vinh
160.    Nguyễn Trung Thành, kỹ sư giao thông vận tải, Phú Thọ
161.    Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Tư pháp, Hà Nội
162.    Chu Sơn, làm thơ viết văn tự do, TP HCM
163.    Nguyễn Thị Kim Thoa, bác sĩ, TP HCM
164.    Hồ Quang Huy, kỹ sư, Nha Trang
165.    Dao Minh Chau, Hà Nội
166.    Nguyễn Thượng Long, viết báo tự do, Hà Nội
167.    Lê Anh Hùng, blogger, Hà Nội
168.    Bùi Ngọc Mai, nội trợ, TP HCM
169.    Lê Văn Xuân, Đắk Lắk
170.    Nguyễn Văn Pháp, kỹ sư công nghệ sinh học, Thanh Hoá
171.    Lê Văn Sinh, cựu giảng viên Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Hà Nội
172.    Nguyễn Văn Trì, TP Biên Hòa, Đồng Nai
173.    Nguyễn Chương, nhà báo tự do, TP HCM
174.    Hoàng Bá Long, kinh doanh, Hải Phòng
175.    Nguyễn Hồng Khoái, sĩ quan quân đội về hưu, Hà Nội
176.    Nguyen Phuc Nguyen, kĩ sư, đã nghỉ hưu, Hà Nội
177.    Đinh Hoàng Giang, doanh nhân, Hải Phòng
178.    Bùi Phan Thiên Giang, chuyên viên mạng máy tính, TP HCM
179.    Nguyễn Anh Tuấn, nhà làm phim độc lập, Hà Nội
180.    Hà Huy Sơn, luật sư, Công ty Luật TNHH Hà Sơn, Hà Nội
181.    Nguyễn Ngọc Cúc, kỹ sư, Thủ Dầu Một, Bình Dương
182.    Lê Đoàn Thể, Hà Nội
183.    Ngô Thanh Tú, blogger, Cam Ranh, Khánh Hòa
184.    Nguyễn Hùng Sơn, họa sĩ, Hà Đông, Hà Nội
185.    Hoang Nguyen Thuy Khe, nhân viên văn phòng, TP HCM
186.    Phạm Ngọc Cảnh Nam, nhà văn, Đà Nẵng
187.    Lương Đình Dzụ, TS, chuyên gia tại Hoa Kỳ, cựu du học sinh tại Nhật Bản, Hoa Kỳ
188.    Nguyễn Quang Vinh, cán bộ Bộ Quốc phòng, Hà Nội
189.    Trần Công Khánh, hưu trí, Hải Phòng
190.    Lê Công Định, luật sư, cựu tù nhân lương tâm, TP HCM
191.    Đỗ Toàn Quyền, kỹ sư, TP HCM
192.    Trương Công Minh, kỹ sư, TP HCM
193.    Doãn Mạnh Dũng, kỹ sư, TP HCM
194.    Trần Việt Thắng, thạc sĩ, Hà Nội
195.    Nguyễn Khánh Dương, kỹ sư, Bình Thuận
196.    Nguyễn Kim Thái, cử nhân, doanh nhân, Bà Rịa-Vũng Tàu
197.    Đào Nguyên Ngọc, cựu chiến binh, CHLB Đức
198.    Ngô Thúy, họa sĩ tự do, Hà Nội
199.    Trần Rạng, giáo viên, TP HCM
200.    Trần Thiện Kế, dược sĩ, Hà Nội
201.    Thân Hải Thanh, nguyên Tổng Giám đốc Benthanhtourist, TP HCM
202.    Trần Quốc Lộc, kỹ sư đã nghỉ hưu TP HCM
203.    Nguyễn Kim Bình, TS Y Khoa, đã nghỉ hưu, Brisbane, Australia
204.    Chu Mạnh Chi, nguyên giảng viên đại học, Đà Lạt
205.    Đặng Lê Hoàng, chuyên viên công nghệ thông tin, TP HCM
206.    Nguyễn Tấn Lạc, California, Hoa Kỳ, phụ trách websites: diendancuachungta.com và tudotongiao.wordpress.com
207.    Nguyễn Quốc Thản, kỹ sư, Tokyo, Nhật Bản
208.    Trần Minh Khôi, kỹ sư điện toán, Berlin, CHLB Đức
209.    Đỗ Thành Nhân, MBA, quản lý doanh nghiệp, TP Quảng Ngãi
210.    Nguyễn Vũ, kỹ sư, hành nghề tự do, TP HCM
211.    Ngô Thị Kim Cúc, nhà văn, nhà báo, TP HCM
212.    Đặng Minh Điệp, thạc sĩ, giảng viên đại học, TP HCM
213.    Nguyễn Xuân Nghĩa, TS, TP HCM
214.    Nguyễn Văn Viên, nhân viên IT, Hà Nội
215.    Vũ Văn Vân, kỹ sư, Hà Nội
216.    Nguyễn Văn Nhượng, kỹ sư, đang nghỉ hưu, Lausanne, Thụy Sĩ
217.    Hà Dương Tuấn, nguyên chuyên gia công nghệ thông tin, Pháp
218.    Phạm Vương Ánh, kỹ sư kinh tế, cựu sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, Vinh
219.    Vũ Quốc Ngữ, thạc sĩ, Hà Nội
220.    Trần Anh Đức, sinh viên Luật, Hà Nội
221.    Nguyễn Trung Hiếu, cử nhân Xã hội học, du học sinh tại Tokyo, Nhật Bản
222.    Trần Hữu Kham, thương binh mù, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM
223.    Việt Ông, kinh doanh, TP HCM
224.    Hoàng Dương Tuấn, GS Đại học Công nghệ Sydney, Australia
225.    Nguyễn Xuân Bách, kỹ sư, CHLB Đức
226.    Tạ Thị Vân, kinh doanh, CHLB Đức
227.    Nguyễn Hữu Chuyên, giáo viên, Thái Bình
228.    Trần Ngọc Tuấn, nhà báo, CH Czech
229.    Tran Ke Dung, đảng viên Đảng Lao động Australia, Australia
230.    Đoàn Lâm Tất Linh, Kiên Giang
231.    Nguyễn Đức Việt, chuyên viên công nghệ thông tin, Sydney, Australia
232.    Khúc Thị Tình (Blog thơ Tiếng Sóng Biển), doanh nhân, CHLB Đức
233.    Vũ Thị Nhuận, TS/nội trợ, TP Cần Thơ
234.    Trần Ngọc Báu, hưu trí, Fribourg, Thuỵ Sĩ
235.    Phan Văn Tráng, kỹ sư xây dựng, TP HCM
236.    Cao Thiện Phước, kỹ sư, Pháp
237.    Trần Tuấn Dũng, hưu trí, Quebec, Canada
238.    Đào Duy Chữ, TS Khoa học tự nhiên, TP HCM
239.    Nguyễn Duy, TP HCM
240.    Lê Minh Hằng, TS, Hà Nội
241.    Lê Hữu Minh Tuấn, cử nhân Sử, Quảng Nam
242.    Nguyễn Trường Toản, Thanh tra Công trường Xây dựng, Houston, Hoa Kỳ
243.    Phạm Hữu Uyển, IT, CH Czech
244.    Trịnh Hồng Kỳ, cựu chiến binh, An Giang
245.    Nguyễn Quốc Vũ, IT, CH Czech
246.    Dang Ngoc Quang, nghề tự do, Hà Nội
247.    Dương Tùng, Bình Dương
248.    Nguyễn Anh Phú, biên tập viên, Hà Nội
249.    Nguyễn Văn Lịch, làm nghề tự do, TP HCM
250.    Phan Đắc Lữ, nhà thơ, TP HCM
251.    Nguyễn Văn Duyên, kỹ sư, Hà Nam
252.    Phạm Đưc Quý, chuyên viên nghỉ hưu, Hà Nội
253.    Le Hung Dung, kinh doanh, CH Czech
254.    Vũ Trung Đồng, kỹ sư, TP HCM
255.    Nguyễn Công Huân, biên tập viên trang Dân Luận, PGS Đại học Aaborg, Đan Mạch
256.    Vũ Mạnh Hùng, Warszawa, Ba Lan
257.    Hồ Trọng Đễ, kỹ sư cơ khí, TP HCM
258.    Nguyen Hong Duc, kỹ sư, Hà Nội 

Danh sách ký tên Đợt 3 

259.     Trần Đức Hào, cựu tù nhân, cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà, TP Đà Nẵng
260.     Trịnh Xuân Thuỷ, kinh doanh, TP HCM
261.     Đàm Quốc Khánh, kỹ sư Hàng hải, TP HCM
262.     Chu Trọng Thu, cựu giảng viên Đại học Sư phạm, cựu chiến binh, TP HCM
263.     Vũ Ngọc Thăng, dịch giả, Canada
264.     Nguyễn Minh Khanh, kỹ sư Tin học, Paris, Pháp
265.     Ngô Văn Hòa, thợ may, Hòa Vang, Đà Nẵng
266.     Nguyễn Văn Phúc, kỹ sư, Bình Định
267.     Nguyễn Đình Ấm, nhà báo, Hà Nội
268.     Lê Mạnh Quang, thạc sĩ, nguyên là giảng viên Đại học Tây Bắc
269.     Hoàng Quý Thân, PGS TS, Hà Nội
270.     Bùi Trần Đăng Khoa, luật sư, TP HCM
271.     Nguyễn Khánh Trung, TS, Pháp
272.     Phan Bích Hoàng Thu, kỹ sư, TP HCM
273.     Nguyễn Hồng Kiên, TS Sử học, Viện Khảo cổ học, Hà Nội
274.     Đinh Huyền Hương, nhà giáo, đã nghỉ hưu, TP HCM
275.     Nguyễn Ngọc Thạch, hưu trí, TP HCM
276.     Bùi Quang Thắng, thạc sĩ quản trị kinh doanh, Hà Nội
277.     Huỳnh Thục Vy, blogger bất đồng chính kiến, Quảng Nam
278.     Vũ Sỹ Hoàng, phóng viên tự do, blogger Hành Nhân
279.     Lưu Văn Minh, sinh viên, Hà Nội
280.     Nguyễn Ngọc Sẵng, TS giáo dục, tiểu bang Arizona, Hoa Kỳ
281.     Mai Nhật Đăng, học sinh, Tokyo, Nhật Bản
282.     Nguyễn Quốc Quân, TS Toán, cựu tù nhân lương tâm, California, Hoa Kỳ
283.     Đào Thanh Thủy, cán bộ hưu trí, Hà Nội
284.     Đặng Đình Cung, kỹ sư tư vấn, Pháp
285.     Phạm P Long, kỹ sư, Hoa Kỳ
286.     Tho Lê, nghỉ hưu, Victoria, Australia
287.     Hoàng Quốc Hùng, doanh nhân, Praha, CH Czech
288.     Quang Tran, IT, Hoa Kỳ
289.     Nguyen Quang Tuyen, nghệ sĩ thị giác, San Francisco, California, Hoa Kỳ
290.     Bùi Văn Phú, GS Đại học Cộng đồng California, nhà báo tự do
291.     Trương Lợi, kỹ sư, TP HCM
292.     Lý Đăng Thạnh, người chép sử, TP HCM
293.     Lê An Vi, cử nhân Luật, Hà Nội
294.     Lê Dũng, blogger, Hà Nội
295.     Trần Thị Thanh Tâm, nội trợ, Warzsawa, Ba Lan
296.     Trần Xuân Sơn, Hà Nội
297.     Nguyễn Khánh Hưng, thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA), Sacramento, California
298.     Châu Kỳ, Chemical Engineer, Hoa Kỳ
299.     Hồ Văn Tích, kỹ sư, TP HCM
300.     Dinh Khac Luong, kỹ sư cơ khí, Hà Nội
301.     Nguyễn Phúc Thọ, kỹ sư Tin học, Colombes, Pháp
302.     Nguyễn Hồng Phi, họa sĩ, Bangkok, Thái Lan
303.     Lê Văn Sinh, MBA, Vương Quốc Anh
304.     Đỗ Minh Tuấn, nhà thơ, đạo diễn, Hà Nội
305.     Phạm Thanh Lâm, kỹ sư điện tử, Copenhagen, Đan Mạch
306.     Phạm Văn Điệp, Chủ nhiệm Câu lạc bộ những người Việt mong muốn Việt Nam hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ, Liên Bang Nga
307.     Âu Dương Thệ, TS, Hiệp hội Dân chủ và Phát triển Việt Nam, Dortmund, Đức
308.     Ngô Trừng Bình, An Giang
309.     Nhâm Thiếu Bảo, kỹ sư cơ khí, Hà Nội
310.     Vũ Tiến Nga, kỹ sư cơ khí, TP HCM
311.     Nguyễn Trung Luân, Trưởng phòng, Sở Công Thương TP HCM
312.     Ngọc Nam Phương, Cao Bằng
313.     Châu Xuân Nguyễn, blogger, kỹ sư cơ khí, Melbourne, Australia
314.     Phan Như Hiển, Núi Thành, Quảng Nam
315.     Đỗ Đăng Liêu, Australia
316.     Châu Kỳ, Engineer, Los Angeles, Hoa Kỳ
317.     Huỳnh Bảo Đức, TP HCM
318.     Nguyễn Văn Hưng, nghề tự do, cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà, California, Hoa Kỳ
319.     Cao Tan-Lôc, Paris, Pháp
320.     Pham Van Thanh, Hoa Kỳ
321.     Nguyễn Thành Chiến, nghiên cứu sinh, Zweibrueken, CHLB Đức
322.     Huỳnh Công Thuận, blogger, TP HCM
323.     Đỗ Hữu Tuyến, học sinh, Vũ Thư, Thái Bình
324.     Nguyễn Quốc Hưng, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn, hiện làm việc tại Roma, Italia
325.     Mike Nguyễn, Engineering Manager, Michigan, Hoa Kỳ
326.     Phạm Kỳ Đăng, làm thơ, dịch thuật, hành nghề tự do, Berlin, CHLB Đức
327.     Trần Công Thắng, bác sĩ, Kristiansand, Na Uy
328.     Đỗ Như Phương, kỹ sư, nguyên đảng viên Đảng Cộng sản, Hungary
329.     Quan Vinh, chuyên viên tin học, Rome, Italia
330.     Vũ Tuấn, TS điện tử, CHLB Đức
331.     Bùi Tín, nhà báo tự do, Pháp
332.     Nguyễn Trọng Hoàng, bác sĩ y khoa, Paris, Pháp
333.     Trần Trung Sơn, TS, giảng viên trường Sĩ quan Không quân
334.     Nguyễn Xuân Thọ, kỹ sư điện tử, CHLB Đức
335.     Nguyễn Văn Hóa, Insurance Broker (California State), San Jose, California, Hoa Kỳ
336.     Tran Mai Sinh, CHLB Đức
337.     Le Thanh Hong, CPA, Melbourne, Australia
338.     Lê Đặng Thụy, Na Uy
339.     Hoàng Lan, nguyên giảng viên Đại học Sư phạm TP HCM, TP HCM
340.     Lê Cường, Graphic Designer, Hoa Kỳ
341.     Đại Nghĩa, cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, Hoa Kỳ
342.     Nguyễn Văn Cung, nhạc sĩ, thượng tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hà Nội
343.     Trần Đức Thạch, nhà thơ, Nghệ An
344.     Nguyễn Lân Thắng, kỹ sư xây dựng, Hà Nội
345.     Phan Văn Song, nguyên Quyền Hiệu trưởng trường THPT Chuyên Bến Tre, Australia
346.     Hoàng Minh Giám, linh mục, Nam Định
347.     Vũ Minh Trí, kĩ sư cơ khí, Cầu Giấy, Hà Nội
348.     Tung Nguyen, Oklahoma City, Oklahoma, Hoa Kỳ
349.     Ngô Đức Đoàn, kế toán, TP Bà Rịa, Bà Rịa-Vũng Tàu
350.     Trần Đức Cung, TS, hưu trí, TP HCM
351.     Nghiệp Nguyễn Duy, doanh nhân, Thừa Thiên Huế
352.     Đinh Tấn Lực, blogger, BKK/VTE/PNH/KUL/MNL - SouthEast Asia
353.     Le Xuan Quang, cựu chiến binh, TP HCM
354.     Nguyễn Văn Sang, nông dân, Bắc Giang
355.     Ngô Đức Thọ, PGS TS Ngữ văn, nghỉ hưu, Hà Nội
356.     Đào Công Tiến, nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, TP HCM
357.     Trần Thọ Hưng, kỹ sư cầu đường, TP HCM
358.     Nguyễn Minh Mẫn, kỹ sư Hoá học, Misissauga, Ontario, Canada
359.     Vũ Thị Phương Anh, PhD, giảng viên, nghiên cứu giáo dục, TP HCM  
360.     Lê Văn, TS Vật lý, TP HCM
361.     Nguyễn Anh Tuấn, GS TS, Hà Nội
362.     Nguyễn Hữu Tế, TP HCM
363.     Bùi Quang Lộc, giáo viên, TP HCM
364.     Dương Sanh, cựu giáo viên, Khánh Hòa
365.     Nguyễn Ánh Tuyết, cán bộ viễn thông, Hà Nội
366.     Phi Vũ, công nhân, blogger, California, Hoa Kỳ
367.     Nguyễn Phương Chi, nguyên biên tập viên chính Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Viện Văn học (đã nghỉ hưu), Hà Nội
368.     Nhật Tuấn, nhà văn, TP HCM
369.     Vũ Hải Long, TSKH, cán bộ Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, đã nghỉ hưu, TP HCM  
370.     Trần Quốc Hùng, cựu giáo viên, TP HCM
371.     Nguyễn Steve, ngành IT, Sydney, Australia
372.     Dao Kim Son, kinh doanh tự do, TP HCM
373.     Phan Lê Tuấn, TP HCM
374.     Phạm Kỳ Thụy, kỹ sư xây dựng, Cầu Giấy, Hà Nội
375.     Lê Ngọc Xuân, TP HCM


Danh sách ký tên Đợt 4

376.    Nguyễn Trần Dũng, công ty cổ phần, Hà Nội
377.    Đoàn Thanh Liêm, Costa Mesa, California, Hoa Kỳ
378.    Đào Thu Huệ, giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
379.    Lê Hà, công nhân, Nuremberg, CHLB Đức
380.    Tony Bùi, Pháp
381.    Trương Văn Lợi, nghị viên Hội đồng thành phố Dandenong, tiểu bang Victoria, Australia
382.    Nguyễn Ngọc Sơn, kinh doanh, cựu chiến binh, TP HCM
383.    Nguyễn An Liên, công nhân, TP Đà Nẵng
384.    Lê Tân, blogger, TP HCM
385.    Ngô Thị Hồng Lâm, nhân viên nghiên cứu lịch sử Đảng, đã nghỉ hưu, TP Vũng Tàu
386.    Đinh Thái Trung, Giám đốc Trung tâm Khai Trí (trường tư thục Việt- Mỹ), Houston,Texas, Hoa Kỳ
387.    Trần Đình Thắng, cựu giảng viên, TP HCM
388.    Nguyên Ân, nhà báo / nhà thơ, California, Hoa Kỳ
389.    Nguyễn Đức Giang, cựu chiến binh, Hà Nội
390.    Nguyễn Tường Tâm, luật gia, San Jose, Hoa Kỳ
391.    Trần Tư Bình, giáo chức, Sydney, Australia
392.    Nguyễn Văn Cường, kỹ sư xây dựng cầu đường, Hải Dương
393.    Lê Văn Tuynh, blogger, Phan Thiết
394.    Phạm Tư Thanh Thiện, nguyên Phó Trưởng ban Việt ngữ Đài RFI, Pháp
395.    Dương Văn Nam, công nhân viễn thông, Nam Định
396.    Nguyễn Thanh Bình, Sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam, Hà Nội
397.    Dương Hồng Lam, nguyên cán bộ Ban Tuyên huấn miền Nam, hưu trí, TP HCM
398.    Rick Phan, kỹ sư, Canada
399.    Nguyễn Đức Phổ, nông dân, Lâm Đồng
400.    Nguyễn Thanh Xuân, công nghệ thông tin, TP HCM
401.    Nguyễn Minh Nhựt, programer & designer, TP HCM
402.    Trịnh Lê Thanh, kỹ sư vô tuyến điện, quận Lê Chân, Hải Phòng
403.    Phùng Hoài Ngọc, thạc sĩ, cựu giảng viên đại học, An Giang
404.    Lê Hồng Quang, kinh doanh, TP HCM
405.    Lê Văn Oanh, kỹ sư, Hà Nội
406.    Phạm Thị Lâm, cán bộ hưu trí, Hà Nội
407.    Ngô Điều, sĩ quan nghỉ hưu, đảng viên lớp 6-1-1960, Hà Nội
408.    Lê Anh Dũng, lao động tự do, Hải Phòng
409.    Lương Văn Liệt, nguyên là cán bộ lực lượng Thanh niên Xung phong, cán bộ Chi cục Thuế TP HCM
410.    Nguyễn Thành Nhân, kỹ sư, TP HCM
411.    Nguyễn Đăng Lập, kỹ sư kinh tế, TP Bà Rịa, Bà Rịa-Vũng Tàu
412.    Lương Đỗ Long, công nhân, Mỹ Đình, Hà Nội
413.    Trần Phúc Thông, cựu chiến binh Việt-Campuchia-Lào, Hà Nội
414.    Huỳnh Trung Hiếu, xã Phước Hưng, huyện Trà Cú, Trà Vinh
415.    Bùi Kim Nhung, hưu trí, TP HCM
416.    Phan văn Phong, kinh doanh tự do, Hoàn Kiếm, Hà Nội
417.    Phạm Xuân Hưng, trình dược viên, Hà Nội
418.    Nguyễn Minh Khang, nhân viên vi tính, TP HCM
419.    Nguyễn Ngọc Hoài Ân, kỹ sư tin học, TP HCM
420.    Lê Xuân Diệu, cử nhân Kinh tế, kinh doanh tự do, Đắk Lắk
421.    Lưu Quý Định, kỹ sư, Munich, CHLB Đức
422.    Trương Vĩnh Phúc, cử nhân, cựu chiến binh, Hà Nội
423.    Bùi Thanh Thám, kế toán, TP HCM
424.    Xà Quế Châu, đầu bếp, TP HCM
425.    Trần Quang Thành, nhà báo, cựu phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Slovakia
426.    Phạm Văn Giang, hướng dẫn viên du lịch, Hà Nội
427.    Trần Văn Khoản, nguyên cựu chiến binh, nguyên đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (vào Đảng năm 1974, từ bỏ năm 1989), nghề tự do, TP Vũng Tàu
428.    Trần Văn Terry, công nhân, Irvine CA, Hoa Kỳ
429.    Hoang Dinh, System Engineer, Odense, Đan Mạch
430.    Nguyen Van Trien, San Diego, California, Hoa Kỳ
431.    Nguyễn Hoành Hùng, kỹ sư, Vũng Tàu
432.    Hà Nguyễn, Đà Lạt, Lâm Đồng
433.    Trọng Nghĩa, kỹ sư máy tàu biển, Hải Phòng
434.    Nguyễn Quốc Lân, giáo viên, nghỉ hưu
435.    Nguyễn Hữu Trường, công dân tự do, Bình Dương
436.    Nguyễn Anh Tuấn, kiến trúc sư, Hà Nội
437.    Trần Ngọc Sơn, kỹ sư, Pháp
438.    Nguyễn Thanh Hằng, dược sĩ, Pháp
439.    Võ Quang Luân, hưu trí, Hà Nội
440.    Hoàng Lê Nam, kỹ sư Tin học, Hà Nội
441.    Bui Quang Trung, kỹ sư xây dựng, Pháp
442.    Nguyễn Kiến Phước, nhà báo, TP HCM
443.    Hoàng Mười, cán bộ nghỉ hưu, Cầu Giấy, Hà Nội
444.    Trần Văn Vinh, cử nhân luật, hướng dẫn du lịch, Hà Nội
445.    Dao Quang Huy, doanh nhân, Praha, CH Czech
446.    Khoa Nguyễn, COS, Virginia, Hoa Kỳ
447.    Lanney Trần, Phụ tá Pháp lý/Giáo dục, California, Hoa Kỳ
448.    Mai Văn Tuất, tức Facebooker Văn Ngọc Trà, kỹ sư, TP HCM
449.    Trần Văn Tuyến, sinh viên, TP HCM
450.    Nguyễn Sĩ Đáng, kiến trúc sư, Australia
451.    Nguyễn Thị Tuyết Thanh, nhân viên phụ trách nhà cửa, London, Anh Quốc
452.    Vũ Văn Thịnh, bác sĩ, đã nghỉ hưu, Thái Nguyên
453.    Đặng Vũ Giang, TS, cán bộ nghiên cứu, Hà Nội
454.    Hồng Sa Ngạn, giáo viên, Lai Châu
455.    Nguyễn Trung Tôn, mục sư, Quảng Xương, Thanh Hóa
456.    Nguyen Anh Tam, kỹ sư công trình, giám đốc công trình chuyên ngành về tự động hoá, Canada
457.    Dương Văn Vinh, nguyên sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, TP HCM
458.    Võ Thanh Hà, giáo viên, Hà Nội
459.    Đặng Nguyễn Hoài Mơ, TP HCM
460.    Nguyễn Phương Quân, Xây dựng - Nội thất, Hà Nội
461.    Lương Đình Cường, Tổng Biên tập Báo điện tử NguoiViet
462.    Peter Nguyen Duc Hung, nhân viên bưu điện, Oslo, Na Uy
463.    Nguyễn Zion, hưu trí, Philadelphia, Hoa Kỳ
464.    Nguyễn Văn Nghiêm, lao động tự do, TP Hòa Bình, Hòa Bình
465.    Phạm Thông, nghề tự do, Hà Nội
466.    Nguyễn Kim Huân, kỹ sư xây dựng, Hà Nội
467.    Nguyễn Duy Hải, giáo viên, Long An
468.    Phan Đức Vinh, vi tính, Sydney, Australia
469.    Nguyễn Mê Linh, TS, TP HCM
470.    Lê Khánh Hùng, TS công nghệ thông tin, Hà Nội
471.    Đặng Trường Lưu, hoạ sĩ, nhà phê bình Mỹ thuật, Hà Nội
472.    Trần Quốc Túy, kỹ sư Hóa, hưu trí, Hà Nội
473.    Bùi Chí Tâm, nghề tự do, Quảng Ngãi
474.    Võ Văn Rân, hưu trí, Hoa Kỳ
475.    Thùy Linh, nhà văn, Hà Nội
476.    Đông Xuyến, Dr. Tâm lý Trị liệu, California, Hoa Kỳ
477.    Hà Văn Thịnh, nhà giáo, Huế
478.    Phạm Trung Kiên, thạc sĩ sử học, dạy học, Hà Nội
479.    Trần Nhật Phương, công nhân, Nghệ An
480.    Lê Thanh Quang, nguyên là cơ sở cách mạng Biệt Động Thành Đà Nẵng 1973 – 1975, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia 1977 – 1981, làm nông, Đà Nẵng
481.    Nguyễn Trọng Quyết, luật sư, Hải Dương
482.    Bùi Như Giang, sinh viên y khoa, TP HCM
483.    Ngô Thanh Nhã, Canada
484.    Nguyễn Thành Trung, công nhân, Bình Dương
485.    Nguyễn Mạnh Hùng, nhà giáo, cựu chiến binh, TP HCM
486.    Ngô Văn Hiếu, nguyên Tổng Thư ký Ủy ban Đòi Nhân quyền cho Việt Nam, nguyên Tổng Thư ký Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, Hoa Kỳ
487.    Tô Hoà, nhà báo, nguyên Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
488.    Nguyễn Công Minh, linh mục, TP HCM
489.    Phero Nguyễn Văn Khải, linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, Hà Nội
490.    Huỳnh Minh Tú, kinh doanh tự do, blogger, Berlin, CHLB Đức
491.    Vũ Ngọc Tuyến, sĩ quan quân đội nghỉ hưu, Hà Nội
492.    Nguyễn Quang Huy đã nghỉ hưu, Bắc Ninh
493.    Nguyễn Huy Hoàng, kinh doanh, Hà Nội
494.    Andy Vu, công nhân, Sydney, Australia
495.    Nguyễn Việt Bách (bút danh Phan Thành Đạt), hướng dẫn viên du lịch, luật gia, Pháp
496.    Phạm Minh Hoàng, nguyên giảng viên Đại học Bách Khoa TP HCM
497.    Ngô Văn Phương, nguyên Đại biểu Hội đồng Nhân dân TP HCM, TP HCM

Danh sách ký tên Đợt 5
498. Nguyễn Trung Dân, nhà báo, Giám đốc Chi nhánh Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn, TP HCM
499. Nguyễn Trọng Tạo, nhà thơ - nhạc sĩ - nhà báo, Hà Nội
500. Huy Trần, Đại học Viên, Áo
501. Hoàng Xuân Sơn, luật sư, TP HCM
502. Võ Đăng Khoa, thạc sĩ công nghệ thông tin, Houston, Texas, Hoa Kỳ
503. Nguyễn Mạnh Cường, kinh doanh, CH Czech
504. Đạt Nguyễn, PhD, Virginia Commonwealth University, Hoa Kỳ
505. Phạm Duy Lương (Trí Dân), Aš, CH Czech
506. Nguyễn Nguyên Khôi, Perth, Australia
507. Vũ Đức Khanh, luật sư, Ottawa, Canada
508. Nguyễn Tiến Dũng, cử nhân công nghệ thông tin, trung tá Bộ đội Biên phòng, đã nghỉ hưu, Thanh Hoá
509. Trần Văn Tiến, kinh doanh, CH Czech
510. Nguyễn Ánh Tuyết, cử nhân kinh tế, London, Vương quốc Anh
511. Nguyễn Quế Hương, kiến trúc sư, HCM
512. Trần Văn Thiện, kỹ sư, Hà Nội
513. Nguyễn Hồng Quân, kỹ sư kết cấu, Hoa Kỳ
514. Toàn Khanh Hoàng, kỹ sư tin học, Frankfurt, CHLB Đức
515. Nguyen Dinh Thang, TS, kỹ sư cơ khí, Tổng Giám đốc, Hoa Kỳ
516. Ngô Trí, đã về hưu, Port Coquitlam, Canada
517. Ngo Bao Vinh, kỹ sư xây dựng, Australia
518. Hoàng Đức Vương, kỹ sư, TP HCM
519. Lê Quang, thạc sĩ giáo dục, Hà Nội
520. Đặng Lâm, nhân viên xã hội, Vancouver, Canada
521. Nguyễn Ái Chi, nguyên cán bộ phòng Tuyên huấn trường Đại học Thương Mại, TP HCM
522. Hoang Tam Tam, kỹ sư, nghề tự do, Australia
523. Lê Hồng Phong, cử nhân kinh tế, Hà Nội
524. Huỳnh Thị Thu, kế toán, FDI, Trảng Bom, Đồng Nai
525. Đỗ Thái Bình, kỹ sư đóng tàu, TP HCM
526. Đức Long, TS, bác sĩ, TP HCM
527. Đoàn Văn Cánh, nguyên giảng viên cao cấp trường đại học, Hà Nội
528. Đỗ Đình Oai, giáo viên Toán, Quảng Ngãi
529. Nguyễn Thanh Cường, kinh doanh, TP HCM
530. Pham Nguyen, kỹ sư tin học, Washington DC, Hoa Kỳ
531. Ta Thanh, công nhân, Hoa Kỳ
532. Phan Tấn Hải, nhà văn, Hoa Kỳ
533. Phung Thi Ly, cử nhân, TP HCM
534. Lê Bách Phong, kinh doanh, Bà Rịa-Vũng Tàu
535. Bùi Kiến Quốc, kiến trúc sư, thạc sĩ khoa học về Đô thị học, doanh nhân, Hà Nội
536. Dương N Ánh, kỹ sư dầu khí, chuyên viên dầu cát & khí đá, Houston, Hoa Kỳ
537. Đinh Quang Minh, cử nhân kinh tế, Hà Nội
538. Hàn Quang Vinh, kỹ sư tin học, Hà Nội
539. Trần Ngọc Thạch, cán bộ lâm nghiệp, Bình Định
540. Vũ Duy Thắng, kinh doanh tự do, Đông Anh, Hà Nội
541. Khổng Hy Thiêm, kỹ sư điện, Khánh Hòa
542. Nguyễn Quốc Minh, nhà thơ, Hà Nội
543. Ngô Đình Thục, nghỉ hưu, Hoa Kỳ
544. Nguyễn Đức Tùng, M.D., Vancouver, Canada
545. Bùi Việt Hà, Công ty Công nghệ Tin học Nhà trường, Hà Nội
546. Vũ Trí Đức, nghề tự do, Hà Nội
547. Vũ Bất Khuất, người làm thơ, TP Rạch Giá
548. Mai Sơn, viết văn, dịch thuật, TP HCM
549. Lê T Hong Hạnh, hưu trí, Hà Nội
550. Trần Thanh Trác, giảng viên, TP HCM
551. Nguyễn Vi Khải, TS, Hà Nội
552. Trần Tuấn Lộc, cử nhân Kinh tế, cử nhân Luật, TP HCM
553. Nguyễn Thị May, giáo viên, Điện Biên
554. Lê Mạnh Đức, kỹ sư hưu trí TP HCM
555. Nguyễn Hữu Giải, linh mục Công giáo, Tổng Giáo phận Huế
556. Phan Văn Lợi, linh mục Công giáo, Giáo phận Bắc Ninh
557. Trần Nam, sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã nghỉ hưu, Lâm Đồng
558. Nguyễn Văn Trường, kinh doanh, Đồng Nai
559. Lê Đăng Dung, kỹ sư thủy lợi, Hà Nội
560. Nguyễn Bá Toàn, kỹ sư, đã nghỉ hưu
561. Cao Vi Hiển, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Kon Tum
562. Hoàng Đức Doanh, nghỉ hưu, Hà Nam
563. Hoàng Cao Nhân, kỹ sư tin học, TP HCM
564. Nguyen Huu Hiep, tài xế, TP HCM
565. Nguyễn Hoàng Long, bác sĩ, cựu tù nhân chính trị, Đà Nẵng
566. Chu Quốc Khánh, kỹ sư điện tử, cử nhân kinh tế, Hà Nội
567. Nguyễn Văn Chinh, kỹ sư cơ khí, Hà Nội
568. Đặng Phương Bắc, nhà giáo, Thái Bình
569. Nguyễn Thị Xuân Phượng, nhà hoạt động văn hóa, TP HCM
570. Nguyễn Việt, doanh nhân, Vương quốc Anh
571. Phạm Hồng Thanh, cử nhân, Hà Nội
572. Lê Thăng Long, doanh nhân, kỹ sư viễn thông, cựu tù nhân lương tâm, TP HCM
573. Lại Đức Hưng Quốc, TS, Maryland, Hoa Kỳ
574. Nguyễn Hồng Việt, Giám đốc doanh nghiệp, TP HCM
575. Vũ Văn Hiền, viên chức, Hà Nội
576. Hoàng Ngọc Cầm, TSKH, Hà Nội
577. Trần Quang Ngọc, kỹ sư điện, đã nghỉ hưu, Stuttgart, CHLB Đức
578. Phạm Minh Đức, bỏ việc, Quảng Ngãi
579. Nguyễn Chí Cường, thông dịch viên Việt Nhật, Kanagawa, Nhật Bản
580. Hoàng Quang Thái, chuyên viên điện toán hồi hưu, Hannover, CHLB Đức
581. Nguyễn Thạch Cương, TS nông nghiệp, Hà Tây
582. Nguyen Thien Công, kỹ sư cơ khí, buôn bán, hãng Mercedes, Werk Duesseldorf, CHLB Đức
583. Hoàng Nguyên, kỹ sư xây dựng, Quảng Ngãi
584. Nguyễn Kim Quang, cựu giáo viên, TP Cần Thơ
585. Vũ Thi Bích, hưu trí, Paris, Pháp
586. Nguyễn Đức Toàn, thạc sĩ kỹ thuật môi trường, TP HCM
587. Nguyễn Tiến Dũng, kinh doanh, TP Vinh
588. Trương Thế Kỷ, kỹ sư, CHLB Đức
589. Trần Đình Phan Tiến, thường dân, TP HCM
590. Ngô Thái Văn, kỹ sư, Missouri, Hoa Kỳ
591. Nguyễn Khuê Tú, sinh viên, Vancouver, Canada
592. Nguyễn Đức Nhuận, hưu trí, GS TSKH, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển SEDET CNRS/Université Paris 7, Pháp
593. Trương Minh Tịnh, Giám đốc Công ty Tithaco PTY LTD, Australia
594. Tuyet Ha, California, Hoa Kỳ
595. Minh Trinh Nguyen, cựu chiến binh, nguyên nghiên cứu viên Viện Mác-Lênin Hà Nội, Koblenz, CHLB Đức
596. Thi Bich Hang Nguyen, nội trợ, Koblenz, CHLB Đức
597. Phan Dang Khoi, LLB, J. D. Westminster, California, Hoa Kỳ
598. Nguyễn Văn Thân, kỹ sư điện toán, thành viên của "Tuyên bố của các Công dân Tự do", California, Hoa Kỳ
599. Vũ Thế Dũng, nhà văn, nhà thơ, Giám đốc NXB VIPEN, Berlin, CHLB Đức
600. Đào Tấn Anh Trúc, thợ điện, Pháp
601. Phạm Cường, đạo diễn, CHLB Đức
602. Hùng C Nguyễn, khoa học gia, Sydney, Australia
603. Lương Văn Điền, Graphic Designer, TP Huế
604. Lê Văn Hưng, kỹ sư lâm nghiệp, Đắk Lắk
605. Ky Dinh Pham, cựu thẩm phán Việt Nam Cộng Hoà, Australia
606. Lê Hữu Chính, tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, Toronto, Canada
607. Vũ Công Giao, giảng viên đại học, Hà Nội
608. Mai Tiến Dũng, doanh nhân, T PHCM
609. Nguyễn Huy Tưởng, luật sư, Bình Dương
610. Lê Vĩnh Trương, nghề nghiệp vận tải tổng hợp, TP HCM
611. Bùi Đình Sệnh, công dân Việt Nam, Từ Liêm, Hà Nội
612. Trần Văn Lương, nghề tự do, Chương Mỹ, Hà Nội
613. Đỗ Quang Tuyến, kỹ sư, Seattle, Washington, Hoa Kỳ
614. Nguyễn Tấn Thành, doanh nhân, Nha Trang
615. Randy Vu, Los Angeles, Hoa Kỳ
616. Ken Nguyễn, thầu khoán (contractor), San Jose, California, Hoa Kỳ
617. Nguyễn Long Giang, kỹ sư đô thị, TP Vinh, Nghệ An
618. Phan Văn Thanh, đã nghỉ hưu, Hà Nội
619. Hồ Sỹ Lâm, kỹ sư xây dựng, Nghệ An
620. Phung Truong, cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, Hoa Kỳ
621. Nguyễn Thanh Nga, MBA, Hà Nội
622. Lê Hà Phú, kỹ sư lâm nghiệp, Hà Đông, Hà Nội
623. Nguyễn Dương, công nhân, Orlando, Florida, Hoa Kỳ 
Danh sách ký tên Đợt 6 

624. Trần Khánh, Hà Nội
625. Vũ Hồng Khánh, MBA, TP HCM
626. Nguyen Ngoc Diep, cán bộ hưu trí, Hà Nội
627. Đào Tuấn Anh, kỹ sư cơ khí, Hải Phòng
628. Trần Hải, kỹ sư xây dựng, TP HCM
629. Lê Văn Ngọc, nghề tự do, Hoa Kỳ
630. Nguyễn Xuân Hoài, phiên dịch, hưu trí, TP HCM
631. Le Trung Ha, cựu chiến binh, Nuremberg, CHLB Đức
632. Nguyễn Thanh Ngọc, phóng viên, TP HCM
633. Nguyễn Thị Hà, doanh nhân, TP HCM
634. Nguyễn Anh Quốc, sinh viên, TP HCM
635. Ngọc Sơn, cựu chiến binh, Sơn Tây, Hà Nội
636. Ngô Khiết, công dân tự do, TP HCM
637. Trần Hoàng Lương, kỹ sư, Đồng Nai
638. Le Dinh Hong, kế toán, đã hưu trí, Canada
639. Le Thi Nhan, nội trợ, Canada
640. Nghiêm Ngọc Trai, kỹ sư xây dựng, hưu trí, Hà Nội
641. Lê Văn Oánh, kỹ sư xây dựng, Hà Nội
642. David Thiên Ngọc, blogger, nhà báo Người Việt Hải ngoại, IL, Hoa Kỳ
643. Nguyễn Huy Văn, kỹ sư điện tử, TP HCM
644. Võ Thị Mỹ Linh, thành viên của “Tuyên bố của các Công dân Tự do”, Hoa Kỳ
645. Tran Thanh Duc, TS Luật, Hoa Kỳ
646. Phùng Hữu Thanh, cử nhân kinh tế, Hà Nội
647. Huỳnh Thái Học, kỹ sư, Khánh Hòa
648. Nguyễn Bình Khánh, nhà báo Tự Do, TP HCM
649. Kim Tinh, nhà báo hưu trí, Mỹ Tho, Tiền Giang
650. Mai Thanh Hung, làm nghề kỹ thuật auto + dự án, Paris, Pháp
651. Vinh Anh, cựu chiến binh, Hà Nội
652. Nguyen Thinh Le, lecturer, researcher, CHLB Đức
653. Bùi Kế Nhãn, nghề tự do, Vũng Tàu
654. Nguyễn Thu Nguyệt, giáo viên hưu trí, TP HCM
655. Dang Tran Hung, bác sĩ, Hà Nội
656. Đàm Minh, cựu chiến binh, Hải Phòng
657. Võ Hưng Thanh, nhà nghiên cứu, nhà thơ, luật sư, TS triết học, TP HCM
658. Le Van Phuc, hưu trí, Hà Nội
659. Văn Hoàng, kinh doanh, Hà Nội
660. Ngô Thanh Tuấn, thiết kế đồ họa, Bình Dương
661. Hoàng Mạnh, kỹ sư xây dựng, Hà Nội
662. Nguyễn Văn Hòa, kỹ sư điện, CHLB Đức
663. Nguyễn Công Đức, kỹ sư điện tử, Hoa Kỳ
664. Nguyễn An Nam, kỹ sư máy tính, TP HCM
665. Nguyễn Văn Nghiêm, nguyên giảng viên Đại học Giao thông Vận tải, Hà Nội
666. Ngô Tấn Mẫn, nông dân, Quảng Nam
667. Nguyen Dinh, cử nhân Luật Đại học Sài Gòn, Hoa Kỳ
668. Lê Kim Song, TS, Đại học Murdoch, Australia
669. Ha Vinh, doanh nhân, Bắc Giang
670. Trần Đình Bé, kỹ sư, Quảng Ngãi
671. Trần Mạnh Hưng, giảng viên hưu trí, TP HCM
672. Bùi Tường Anh, nguyên cán bộ vụ thẩm định Bộ Kế hoạch & Đầu tư, đã về hưu, Hà Nội
673. Nguyễn Thị Dương Hà, luật sư, Trưởng Văn phòng Luật sư Cù Huy Hà Vũ, Hà Nội
674. Nguyễn Quốc Hưng, làm trong ngành xuất bản và in ấn, TP HCM
675. Nguyen Thị Huong, cán bộ nghiên cứu Xã hội học, đã nghỉ hưu, Hà Nội
676. Hong Nguyen, làm việc cho University of Florida, Hoa Kỳ
677. Vũ Quang Thông, công nhân, Đồng Nai
678. Duong Toi, kinh doanh, Hoa Kỳ
679. Francis Doan, TS nghiên cứu khoa học, Paris, Pháp
680. Lisa Doan, kỹ sư sản xuất dược phẩm, Paris, Pháp
681. Sarah Doan, học sinh, Paris, Pháp
682. Ambre Doan, sinh viên, Paris, Pháp
683. Jade Doan, sinh viên, Paris, Pháp
684. Delphine Doan, sinh viên, Paris, Pháp
685. Ta Son Nam, technician, Hoa Kỳ
686. Trần Thạch Linh, họa sĩ, Hà Nội
687. Đỗ Thế Kỷ, luật sư, Oslo, Na Uy
688. Veronica Đỗ Thùy Vân, giảng sư đại học Luật tại Singapore (SMU), Singapore
689. Nguyễn Hải Ninh, cử nhân Luật, Hà Nội
690. Dat Nguyen, engineer, San Jose, California, Hoa Kỳ
691. Nguyễn Ngọc Sơn, nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chí Đại học & Giáo dục chuyên nghiệp, Phó Tổng biên tập Tạp chí Thế giới trong ta, Hà Nội
692. Đặng Cứu Quốc, thạc sĩ khoa học, TP HCM
693. Quang Nguyen, giáo viên Trung học, Hoa Kỳ
694. Trần Văn Hà, tư vấn pháp luật, Hà Nội
695. Trần Khang Thụy, Đại học Kinh tế, TP HCM
696. Le Van Hiep, kỹ sư cơ khí, Kobe, Hyougo, Nhật Bản
697. Pham Dong, kỹ sư, Canada
698. Nguyen Kim Lanh, kinh doanh tự do, TP HCM
699. Hoàng Đức, phóng viên, Quảng Trị
700. Nguyễn Văn Đức, nghỉ hưu, TPHCM
701. Ngô Minh, nhà thơ, nhà báo, Huế
702. Trịnh Xuân Hùng, viên chức, Thanh Hóa
703. Hồ Văn Nhãn, nhà giáo hưu trí, TP HCM
704. Nguyễn Hữu Lộc, công nhân, TP HCM
705. Đỗ Anh Pháo, cử nhân kinh tế, đã nghỉ hưu, Hà Nội
706. Nguyễn Công Thanh, công nhân, đã nghỉ hưu, quận 10, TP HCM
707. Hoàng Minh Tuấn, kỹ sư cơ điện, cựu chiến binh, TP HCM
708. Trần Kim Trung, kỹ sư, TP HCM
709. Trần Trung Kiên, kỹ sư tin học, TP HCM
710. Lê Anh Tuấn, kinh doanh vận tải, Hải Phòng
711. Lê Văn Huê, cựu chiến binh, Tuyên Quang
712. Đặng Văn Lượng, nhân viên IT, Nam Định
713. Vũ Đình Quyền, thạc sĩ kinh tế, Hà Nội
714. Vũ Hùng Tân, kỹ sư động lực, Hà Nội
715. Lê Thành, TS nghiên cứu khoa học, Ohio State University, Hoa Kỳ
716. Tran Van Minh, nghỉ hưu, TP Đà Nẵng
717. Chu Việt Hùng, kỹ sư, Hà Nội
718. Hà Thủy Nguyên, nhà văn/biên kịch tự do, Hà Nội
719. Nguyễn Thị Phương Hoa, cử nhân vật lý, nhà giáo tự do, Gò Vấp, TP HCM
720. Đặng Chu Sơn, kỹ sư, TP HCM
721. Pham Gia Khanh, cán bộ hưu trí, TP HCM
722. Lê Trung Hiếu, công nhân, Đà Nẵng
723. Phan Bình Lâm, thạc sĩ công nghệ thông tin, Bà Rịa-Vũng Tàu
724. Vũ Sinh Hiên, nhà nghiên cứu, Tp, HCM,
725. Phạm Văn Hội, TS, giảng viên, Hà Nội
726. Đặng Minh Sơn, công nhân tự do, TP HCM
727. Le Phong, giáo viên Phổ thông trung học, đã nghỉ hưu, Lạng Sơn
728. Phạm Thanh Cao, sinh viên, TP HCM
729. Nguyễn Văn Toán, kỹ sư xây dựng, Quận 9, TP HCM
730. Nguyễn Thị Can, nông dân, Đồng Nai
731. Lê Hiền Đức, công dân chống tham nhũng, Đống Đa, Hà Nội
732. Hoàng Hồng Minh, viết báo, Pháp
733. Trương Chí Tâm, cử nhân, TP HCM
734. Truong Dang, kỹ sư, TP HCM
735. Nguyễn Chí Trung, sĩ quan an ninh an toàn hàng hải, Hải Phòng
736. Trịnh Duy, hỗ trợ viên kỹ thuật, Philippines
737. Đình Vượng, biên dịch sách báo, TP HCM
738. Phạm Quang Hòa, TS khoa học về Xã hội học, Hà Nội
739. Phạm Văn Lễ, kỹ sư cầu đường, TP HCM
740. Lê Hồng Quang, cựu sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, TP HCM
741. Nguyen Huu Nhien, kỹ sư điện - điện tử, TP HCM
742. Nguyễn Phúc Thành, dịch giả, TP HCM
743. Nguyễn Tiến Đạt, nhân viên phát triển cộng đồng, Hà Nội
744. Nguyễn Hải Hòa, tu nghiệp sinh, Nhật Bản
745. Nguyễn Duy Trường, thạc sĩ, Hà Nội
746. Lê Văn Điền, TS toán tối ưu, Ba Lan
747. Trần Xuân Quang, kinh doanh, TP Vinh, Nghệ An
748. Nguyen Hai Long, công nhân về hưu, CHLB Đức


Danh sách ký tên Đợt 7

749.    Harry Nguyen, hành nghề luật, Vương Quốc Anh
750.    Trịnh Đắc Tạo, cựu chiến binh, đã hưu trí, Hà Nội
751.    Lê Thanh Tùng, cử nhân Kinh tế, quận 9, TP HCM
752.    Van Dong, giáo viên cấp 3, Vương quốc Anh
753.    Đỗ Quang Vinh, nguyên giảng viên đại học, Hà Nội
754.    Phạm Chi Mai, nguyên giảng viên đại học, Hà Nội
755.    Nguyễn Văn Trường, nguyên bộ đội Trường Sa, thợ điện tử, Hà Nội
756.    Nguyễn Xuân Thịnh, giáo viên, TP HCM
757.    Nguyễn Công Vượng, đạo diễn, biên kịch, Hà Nội
758.    Lê Tiến Sỹ, sinh viên, Hà Nội,
759.    Phạm Văn Toán, cựu sinh viên Luật khoa Việt Nam Cộng Hoà, Hoa Kỳ
760.    Thái Văn Đô, kỹ sư phần mềm tin học, Hoa Kỳ
761.    Lê Quốc Quyết, doanh nhân, TP HCM
762.    Trần Thị Hường, kinh doanh, CHLB Đức
763.    Nguyen Van Phu, giảng dạy và nghiên cứu, CNRS, Pháp
764.    Nguyễn Minh Tâm, nội trợ, CHLB Đức
765.    Tan Ngo, sinh viên du hoc, Canada
766.    Nguyễn Duy Châu, nguyên sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà, Australia
767.    Nguyễn Tiến Đức, kỹ sư, đã nghỉ hưu, quận 7, TP HCM
768.    Đinh Công Ninh, kỹ sư công nghệ thông tin, TP HCM
769.    Trần Hiếu Nghĩa, kỹ sư điện, Bình Dương
770.    Đỗ Anh Pháo, cử nhân kinh tế nghỉ hưu, Thanh Trì, Hà Nội
771.    Lê Việt Quốc, chuyên viên công nghệ tin học, Hoa Kỳ
772.    Lê Xuân Thiêm, kỹ sư xây dựng, TP HCM
773.    Trương Chiến, doanh nhân, CHLB Đức
774.    Đặng Hùng, kỹ sư máy tàu, TP HCM
775.    Ngo Bong, hưu trí, Australia
776.    Huỳnh Huy Hoàng, nhân viên quản lý rủi ro tài chính, Singapore
777.    Lê Tấn Hùng, bác sĩ, TP HCM
778.    Nguyễn Cao Phong, nông dân, Hà Nội
779.    Nguyễn Đình Ánh, nhân viên văn phòng, Hà Nội
780.    Tống Văn Linh, kỹ thủy lợi, Đồng Nai
781.    Trần An Khánh, kỹ sư xây dựng, Bà Rịa-Vũng Tàu
782.    Nguyễn Hữu Châu Phan, nhà nghiên cứu Văn hóa Huế, Huế
783.    Bùi Đức Hiệp, nhân viên vận tải, TP HCM
784.    Võ Hữu Tước, kĩ sư CNR, Khánh Hòa
785.    Hà Quốc Anh, kế toán viên, Hà Nội
786.    Hoang Minh Xuan, nhà báo, TP HCM
787.    Pham Van Ly, công nhân, Vancouver, Canada
788.    Nguyễn Hùng, kỹ sư, Sydney, Australia
789.    Đoàn Viết Hiệp, kỹ sư điện toán, Pháp
790.    Dương Ca, nhà thơ, Hà Nội
791.    Chu Văn Keng, cử nhân toán, Berlin, CHLB Đức
792.    Đồng Quang Vinh, cán bộ hưu trí, Nha Trang, Khánh Hòa
793.    Thái Nguyễn Hoàng Tuấn, sinh viên, TP, HCM
794.    Phạm Văn Thiết, doanh nhân, Vương quốc Anh
795.    Đỗ Thị Hảo, sinh viên đại học, Thái Bình
796.    Đinh Khắc Lượng, kỹ sư cơ khí, Hải Phòng
797.    Nguyễn Hữu Trung, kỹ sư địa chất, Hà Nội
798.    Do Minh Thanh, kinh doanh, Thụy Điển
799.    Lê Quang Hưng, buôn bán, Gò Vấp, TP HCM
800.    Vũ Công Hưng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, giáo viên, Thái Bình
801.    Vũ Quang Thông, công nhân, Hoa Kỳ
802.    Trần Thị Hài, dân oan, TP Thủ Dầu Một, Bình Dương
803.    Đỗ Thành Huấn, cựu đảng viên, TP Thủ Dầu Một, Bình Dương
804.    Nguyễn Bá Lợi, giáo viên, cựu chiến binh, TP HCM
805.    Tư Đồ Tuệ, Toronto, Canada
806.    Phan-Bá Phi, chuyên viên Tin học cấp cao, Seattle, Hoa Kỳ
807.    Nguyễn Đức Độ, lao động tự do, Bắc Ninh
808.    Trinh Trung, chuyên viên phát triển nguồn nhân lực (Human Resource Specialist), Hoa Kỳ
809.    Nguyễn Đức Hùng, cựu sinh viên Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội
810.    Phạm Ngưng Hương, kỹ sư công nghệ thông tin, Thuỵ Sĩ
811.    Việt Thương, nhà báo tự do, Nga
812.    Vũ Tuấn, GS TS, đã nghỉ hưu, Hà Nội
813.    Đỗ Ngọc Quỳnh, TS nông học, nhà giáo đã về hưu, TP, HCM
814.    Dương Văn Minh, kỹ sư hóa, Đồng Nai
815.    Lục Văn Nguyễn, nghiên cứu văn hóa, Hà Nội
816.    Nguyen Van Sinh, đã nghỉ hưu, Ninh Thuận,
817.    Lai Duc Hung, giảng viên đại học, Hà Nội
818.    Ninh Tran, công nhân, Michigan, Hoa Kỳ
819.    Nguyen Quoc Sy, thạc sĩ ngành chế tạo máy, Hà Nội
820.    Lê Quang Huy, kinh doanh vận tải quốc tế, TP HCM
821.    Duy Tan, nghiên cứu sinh tiến sĩ, Hàn Quốc
822.    Trần Quốc Tuấn, kinh doanh, Hà Nội
823.    Lê Mạnh Năm, nghiên cứu viên, Hà Nội
824.    Hoàng Mạnh Để, dạy toán, nguyên Phó Tổng thơ ký Hội Trí thức Yêu nước TH HCM
825.    Nguyễn Quang Thắng, cơ khí chế tạo máy, CHLB Đức
826.    Phạm Minh Trực, kinh doanh tư nhân, Châu Thành, Bến Tre
827.    Nguyễn Thanh Linh, cử nhân kinh tế, Đắk Lắk
828.    Trần Đức Tùng, thạc sĩ hệ thống thông tin, TP HCM
829.    Lương Tống Thi, luật sư, An Giang
830.    Phạm Văn Minh, đã nghỉ hưu, Hà Nội
831.    Nguyen Xi, hưu trí, Pháp
832.    Vũ Quang, PGS TS, Hà Nội
833.    Lưu Hồng Thắng, công nhân cơ khí, Hoa Kỳ
834.    Nguyễn Đức Vinh, 1960, kỹ sư, Hải Phòng
835.    Nguyễn Thành Tương, giáo viên về hưu, TP HCM
836.    Jane Trần Thị Mai Hạnh, nghỉ hưu, Hoa Kỳ
837.    Trương Văn Tài, kinh doanh tự do, TP HCM
838.    Lê Thị Thanh Bình, doanh nhân, CHLB Đức
839.    Nguyễn Văn Lịch, kỹ sư cơ khí, Hà Nội
840.    Lê Bảo, ngân hàng, TP HCM
841.    Delan Tran, CPA, chuyên viên kế toán, Montreal, Canada
842.    Đinh Như Vinh, cử nhân kế toán, Hà Nội
843.    Mai Văn Tuệ, kỹ sư, Hà Nội
844.    Thân Trọng Nhân, thạc sĩ, giảng viên đại học TP HCM
845.    Hanh Tran, library technician, Australia,
846.    To Minh Chi, đã nghỉ hưu, Burwood East, Australia,
847.    Minh Tran, Bayswater, plumber, Australia
848.    Thao Nguyen, Springvale, Victoria, Hoa Kỳ
849.    Hoa Nguyen, student, Coolaroo, Victoria, Hoa Kỳ
850.    Tallys Thu Tran, accountant, Colombes, Pháp
851.    Phạm Trọng Chánh, TS Khoa học Giáo dục Viện Đại học Paris, Pháp
852.    Đào Đình Bình, kỹ sư xây dựng cựu chiến binh, hưu trí, Hà Nội
853.    Biện Xuân Bộ, kỹ sư, Bắc Ninh
854.    Phạm Đ Dương, hưu trí, Fairfield, Sydney, Australia
855.    Nguyễn Đức Quỳ, giáo chức về hưu, Hà Nội
856.    Nguyễn Công Lý, Xuân Lộc, Đồng Nai
857.    Hoàng Lại Giang, nhà văn, nguyên Giám đốc Nhà Xuất bản Văn Nghệ, TP HCM
858.    Phương Huỳnh, health care worker, Canada
859.    Hồ Nghĩa Quang, kỹ sư công nghệ thông tin, hành nghề tự do, Hà Nội
860.    Hồng Trung Dũng, nghiên cứu sinh, Đại học Purdue, Hoa Kỳ
861.    Nguyen Lai Giang, cử nhân kinh doanh, Bình Định
862.    Le Hoang Anh, đang ăn lương thất nghiệp, Berlin, CHLB Đức
863.    Lê Thanh Hải, nghệ sĩ nhiếp ảnh, Đà Nẵng
864.    Ngô Hoàng Hưng, kinh doanh, TP HCM
865.    Đỗ Như Ly, kỹ sư, hưu trí, TP HCM
866.    Vũ Hồng Phong, kỹ sư, TP HCM
867.    Bui Duc Thai, cán bộ, TP HCM
868.    Nguyễn Lương Thịnh, tư vấn đầu tư và quản trị doanh nghiệp, TP HCM
869.    Nguyen Van Tam, cựu đảng viên, xã đội trưởng, An Giang
870.    Nguyễn Minh, kỹ sư cơ khí, TP HCM

Tổng cộng các đợt 1 - 7: 870 người


Nguồn: Diễn Đàn.