Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Hiếu Đằng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Hiếu Đằng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

VÀI Ý KIẾN VỀ ĐỀ XUẤT THÀNH LẬP MỘT ĐẢNG CHÍNH TRỊ MỚI CHO VIỆT NAM


Vài ý kiến về đề xuất thành lập 
một đảng chính trị mới cho Việt Nam
Lữ Phương
3-9-2013

Việc thành lập một đảng chính trị mới đang nói tới ở đây là một đảng giả định, mang tên “ Đảng Dân Chủ Xã hội ” do Lê Hiếu Đằng đề xuất. Anh Đằng là một cán bộ đã 45 tuổi Đảng, hoạt động ở các đô thị miền Nam trong thời kỳ chiến tranh “ chống Mỹ ”, sau 1975 từng đảm nhận vai trò lãnh đạo trong Mặt Trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh suốt một thời gian dài. Đề xuất của anh đã làm dấy lên trong dư luận trong và ngoài nước một không khí tranh cãi sôi nổi, hào hứng, quyết liệt ít thấy. Là chỗ quen biết anh Đằng, sau khi theo dõi những cuộc tranh luận nói trên, tôi xin được góp thêm với công luận mấy ý kiến sau đây:

*

1. Điều tôi có thể khẳng định đầu tiên là đề xuất ấy chỉ là ý kiến đột xuất của riêng Lê Hiếu Đằng khi anh đối mặt với căn bệnh ngặt nghèo mà mình vướng phải, từ đó nẩy ra ý định nhìn lại cả một đời hoạt động đã qua và đã bày tỏ những dằn vặt cá nhân của mình về những hoạt động đó trong bài Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh. Khi bài này xuất hiện trên một trang mạng lập tức được anh Hồ Ngọc Nhuận – một nhà báo cũng là một nhân sĩ ngoài Đảng, thuộc “ lực lượng thứ ba ” đối lập với chính quyền Sài Gòn trước đây, sau 1975 đã cùng hoạt động với anh Đằng trong ban lãnh đạo Mặt trận Thành phố Hồ Chí Minh – lên tiếng tán thưởng bằng một bài viết hết sức nhiệt tình mang tên Phá Xiềng. 

Sau bài viết đó của anh Nhuận, đây đó đã phát sinh dư luận cho rằng việc thành lập một đảng mới đối lập, đương đầu với Đảng Cộng sản đã là một thực tế đang được xúc tiến và xúc tiến bởi một nhóm người đang nuôi tham vọng nào đó về chính trị. Nhưng theo chỗ tôi biết thì trên thực tế chưa hề có một cá nhân nào hoặc một nhóm người nào đó thực sự có ý định kết tập nhau lại để bắt tay vào việc hình thành ra cái đảng chính trị này cả. Tất cả chỉ mới manh nha trong sự gợi ý từ bài viết của anh Đằng và riêng anh Đằng cũng cho biết, ngay cả khi có điều kiện để hiện thực hoá ý tưởng ấy thì trong tình trạng bệnh tật không biết đi đến đâu hiện nay, anh cũng không thể nào đứng ra đảm đương được. Anh Đằng không ngây thơ đến nỗi không hiểu tính chất đầy khó khăn và phức tạp của một dự án chính trị như vậy.

2. Qua việc tiếp xúc trực tiếp với anh và những văn bản mà anh đã công bố, tôi có thể khẳng định thêm rằng khi gợi ra vấn đề  “ đa đảng ” nói trên, anh Đằng không hề đề ra mục tiêu lật đổ hay thay thế Đảng cộng sản đang lãnh đạo nhà nước và xã hội Việt Nam. Động lực thực sự của anh là muốn đưa ra một giải pháp thiết thực, góp phần dân chủ hoá đời sống chính trị của đất nước, từ đó cùng góp sức với Đảng cộng sản, tìm kiếm những giải pháp phù hợp thực tế để mau chóng đưa đất nước thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay. Suy nghĩ này của anh thật ra không có gì mới mẻ vì đã được nhiều nhân vật hoạt động và một số nhà nghiên cứu (kể cả những người trong Đảng) nói tới từ lâu, quan trọng nhất là chỉ ra được nguyên nhân mọi sai lầm lặp đi lặp lại của Đảng cộng sản cầm quyền: đó là việc Đảng đã coi cái ý thức hệ Mác-Lênin của riêng mình như chân lý duy nhất đúng, ép buộc toàn xã hội phải thừa nhận, căn cứ vào đó thiết lập quyền độc tôn lãnh đạo, không màng đến phản ứng của cuộc sống thực tiễn, nguyện vọng của đông đảo nhân dân.

Tất cả mọi sự phản biện dai dẳng đưa đến những đề xuất tìm kiếm một giải pháp điều chỉnh lại hướng đi cho đất nước cũng xuất phát từ đó : trong thời kỳ mới này, Việt Nam cần phải chuyển mình sang thể chế dân chủ để hình thành một tập hợp dân tộc đồng thuận, trong và ngoài nước, dựa trên đó cùng nhau tìm ra những giải pháp thoát khỏi được sự bế tắc bấy lâu nay. Trong ý hướng dân chủ hoá đời sống chính trị đó, vấn đề kiểm soát quyền lực – cụ thể là không để nhà nước dùng sự độc tôn quyền lực triệt tiêu sự sống độc lập của xã hội công dân, kết quả là biến sự độc tôn đó thành chỗ dựa cho các tập đoàn lợi ích cấu kết với nhau để thao túng nhà nước – đã được đặt ra ngày càng gay gắt, dưới nhiều hình thức, từ việc lên tiếng của những cá nhân đến những kiến nghị tập thể mở rộng cho nhiều người tham gia.

3. Vấn đề “ đa đảng ” mà Lê Hiếu Đằng nêu ra chỉ nhắc lại những suy nghĩ chung nẩy sinh từ quá trình thảo luận tìm kiếm con đường dân chủ hoá cho Việt Nam, diễn ra cả hơn hai thập kỷ đã qua. Và không phải chỉ như vậy vì có lúc các ý tưởng ấy đã thể hiện trong thực tế, cụ thể qua sự xuất hiện công khai một số đảng chính trị mà thách thức rất đáng chú ý là việc ông Hoàng Minh Chính một cựu đảng viên đứng ra “ phục hồi ” một đảng ra đời vào thời kỳ cách mạng 1945 mệnh danh là Đảng Dân Chủ. Gọi là “ phục hồi ” một đảng cũ (thực chất là do Đảng Cộng sản chủ động lập ra) nhưng trong khi đó ông Chính lại dời vị trí nội địa của nó ra hải ngoại để một số nhân vật bên ngoài chi phối, vì thế nỗ lực của ông đã không giữ được tính chính danh cần phải có để có thể hoạt động, nhất là không đủ thực lực để vượt qua được sự trấn áp của Đảng cộng sản.

Đảng chính trị mang tên “ Dân chủ Xã hội ” do Lê Hiếu Đằng đề xuất đã đi theo một hướng hoàn toàn khác : là kết quả của cuộc vận động trong nước nhưng không ra đời một cách tự phát từ cuộc sống xã hội mà lại bắt nguồn từ nội bộ Đảng cộng sản, cụ thể từ sáng kiến của những đảng viên bất đồng, xin ra khỏi Đảng với một số lượng tương đối nào đó để có thể khởi xướng và thành lập. Thực chất của cái thực thể chính trị được Lê Hiếu Đằng đề xuất đã bộc lộ rõ trong điều kiện giả định đó : Đảng Dân chủ Xã hội sẽ không thể nào trở thành hiện thực nếu chưa có đủ số đảng viên cộng sản ly khai cần thiết. Vì thế sẽ là tất nhiên khi thấy anh Đằng chưa nói gì đến cương lĩnh, tổ chức, điều lệ của đảng, và cũng là tất nhiên nữa khi chúng ta chưa thấy có dấu hiệu nào cho biết đã có một sự chuẩn bị tối thiểu để làm việc đó. Câu hỏi về sự chín muồi hay chưa của tình hình để sự đề xuất này có thể đi vào thực tế thiết tưởng cũng không có ý nghĩa bao nhiêu.

Vì thế, muốn nhìn ra cho rõ hình hài của cái thực thể chính trị mới này tôi thấy không dễ. Tuy vậy nếu cố gắng đi sâu vào những gì Lê Hiếu Đằng gợi ra qua các bài viết của anh, chúng ta vẫn có thể hình dung ra được đôi nét rất khái quát của nó. Khác hẳn về phương pháp hoạt động với Đảng cộng sản, đó là điều rõ ràng nhất : nếu một bên là chuyên chính, dựa vào đường lối từ bên trên để “ cải tạo ” bên dưới, buộc bên dưới phải vâng phục (cộng sản) thì một bên sẽ là dựa vào bên dưới – Lê Hiếu Đằng nói đến nhiều lần cái “ xã hội dân sự ” đang lớn mạnh – để hoạt động, lấy nguyện vọng của bên dưới hình thành đường lối, căn cứ vào đó tạo ra áp lực tác động lên trên, buộc Đảng cộng sản phải tiến hành những cải cách căn bản và thiết thực (dân chủ xã hội).

Khác nhau về phương pháp hoạt động nhưng xét về mặt mục tiêu, hai thực thể chính trị ấy vẫn có thể gặp nhau trên những định hướng lý thuyết khả dĩ về một mô hình xã hội chủ nghĩa truyền thống : hạn chế sự bóc lột mù quáng và vô độ của chủ nghĩa tư bản, đề cao quyền sở hữu về sức lao động của những người công nhân, bảo vệ môi trường tự nhiên, lành mạnh hoá môi trường văn hoá xã hội… Với những tương đồng giả định đó, nếu ra đời được, Đảng Dân Chủ Xã hội sẽ đảm nhận một chức năng đặc biệt trong mô hình “ lưỡng đảng ” kiểu Việt Nam, ở đó Đảng cộng sản vẫn là chủ thể lãnh đạo còn Đảng Dân chủ Xã hội sẽ giữ vai trò của một lực lượng “ đối trọng hợp pháp ”, không hoàn toàn là một thứ đảng bù nhìn vuốt đuôi (như ở Trung quốc) nhưng cũng không phải là một đảng chống đối nhằm “ giải thể ” Đảng cộng sản để thay thế như người ta có thể tưởng tượng ra.

4. Nhìn chung lại, tôi thấy đề xuất thành lập Đảng Dân chủ Xã hội của Lê Hiếu Đằng đã đặt nền trên mấy nhận định sau đây :

  • Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản hiện nay đã tỏ ra hoàn toàn bất lực trong công cuộc phát triển lành mạnh của đất nước, vì vậy đang đưa dân tộc vào một cuộc khủng hoảng xã hội trầm trọng, có nguy cơ để mất chủ quyền vào thế lực bành trướng phương Bắc.

  • Tình trạng đó được quy về phương thức lãnh đạo chuyên chính của Đảng cộng sản với một đường lối áp đặt, xa rời thực tế, mất lòng dân, cho nên biện pháp dân chủ hoá sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là điều kiện cấp bách để giải quyết cuộc khủng hoảng nói trên.

  • Trong tình thế cực đoan như hiện nay, sự ra đời của một đảng mới gần gũi với Đảng cộng sản về mục tiêu nhưng khác về phương pháp là phương thức tốt nhất, để vừa dân chủ hoá thể chế chính trị ở Việt Nam, vừa tạo ra một môi trường cạnh tranh thúc đẩy Đảng cộng sản tự dân chủ hoá và canh tân.

Qua sự tìm hiểu như trên, giả sử như tiếp cận được gần đúng suy nghĩ của Lê Hiếu Đằng, nếu bỏ qua một số biểu đạt có tính chất cảm tính vì những bức xúc đặc biệt của anh, tôi cho rằng những suy nghĩ ấy cần được đón nhận một cách thiện chí vì bản thân cái phần cốt lõi trong bài viết của anh đã bắt nguồn từ một thiện chí không thể không ghi nhận. Những anh em quen biết anh Đằng lâu năm đều nhận thấy anh thuộc loại đảng viên ít chịu khoan nhượng trước những sai trái, cho nên hoạt động trong một môi trường phải tận mắt chứng kiến quá nhiều những điều đi ngược lại lý tưởng ban đầu của anh, nghiêm trọng, dai dẳng đến phi lý, anh không thể không tiếp nối những người đi trước (như tướng Trần Độ đã mất), lên tiếng phê phán những sai trái ấy với tinh thần trách nhiệm cao nhất của một đảng viên mà cũng là của một công dân. Gọi anh là kẻ “ phản bội ”, “ chuyển hệ ” hoặc theo đuôi các “ thế lực thù địch ”, xuyên tạc tư tưởng để bôi nhọ nhân thân của anh v.v… là những quy kết đầy ác ý.

Còn về vấn đề “ đa đảng ” mà anh xới lên, như đã nói ở trên, thật sự đó vẫn chỉ là một đề xuất giả định, đúng hơn là một khuyến cáo có tính chất định hướng cho Đảng cộng sản – chứ không phải cho những thực thể chính trị khác – mà anh vẫn còn là một thành phần, mục đích không có gì khác hơn là thúc đẩy sự canh tân thể chế, vì lợi ích của dân tộc mà cũng là vì Đảng của anh. Vốn là một khuyến cáo công khai đề xuất trực tiếp, nếu không đồng ý với anh thì điều quan trọng nhất để những nhà lãnh đạo Đảng ứng phó là chỉ đạo những nhà lý luận của mình, dưới hình thức một cuộc đối thoại cũng công khai, minh bạch trả lời từng điểm một các vấn đề đã được nêu ra, nhân dịp này thành thật công bố đường lối giải quyết những khó khăn hiện nay của Đảng (nhất là với chủ nghĩa bành trướng phương Bắc), không phải chỉ với riêng anh mà với cả đông đảo những người thuộc nhiều thế hệ khác nhau, đã nghĩ như anh và tạo ra động lực để anh bộc lộ. Không làm như vậy mà lại né tránh các vấn đề đó, trong khi đó lại cho mở ra chiến dịch công kích anh hết sức thô bạo – cơ sở lập luận không dựa vào đâu ngoài những công thức tuyên truyền xa rời thực tế (như tính chất “ khoa học ” của chủ nghĩa Mác-Lênin, sự chọn lựa của Đảng và của nhân dân là một, cổ vũ đa đảng là làm rối loạn xã hội v.v…), đương nhiên coi đó như những chân lý quyền uy, không cần thuyết phục – những nhà lý luận của Đảng đã không gặt hái được gì ngoài những chống trả quyết liệt của nhiều xu hướng phản biện khác nhau.

5. Để giữ tính chất nghiêm túc cho đề xuất của Lê Hiếu Đằng, thiết nghĩ chúng ta cần vượt lên cuộc tranh cãi ồn ào đang diễn ra để tìm hiểu thêm vấn đề này theo một viễn cảnh chuyển đổi xã hội rộng lớn hơn mà ở Việt Nam hiện nay đang đặt ra ngày càng rõ ràng, đặc biệt là những ý hướng canh tân mạnh mẽ xuất phát từ trong nội bộ Đảng cộng sản. Trong xu thế ấy, việc đề xuất công khai và trực tiếp của Lê Hiếu Đằng về vấn đề “ đa đảng ” là một đột biến quan trọng, có khả năng mở ra một hướng mới cho quá trình đấu tranh trong nội bộ Đảng về sự cần thiết phải có những chuyển hoá triệt để về lãnh đạo : cuộc đấu tranh dân chủ hoá đời sống chính trị của đất nước từ nay trở đi sẽ không chỉ giới hạn trong việc “ phản biện ” trên lời nói về những chính sách sai lầm của Đảng mà cần tranh đấu tạo ra một định chế phân tán quyền lực để ngăn chặn những sai lầm ấy một cách có hiệu lực. Việc kiểm soát quyền lực này không đụng chạm tới cương lĩnh của Đảng cộng sản (đó là chuyện nội bộ của những người cộng sản) mà chỉ đặt vấn đề thiết lập một định chế mới để buộc Đảng cộng sản phải tuân thủ những quy định dân chủ về “ kiểm soát và cân bằng quyền lực ” khi đem cương lĩnh của mình ra thực hiện.

Trước một xu thế như vậy, sự phản ứng ứng quyết liệt của một số cán bộ Đảng, quen bám víu (một cách lén lút) vào thứ lý luận giáo điều về “ chuyên chính vô sản ”, dứt khoát không chia quyền với bất cứ ai, là hoàn toàn dễ hiểu. Nhưng nhìn vào lịch sử của phong trào cộng sản thế giới, người ta nhận thấy quan niệm ấy không phải lúc nào cũng được áp dụng một cách tuyệt đối, máy móc, nhất là trong những tình thế khó khăn cần linh động nhân nhượng để đừng mất tất cả (“dĩ nhất biến ứng vạn biến” như Hồ Chí Minh hay nói) : việc Đảng cộng sản Đông Dương, cuối năm 1945 ra thông báo căn cứ vào “tình hình thế giới và hoàn cảnh trong nước” bấy giờ để tự giải tán là một thí dụ. Trong những tình hình như vậy, vấn đề “ đa đảng ” không còn là một khái niệm thiêng liêng, một nguyên tắc bất dịch mà là một công cụ trong đấu tranh, cần phải được sử dụng để bảo vệ mục đích theo đuổi của mình. Vấn đề thành công hay thất bại trong trong việc quyết định này hoàn toàn tuỳ thuộc vào bản lĩnh của những người có đảm lược sử dụng công cụ đó.

Ngay trong điều kiện đã giành thắng lợi rồi mà muốn bảo vệ quyền lực một cách lâu bền, công cụ đó vẫn không thể tiên quyết coi như một cấm kị. Thực tế cho chúng ta biết có khá nhiều hình thức “ đa đảng ” đã được những đảng cầm quyền sử dụng có lợi cho mình. Có thể cho phép một loạt đảng “ hiệp thương ” tồn tại để làm “ kiểng ” cho chế độ một đảng độc tài. Cũng có trường hợp các đảng gọi là “ đối lập trung thành ” được luật pháp cho hoạt động công khai nhưng trên thực tế đã bị đảng cầm quyền khống chế (một cách hợp pháp và cả bất hợp pháp) để duy trì quyền lãnh đạo thống trị của mình. Cũng có trường hợp công cụ đa đảng được dùng trong thể chế “ đa nguyên đa đảng ” ở đó các đảng đối lập, vì một lý do văn hoá, lịch sử nào đó, luôn chiếm vị trí thiểu số, nhưng cũng có những trường hợp được sử dụng trong thể chế “ nhất nguyên đa đảng ”, ở đó chỉ có hai đảng thay nhau cầm quyền bằng những phương pháp khác nhau nhưng có cùng mục đích bảo vệ những giá trị chung của một chế độ cả hai đều chia sẻ. Trước thực tế phức tạp của cuộc đấu tranh quyền lực, việc tuyệt đối hoá một quan niệm “ độc đảng ” có nội dung nào đó để duy trì sự độc tôn quyền lực cho Đảng của mình trong mọi trường hợp là một thái độ không thực tế. Nhất là lại thuần tuý bằng trấn áp và bạo lực thì không những không thực tế mà còn nguy hiểm : đảng chính trị đó chỉ tích tụ những toan tính bạo lực ngược chiều, trước sau gì cũng “ quỵ sụm ” hoặc bị đánh đổ bằng con đường bạo lực do mình tạo ra.

*


Sẽ là một thiếu sót nếu bài này chấm dứt mà không có vài lời sau đây xin thưa cùng những người quen hay không quen đã bày tỏ thái độ đồng tình, cổ vũ đề xuất của Lê Hiếu Đằng : a) Đề xuất của anh chỉ là một khuyến cáo với Đảng cộng sản. Tán thành nhưng xem đây chỉ như một sáng kiến “ cải lương ”, “ thoả hiệp ” hoặc “ ảo tưởng ” cũng không sao, nhưng đừng quên rằng đây là một hình thức tranh đấu mới nẩy sinh từ bên trong hàng ngũ những người cộng sản trước tình thế mới. b) Thực chất của đề xuất đó là chuyển hoá thể chế chuyên chính sang dân chủ pháp quyền, ở đó hình thức đa đảng là một công cụ đấu tranh thực hiện bằng phương pháp nội tại của những người cộng sản bất đồng. Cần xuất hiện những suy nghĩ khác có nội dung phù hợp với những bước đi thích hợp hơn. c) Công việc cực kỳ khó khăn, xin đừng quá bồng bột coi đề xuất này như một thứ phép màu mang đến khả năng chấm dứt ngay được di sản nặng nề của độc tài, chia rẽ, hận thù do quá khứ để lại. Cũng đừng quên trong chính trị, vấn đề “ đa đảng ” chỉ là một công cụ đấu tranh : viễn cảnh về một xã hội mà công cụ đó cần vượt qua và nhắm tới mới là mục tiêu quan trọng hơn. 

Xong đúng ngày 2-9-2013

Nguồn: Diễn đàn

Thứ Năm, 29 tháng 8, 2013

Huỳnh Ngọc Chênh: AI THAY LÒNG ĐỔI DẠ?

AI THAY LÒNG ĐỔI DẠ?
Huỳnh Ngọc Chênh

Trang Ba Sàm tổng kết, đến hôm nay (29.8) đã có 18 bài viết trên hệ thống truyền thông độc quyền của đảng, phản biện lại việc "tính sổ cuộc đời" của ông Lê Hiếu Đằng và việc ông hô hào lập đảng mới để lành mạnh hóa hoạt động chính trị, để xây dựng xã hội dân sự và tiến đên dân chủ hóa đất nước.

Bài viết thì nhiều nhưng luận điệu phản biện thì giống hệt nhau, nghèo nàn và xơ cứng, đi lại cũng hô các khẩu hiệu: Con đường đi lên CNXH là chọn lựa duy nhất của dân tộc VN, đảng độc quyền lãnh đạo là tất yếu lịch sử, đảng đưa đất nước đi từ thắng lợi nầy đến thăng lợi khác, xương máu của hàng triệu đảng viên (?) góp phần làm nên thắng lợi nên đảng đời đời độc quyền lãnh đạo là đương nhiên, dân chủ VN theo kiểu của VN, dân chủ và nhà nước pháp quyền không cần đa nguyên, đa đảng sẽ đưa đến bất ổn chính trị và rối loạn xã hội...Rồi trên cái nền khẩu hiệu duy ý chí, phản khoa học và ngược ngạo ấy, các tác giả lý luận cung đình lại lặp lại cung cách truyền thống của những người bình dân nơi chợ búa vẫn làm khi muốn "phản biện " đối thủ của mình: Thóa mạ, quy chụp, chửi bới về nhân thân cũng như động cơ của ông Lê Hiếu Đằng.

Mà xuyên suốt cả cuộc đời chiến đấu và lao động trong sáng vì lý tưởng của mình, ông Đằng đã không để lại chút vẩn cợn nào để họ bấu víu vào đó mà bôi nhọ. Lại thêm, khi viết những lời tâm huyết là lúc ông Đằng đang trong những ngày đối diện với cái chết không còn ham muốn gì với danh lợi cá nhân nên không có lý do để suy diễn và quy chụp động cơ của ông là đen tối. Cuối cùng họ chỉ biết cho rằng ông là người phản bội lại lý tưởng, phản bội đảng, là người thay lòng đổi dạ...

Điều duy nhất mà hàng lô những nhà lý luận cung đình, chuyên hay thời vụ, quy chụp được ông Lê Hiếu Đằng là ông đã thay lòng đổi dạ, phản bội lại lý tưởng mà ông đã theo đuổi.

Nhưng thử hỏi lý tưởng mà ông Đằng đã theo đuổi suốt cuộc đời của mình, từ hồi trai trẻ còn cắp sách đến trường cho đến lúc gần đất xa trời là gì?

Xem xét về những gì ông đã làm, đọc qua những gì ông đã viết, mọi người thấy ngay rằng lý tưởng theo đuổi suốt cả cuộc đời của con người nầy là: đấu tranh chống bất công, chống áp bức, chống xâm lược nhằm xây dựng một đất nước Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ, công bằng và hạnh phúc. Đó là lý tưởng chung của hàng chục triệu người VN yêu nước, cũng là lý tưởng của các phong trào Đông Du, Duy Tân, Việt Cách, Việt Minh... cũng là lý tưởng của các đảng phái chính trị: Quốc Dân, Đại việt, Cộng Sản...

Nhờ giỏi tuyên truyền, giỏi tổ chức, giỏi lợi dụng thời cơ, đảng CSVN đã vươn lên thu phục được nhiều người rồi đi đầu công trạng trong việc thực thi lý tưởng đã nêu. Lý tưởng đó của đảng CS phù hợp với lý tưởng của bộ phận lớn nhân dân VN, trong đó có người thanh niên Lê Hiếu Đằng cũng như bao thanh niên cùng trang lứa với anh ở miền Nam trước năm 1975. Một bộ phận thanh niên cũng như nhân dân miền Nam đi theo đảng CS là vì có sự phù hợp lý tưởng của nhau hoặc tưởng rằng có sự phù hợp.

Vấn đề đặt ra bây giờ là ai rời bỏ lý tưởng đó? Đảng CS hay những người đã và sắp bỏ đảng như ông Lê Hiếu Đằng?

Dưới sự lãnh đạo của đảng CS, nước VN thống nhất trong 38 năm qua đã có được những gì: Độc lập? Tự do? Dân chủ? Hạnh phúc? Công bằng? và Ấm no cho toàn dân? Hãy so sánh một cách biện chứng với chính thời gian 38 năm trong thời đại thay đổi với tốc độ tên lửa chứ đừng ngô nghê so sánh với thời điểm dừng 1975 khi trả lời câu hỏi trên.

Nhìn vào thực trạng đất nước hiện nay, ông Đằng đã đưa ngay câu trả lời. Đảng lãnh đạo hầu như lệ thuộc vào đảng Trung Cộng từ lý luận đến thực tiễn hành động. Đất nước thì bị đe dọa mất chủ quyền bởi vòng kim cô "4 tốt, 16 chữ vàng" để bị kẻ thù phương Bắc bao vây trên nhiều phương diện: Quân sự, ngoại giao, kinh tế và cả văn hóa nữa. Kinh tế thì suy sụp, xã hội thì đảo điên, áp bức bất công khắp mọi nơi, nạn tham nhũng thì càng ngày càng phát triển đến mức không còn cách để ngăn chặn...

Điều gì đã đưa đất nước đi đến thực trạng như vậy? Ông Lê Hiếu Đằng cũng như nhiều trí thức nhân sĩ trong và ngoài đảng đều có chung một nhận định: Do đảng lãnh đạo đã liên tục mắc vào các sai lầm mà không hề đúc kết rút kinh nghiệm để sửa sai. Từ trước đến nay đảng chưa hề có một lời xin lỗi với nhân dân về những sai lầm của mình. Từ đó, những người ấy nghi ngờ rằng đảng đã không còn đi trên con đường lý tưởng như ban đầu đã chọn lựa.

Hai con đường đã không còn phù hợp với nhau. Ông Đằng, giống như nhiều người khác, dù tuổi già sức yếu, lại không nghĩ ngơi vì phải tiếp tục đi theo con đường lý tưởng mà mình đã chọn lựa từ thuở ban đầu.

Ông vẫn trung thành với lý tưởng của mình tại sao lại bảo ông thay lòng đổi dạ?

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

AI LÀ AI? - PHÁT HIỆN ĐỘNG TRỜI CỦA NỮ VĂN SĨ PHẠM THỊ HOÀI

Nhân bản 
Phạm Thị Hoài
 
Trên Quân đội Nhân dân ngày 18-8-2013, trong bài mở đầu đợt phản công lời kêu gọi thành lập một đảng dân chủ xã hội của ông Lê Hiếu Đằng, một tác giả Trọng Đức nào đó lập luận như sau: “Trên thực tế, dân chủ không phụ thuộc vào chế độ độc đảng hay đa đảng mà nó phụ thuộc vào bản chất chế độ cầm quyền phục vụ giai cấp nào”. Hai ngày sau, một thạc sĩ Phạm Văn Thiết cũng phát biểu gần nguyên xi như vậy, cũng trên tờ báo này. Nhưng nguyên vẹn câu này thì đã được một PGS TS Nguyễn Mạnh Hưởng diễn đạt trong bài “Vì sao Việt Nam không cần đa đảng”, đăng trên trang tin của Đài Tiếng nói Việt Nam từ hơn hai năm trước, ngày 18-1-2011.

Song đó cũng không phải là hồ sơ gốc của trị số tư tưởng này vì trước đó, ngày 8-8-2010 cũng trên Quân đội Nhân dân, một TS Lê Văn Bảo đã viết hệt như vậy trong bài “Dân chủ phụ thuộc vào bản chất đảng cầm quyền”, còn theo tường thuật của báo Công an Nhân dân ngày 03-6-2013 thì Ủy ban Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp cũng đưa ra kết luận như thế. Tài sản tuyên huấn của bộ máy tư tưởng chính thống ở Việt Nam hẳn là sở hữu trí tuệ tập thể, nhiều người có thể cùng là tác giả của một câu, giống nhau đến từng chữ.

Nhưng báo chí tuyên huấn còn có lệ nhân bản một người thành nhiều người. Bài “Dân chủ phụ thuộc vào lí tưởng và bản chất chính trị của đảng cầm quyền” được báo Nhân dân ngày 08-3-2013 giới thiệu là của một độc giả Mai Hoàng Kiên. Song Mai Hoàng Kiên cũng chính là độc giả Trung Thành với bài “Không ai có thể phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam!” đăng ngày 25-2-2013, là độc giả Tuyên Trần với bài “Quay đầu lại là bờ” đăng ngày 22-3-2013, là độc giả Tường Anh với bài “Vạch mặt những kẻ mạo danh“ đăng ngày 14-1-2013, là độc giả Trần Mai với bài “Từ hải ngoại nghĩ về các ‘nhà dân chủ’” đăng ngày 30-10-2012, là độc giả Hữu Đức[i] với bài “Vì sao, vì mục đích gì?” đăng ngày 13-11-2013 trên chính tờ báo này…, đồng thời là tác giả Trọng Linh với bài “37 năm bị bịt miệng trên xứ sở tự do” trên báo Công an Nhân dân ngày 27-3-2012 cũng như là Khánh Sơn của một Tạp chí Nhân quyền nào đó, và tất cả lại đều là một người, với bút danh Amari TX, xuất hiện gần đây nhất với bài “Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu khách quan” đăng ngày 22-8-2013 trên Nhân dân. Tất cả những thông tin này được Amari TX, tự giới thiệu là một người Việt ở Mỹ, trưng ra như thành tích trên blog cá nhân ít người biết đến của mình.

Bước ngoặt bất ngờ nhất của câu chuyện nhân bản dư luận viên này là mới đây, một blogger bỗng phát hiện ra rằng Amari TX tức Mai Hoàng Kiên tức Trung Thành tức Tuyên Trần tức Tường Anh tức Trần Mai tức Hữu Đức tức Trọng Linh tức Khánh Sơn ad libitum cũng chính là TS Hoàng Văn Lễ, nguyên Tổng Biên tập tạp chí Xây dựng Đảng. Điều này không có gì là hoang đường tới mức không thể tin nổi, rốt cuộc thì ông trùm tuyên huấn của chế độ, Hồ Chí Minh, đã đặt cả nền móng lẫn kỉ lục khó vượt qua cho chiến thuật phân thân và hóa thân bằng vô số bút hiệu. Nhưng tiếc rằng phát hiện nêu trên hơi quá vội. Phiếu xét nghiệm tư tưởng của ông TS Hoàng Văn Lễ sống ở Việt Nam trên Sài Gòn Giải phóng ngày 26-8-2013 cho thấy một nhóm trị số hoàn toàn khớp với phiếu của ông Việt kiều Amari TX sống ở Houston trên Nhân dân ngày 22-8-2013, song cũng hoàn toàn khớp với phiếu của ông PGS Trần Đình Huỳnh, nguyên Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, trên Tạp chí Cộng sản số 844 từ tháng 2-2013. Bây giờ muốn thanh minh rằng mình không phải Amari TX thì ông Hoàng Văn Lễ chỉ có cách chứng minh rằng mình chính là Trần Đình Huỳnh. Tương tự như vậy, thạc sĩ Phạm Văn Thiết chỉ có thể thanh minh rằng mình không phải Amari TX bằng cách chứng minh rằng mình chính là TS Lê Văn Bảo. Huyết đồ tư tưởng giống hệt nhau của họ được biểu hiện chẳng hạn qua câu này: “Nói chung ở các nước tư bản, về hình thức, đa đảng chính trị đều ‘tự do’, ‘bình đẳng’ trong cuộc đấu tranh nghị trường và đều có khả năng trở thành đảng cầm quyền, nhưng trong thực tế chỉ có các đảng lớn, có thế lực mới có khả năng chiến thắng và bao giờ cũng có một đảng cầm quyền hoặc lãnh đạo, có khi kéo dài nhiều thập kỷ.” Who is Who phiên bản Việt ngữ.

Quả là không có điều quái gở nào mà con người còn chưa nghĩ ra lại xa lạ với guồng máy tuyên huấn Việt Nam. Trong những vụ nhân bản dư luận viên và nhân bản trị số tư tưởng này, tôi không biết điều gì đáng kinh hơn: sự giáo điều hay sự hạ cấp của luộm thuộm, cẩu thả, ngu ngốc, lười biếng, nhếch nhác. Mọi đối thoại không cùng đẳng cấp đều vô nghĩa. Ước gì những người chống giáo điều và thảo phạt tuyên huấn có được một đối thủ uyên bác, độc đáo, chân thực và một guồng máy tuyên huấn nghiêm túc, chuyên nghiệp. 

Nguồn: pro&contra




[i] Lời giới thiệu của báo Nhân dân cho bài viết của Hữu Đức, tức Trần Mai, xứng đáng được đưa vào giáo trình cho sinh viên báo chí, nguyên văn như sau: “Sau khi Báo Nhân Dân đăng bài Từ hải ngoại nhìn về “các nhà dân chủ” của tác giả Trần Mai gửi từ nước Mỹ, trên một số website và blog đã có ý kiến thực hiện theo lối cắt xén, suy diễn, để từ đó phản đối bài viết của Trần Mai và quy kết là “nhận định sai lầm nghiêm trọng… về quyền con người”, và lặp lại luận điệu cho rằng, Nhà nước đã đi ngược lại các tuyên ngôn, công ước quốc tế liên quan tới vấn đề nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết! Bình luận về sự kiện này, cũng từ nước Mỹ, bạn đọc Hữu Ðức mới gửi tới tòa soạn bài Tôi thật sự không hiểu tại sao, vì mục đích gì?, xin giới thiệu cùng bạn đọc.”

HÀ VĂN THỊNH: PHẢN BIỆN BÀI CỦA ÔNG NGUYỄN CHƠN TRUNG

Mục nát thì phải phá bỏ, thưa ông Nguyễn Chơn Trung!
Hà Văn Thịnh

Lâu lắm rồi tôi không viết, vì nhiều lẽ, nhưng cái chính là do tiêu cực, tham nhũng, cái ác, cái xấu của quan chức nhiều quá; sự dốt nát, lộng hành, khinh dân - kiêu binh... của các cấp lãnh đạo nhiều quá (chẳng hạn: hơn 50.000 văn bản sai quy phạm pháp lý, đến mức như những trò hề)..., thành thử, nếu viết sẽ lại trùng, lại lặp, bởi động đến cái gì cũng có “tham gia” rồi (tôi đã từng có bài “Viết cái gì và viết thế nào đây”)...

Thế nhưng, hôm nay đọc bài của ông Nguyễn Chơn Trung – Sáu Quang (ảnh bên) , tự thấy rằng không thể im lặng... 

Trong các “nguyên tắc” của phản biện thì tiêu chí đầu tiên không thể thiếu là sự chặt chẽ của lập luận, chứng cứ. Ông Nguyễn Chơn Trung phê phán ông Lê Hiếu Đằng để “thức tỉnh” – phù phép hàng triệu người có thể “lầm lạc” (như ông Lê Hiếu Đằng?) nhưng lại quá kém cỏi khi sự biện hộ biến thành ngụy biện một cách thô thiển. Do khuôn khổ của một bài có hạn, xin nêu ra mấy chỗ khó chấp nhận sau đây.

Thứ nhất, ông Nguyễn Chơn Trung cho rằng “Đã có hàng triệu đảng viên ngã xuống trên khắp các chiến trường, trong lao tù thì mới có nước Việt Nam hòa bình – độc lập – thống nhất cùng với 27 năm đổi mới đất nước như hôm nay”. Thật là nực cười khi trong những thành tựu mà NCT vơ hết vào mình ấy chẳng thấy bóng dáng nào của NHÂN DÂN – DÂN TỘC? Càng khôi hài hơn nữa khi ai cũng biết rõ rằng “ngày xưa” đảng viên ít lắm, đông như bây giờ thì cũng chỉ chiếm 3% dân số. Vậy, nếu đảng viên chết hàng triệu (“hàng triệu” có nghĩa là phải từ hai triệu trở lên) thì dân chết hàng chục triệu sao? Và không lẽ sự nghiệp giải phóng, thống nhất đất nước chỉ do mỗi đảng viên làm?

Thứ hai, ông Nguyễn Chơn Trung cho rằng “vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế đã lớn mạnh hơn xưa nhiều lắm” bởi thành tích xóa đói giảm nghèo rất ấn tượng. Đọc đến đây thì chắc hẳn ai cũng phải nghẹn họng bởi cách viết nói lấy được không hề biết thế nào sự run rẩy của sự xấu hổ mỏng manh nhất: 30 năm sau chiến tranh, Nhật Bản là cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, Hàn Quốc là con rồng mới của châu Á, Cộng hòa LB Đức là nền kinh tế thứ ba...; còn ta, sau 38 năm, vẫn cứ mải mê mài miệt với sự tự sướng xóa đói giảm nghèo? Làm sao có vị thế lớn mạnh nếu chỉ loay hoay với xóa đói, giảm nghèo? Ông Nguyễn Chơn Trung không biết rằng tự hào xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới mà cứ tự ca xóa đói là tự vả vào mặt mình đấy – nếu không muốn nói là đang tiếp tục tự bóc trần bộ mặt thật để mặc hàng vạn người bị đói trong lúc xuất khẩu để vơ vét, làm giàu cho một thiểu số nhỏ nhoi. Và, đã xóa đói, giảm nghèo được chưa khi thu nhập thực tế của hàng triệu hộ gia đình nông dân hiện nay chỉ có 48.000 đồng/ngày – cho 4-5 miệng ăn?

Thứ ba, sự ngụy biện vô lối còn đáng hãi hơn nữa khi ông Nguyễn Chơn Trung triết lý trong cái gọi là thơ với những câu Đời cho ta trí óc thông minh/ Đời với ta như kiếm như gươm/ Ta đưa Đời đến vinh quang/ Đời làm ta quá phũ phàng vậy sao/ Đời làm ta lao đao lận đận/ Không bao giờ ta hận với Đời... Không biết “Đời” ở đây có thực là đời hay không vì ông Nguyễn Chơn Trung viết hoa hay ám chỉ một Đ nào đó nhưng thấy hao hao giống những câu khẩu hiệu lòe dân mà ai cũng biết. Chẳng hạn, trí thông minh là bẩm sinh của một con người, thừa hưởng từ mẹ, cha, ông bà, tiên tổ, từ Tạo Hóa chứ chẳng có Đ hay Đời nào mang đến được! Chẳng lẽ ông Nguyễn Chơn Trung không biết câu nói nổi tiếng của một danh nhân rằng một triệu kẻ ngu dốt cũng không thể có được một quyết định thiên tài? ông Nguyễn Chơn Trung chỉ đúng có duy nhất một điều (trong cả bài): Ta đưa Đời đến vinh quang/ Đời làm ta quá phũ phàng vậy sao (!)... 

Thay lời kết bằng điều đáng bàn thứ tư: ông Nguyễn Chơn Trung đã “ví von một cách hình ảnh” rằng với một căn nhà, khi cột, kèo bị mục nát thì có nên sửa chữa hay không? Thưa ông NCT, dột từ nóc, chỉ có nghèo kiết xác mới lấy mo cau mà trám cho cho đỡ ướt, chứ còn cột và kèo đã mục nát thì chẳng có bất kỳ người nào có vài phần trăm chất xám trong đầu lại đi sửa chữa cả. 

Chỉ có vất bỏ đi, thay mới thôi, thưa ông! 

Huế, 27.8.2013 
H.V.T.
Nguồn: BVN

 

Chú thích thêm: “Đồng chí Nguyễn Chơn Trung (Sáu Quang): nguyên Bí thư Thành Đoàn giai đoạn 1977 – 1981, Trưởng Ban quản lý KCX - KCN đầu tiên của TP.HCM, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban về Người Việt Nam ở nước ngoài TP.HCM, hiện là Viện phó Viện khoa học công nghệ Phương Nam (thuộc Liên hiệp Khoa học kỹ thuật Việt Nam). (Web Thành đoàn TPHCM). 

 

Ngoài ra, cũng có một bài báo nói về Bê bối ở Trường CĐ bán công Công nghệ và Quản trị doanh nghiệp TP.HCM - Bài 2: Tài sản chung biến thành của tư (TTVH), trong đó ông Nguyễn Chơn Trung nguyên là Chủ tịch HĐQT.

 

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

THƯ NGỎ CỦA ÔNG LÊ HIẾU ĐẰNG GỬI CÁC CƠ QUAN BÁO CHÍ


TP HCM, ngày 26 tháng 8 năm 2013

Kính gửi:  

- Các ông Giám đốc Đài Truyền hình Trung ương, TP HCM
- Tổng biên tập các báo Nhân dânQuân đội Nhân dânĐại đoàn kếtCông an Nhân dânSài Gòn Giải phóng và các báo do sự chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương đã và sẽ đăng bài phê phán bài viết Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh của tôi.

Thưa các ông/bà,

Sau khi trang mạng Bauxite Việt Nam và các trang mạng khác đăng bài Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh của tôi thì Đài Truyền hình Trung ương và TP HCM cùng nhiều tờ báo, trong đó có báo của quý ông/bà, dồn dập đưa tin hoặc đăng nhiều bài phê phán bài viết của tôi và chắc chắn trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều tờ báo nữa vào cuộc “đánh đòn hội chợ” này.

Để các tầng lớp nhân dân, trong đó có nhân sĩ, trí thức, hiểu rõ bài viết của tôi và có điều kiện so sánh với những bài phê phán đăng trên báo của các ông/bà, xem đúng sai thế nào, tôi đề nghị các ông/bà cho đăng công khai trên báo các ông/bà hai bài viết sau đây của tôi: Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh (bài có sửa chữa đăng ngày 17/8/2013 trên mạng Bauxite Việt Nam) và Những điều nói rõ thêm… (đăng ngày 19/8/2013 trên mạng Bauxite Việt Nam).

Tôi thấy các ông/bà cần làm điều này vì nếu phê phán bài viết của một người mà người đọc không biết bài viết nói gì, ngược lại, các ông/bà chỉ cắt xén vài đoạn rồi hô hoán, lên án thế này thế kia, thì hoá ra các ông/bà chơi trò “bỏ bóng đá người” mà tôi đã cảnh báo trong bài viết của mình. Và nếu các ông/bà không cho đăng (tôi biết chắc như vậy), thì hoá ra các ông/bà sợ sự thật: khi so sánh bài viết của tôi với các bài phê phán, nhân dân sẽ biết các ông/bà đã dối trá, ăn nói hàm hồ, quy chụp, chỉ là những tên bồi bút. Tôi thách các ông/bà đấy, các ông/bà có dám làm không, hỡi những tổng biên tập đầy quyền uy hiện nay!

Qua các bài viết trên báo các ông/bà, tôi thấy có ba điểm bị các ông/bà xuyên tạc, đánh lận con đen.

Một là, tôi chưa bao giờ phản bội lý tưởng mà cả một thời tuổi trẻ tôi và các bạn, các đồng đội của tôi, có người đã nằm xuống trong tù, trên chiến trường cũng như bao thế hệ cha anh đã theo đuổi. Đồng bào, chiến sĩ chúng ta đã hy sinh biết bao xương máu với hy vọng họ và con cháu được sống trong một xã hội lành mạnh, công bằng, ở đó con người đối xử với nhau một cách tử tế, các quyền sống, quyền con người được tôn trọng. Nhưng nay chúng ta đang sống một xã hội như thế nào? Bài viết của tôi, nhất là bài Những điều nói rõ thêm…, đã chứng minh – bằng những kinh nghiệm của một người đã hơn 45 năm sống và hoạt động trong hệ thống chính trị hiện nay – ai phản bội ai. Tôi rất mong các ông/bà công tâm xem xét. Tôi quan niệm rằng hiện nay đã có điều kiện để nhận biết cái đúng cái sai, mà vẫn u mê, mù quáng bào chữa cho cái ác, cái xấu, cái sai, thì đó là tội ác đối với dân tộc, với đất nước. Con cháu các vị sẽ nghĩ sao về các vị?

Hai là, trong hai bài viết nói trên, tôi chưa bao giờ nói là chống Đảng Cộng sản hoặc xoá bỏ Đảng Cộng sản. Tôi chỉ đề nghị Đảng Cộng sản nên chấp nhận đối lập chính trị, để phát triển một nền chính trị lành mạnh, phù hợp với xu thế phát triển hiện nay của thế giới. Không nên duy trì chế độ độc tài toàn trị, bóp nghẹt các quyền tự do, dân chủ của người dân mà chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng cam kết trước nhân dân trong Tuyên ngôn độc lập và trong Hiến pháp năm 1946.

Sau bài viết của tôi, ngày 23/8/2013, luật sư Trần Vũ Hải đã chính thức gửi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội bản “Đề nghị cho ý kiến về vấn đề thành lập và tham gia một đảng ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam dưới góc độ pháp luật Việt Nam”. Cũng như bao người khác, tôi đang chờ sự trả lời chính thức bằng văn bản của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, của Đảng và Nhà nước Việt Nam để với tư cách công dân, tôi có thể “sống và làm việc theo luật pháp” như khẩu hiệu mà báo các ông/bà thường hô hào. Tôi cũng đề nghị các ông/bà cho đăng văn bản của luật sư Trần Vũ Hải gửi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để nhân dân biết. Đây là văn bản gửi cho cơ quan trọng yếu của Quốc hội, một việc làm công khai, minh bạch, thì tại sao các ông/bà không dám đăng? Các ông/bà sợ cái gì? Sợ sự thật à? Chính các ông/bà là những người bưng bít, che giấu sự thật, thế mà còn cho tay sai bù lu bù loa thế này thế kia. Các ông/bà không có lòng tự trọng và liêm sỉ tối thiểu của người cầm bút sao?

Ba là, trong hai bài viết nói trên, không có chỗ nào tôi đòi lật đổ chế độ. Tôi viết rất rõ: “Chủ trương của chúng ta là ôn hòa, bất bạo động, chống lại các hành động quá khích, khủng bố, vũ trang lật đổ.” (Những điều nói rõ thêm…). Chấp nhận đa nguyên đa đảng, đấu tranh trong hoà bình, là để tạo cơ chế cho Đảng Cộng sản tự điều chỉnh, được nhân dân giám sát, ngăn chặn khuynh hướng lộng quyền và lạm quyền, là khuynh hướng vốn có của bất cứ một chính quyền nào, dù cộng sản hay không cộng sản, nếu không được các lực lượng của toàn xã hội giám sát. Nếu không giải quyết sớm, kịp thời, sẽ có nguy cơ bùng nổ những bạo loạn chính trị mà người dân sẽ là người trước tiên gánh chịu hậu quả.

Thưa các vị Giám đốc Đài Truyền hình, truyền thanh, Tổng biên tập các báo,

Các vị chịu trách nhiệm chính về nội dung những bài viết đăng trên báo của mình, nên không thể vì trên chỉ đạo “đánh ông Đằng bằng bất cứ giá nào” mà đi đăng những bài với luận cứ ngớ ngẩn, thiếu trung thực, chỉ làm trò cười cho thiên hạ.

Nhưng tôi cũng thành thực cảm ơn các ông/bà: nhờ báo các ông/bà phê phán tôi mà đông đảo quần chúng biết đến hai bài viết của tôi – những bài viết đã làm cho cả hệ thống báo chí, phát thanh, truyền hình đồng loạt tấn công trong một cơn lên đồng tập thể. Các vị nên biết rằng Việt Nam chúng ta hiện nay được xếp là một trong những nước mà người dân, nhất là giới trẻ, sử dụng rộng rãi Internet. Qua các bài báo phê phán tôi, các vị đã “quảng cáo” giúp tôi. Người dân sẽ nhờ con cháu, người quen cung cấp hai bài viết của tôi. Tôi tin rằng họ sẽ công minh, sáng suốt để phân định đúng sai.

Trân trọng, 
Lê Hiếu Đằng

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

HUỲNH PHAN: PHẢN BIỆN BÀI TRÊN BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN

Ai sai lầm, lệch lạc: Lê Hiếu Đằng hay Linh Nghĩa? 
Huỳnh Phan

25-08-2013

Trên báo Công an nhân Dân ngày 24/8/2013 có đăng bài ‘Nhiều sai lầm, lệch lạc trong bài viết trên giường bệnh của ông Lê Hiếu Đằng’ của tác giả Linh Nghĩa. Qua bài báo, không thấy tác giả vạch ra được chỗ sai lầm, lệch lạc thật sự nào trong bài viết của ông Lê HIếu Đằng mà chỉ thấy nhiều lệch lạc sai lầm của chính tác giả, xin được nêu những điểm chính như sau.

Ngay phần mở đầu bài viết tác giả đã cho thấy sự lệch lạc của mình khi cho rằng khi đọc phần đặt vấn đề của bài viết ông Lê Hiếu Đằng với câu ‘ …“tính sổ” với ĐCS VN và với bản thân cuộc đời của tôi, tư cách một đảng viên, một công dân ở những điểm cơ bản sau: một cách minh bạch, sòng phẳng để từ đây thanh thản dấn thân vô cuộc chiến mới’ thì ‘người đọc ngỡ ngàng rằng sắp có vụ thanh toán nhau của các băng nhóm tội phạm!’ Có lẽ do tác giả có kĩ năng đọc hiểu tiếng Việt quá kém hoặc là do bị ảnh hưởng của các chủ đề thường ngày trên các báo nhất ‘lề phải’, nhất là báo Công An, là ‘cướp, giết, hiếp’, một nét ‘ưu việt’ của xã hội ta, nên mới hiểu một câu trong ngữ cảnh về chuyện lớn lao của đời người ra chuyện hèn mọn, phi pháp. Một người với vốn tiếng Việt trung bình không ai lại hiểu như thế. Tiếp theo, tác giả lại chê bai bài viết là dài, kể lể, đọc sốt cả ruột… là những thứ thuộc về hình thức chẳng có liên quan gì tới việc sơ sót, lệch lạc về nội dung của nó. Rõ ràng hai điều này chỉ nhằm mục đích bêu rếu cá nhân hơn là phê phán nội dung bài viết nhưng có vẻ chỉ tác dụng ngược lại cho tác giả.

Bây giờ xin đi vào phần chính của bài viết nhưng chỉ xin điểm qua một số lập luận ‘mới’ của tác giả so với những bài đã đăng cùng chủ đề.

Trước nhất, khi đọc phần 1 của bài viết LHĐ tác giả đã ‘khái quát’ là ông LHĐ đã ‘phủ nhận mọi thành quả của cách mạng VN, đồng thời ca ngợi, [sic] chế độ cũ’. Tác giả không nêu ra được dẫn chứng nào cho việc ông LHĐ ‘phủ nhận mọi thành quả của cách mạng VN’, còn về ‘ca ngợi chế độ cũ’ tác giả dẫn chứng việc ông LHĐ nhắc lại vụ ông bị chính quyền cũ bắt giam nhưng vẫn cho ông ra đi thi. Ở đây ông Đằng chỉ nêu ra một việc có thật (có thể kiểm chứng được) từ kinh nghiệm của chính bản thân để cho thấy rằng chế độ hiện nay còn có điều chưa tốt so với chế độ cũ. Có lẽ theo quan niệm của tác giả, hễ là đã xem ai là ‘địch’ thì dù họ có ưu điểm, thế mạnh gì thì cũng không được phép nói ra và nếu nói ra sẽ là ca ngợi địch!

Thứ hai, để phản biện phần ‘đa nguyên, đa đảng’ tác giả nêu ra câu hỏi ‘Vì sao dưới chế độ kinh tế đa nguyên” thời Mỹ và tay sai ở miền Nam, người ta đã ra Đạo luật 10/59, “bắn bỏ tất cả bọn Cộng sản”, không cần xét xử?’ Hình như tác giả còn nhỏ tuổi nên không nắm được sự kiện hoặc thiếu tra cứu nên đã phạm sai sót khi viết điều này. Trước nhất, luật 10/59 được ra khi VNCH đã đặt trong tình trạng chiến tranh và thứ hai là luật này quy định việc lập ra các Toà án quân sự để xét xử nhanh ‘các tội ác chiến tranh chống lại Việt Nam Cộng Hòa’. Như vậy, đây là một luật trong thời chiến và người phạm tội có qua xét xử của Toà án [quân sự], dù có thể qua loa, chiếu lệ nhưng không phải không cần xét xử như tác giả viết sai. Và lưu ý rằng lúc đó ở miền Nam ‘bọn Cộng sản’ là một tổ chức có vũ trang, tuy chưa đủ sức thực hiện việc lật đổ chế độ VNCH nhưng cũng có các hoạt động ám sát, phá hoại mà theo quan điểm của nhà cầm quyền VNCH thì ít ra đó cũng là một tổ chức khủng bố, phiến loạn chứ không phải là một tổ chức chính trị đấu tranh qua nghị trường. Vì thế, người CS dĩ nhiên bị đặt ngoài vòng pháp luật, và do đó không thể coi là một đảng phái hợp pháp trong hệ thống đa đảng của VNCH như các đảng Đại Việt, VNQDĐ… Tác giả có lẽ quên rằng trong bất cứ chế độ nào, dù đa đảng hay không, việc lật đổ chính quyền bằng bạo lực đều không thể chấp nhận. Vì vậy, câu hỏi tác giả đưa ra như trên chẳng có giá trị gì trong phản bác mà lại cho thấy tác giả là người vừa kém hiểu biết vừa thiếu óc suy xét.

Ngoài ra, trong phần này tác giả cũng phê phán ông Đằng là ‘thách thức pháp luật và kêu gọi xóa bỏ chế độ hiện hữu, bao gồm cả vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.’ Để chứng minh cho luận điểm này tác giả đưa ra trích dẫn “[v]ậy tại sao chúng ta hàng trăm đảng viên không tuyên bố tập thể ra khỏi Đảng và thành lập một Đảng mới, chẳng hạn như Đảng Dân chủ xã hội… Tại sao tình hình đã chín mùi mà chúng ta không dám làm điều này vì chủ trương không đa nguyên đa đảng chỉ là chủ trương của Đảng, chứ chưa có một văn bản pháp lý nào cấm điều này? … Không thể rụt rè, cân nhắc gì nữa… Đây là cách chúng ta phá vỡ một mảng yếu nhất của một nhà nước độc tài toàn trị hiện nay.’’ Nếu không có vấn đề về đọc hiểu thì qua đoạn trích dẫn này (ngay cả khi tác giả đã cố ý gian lận bỏ bớt ý cũng rất quan trọng ‘[m]à nguyên tắc pháp lý là điều gì luật pháp không cấm chúng ta đều có quyền làm’) ai cũng có thể thấy ông Đằng chỉ đề xuất thành lập đảng mới dựa theo Hiến pháp và pháp luật hiện hành của chế độ (dù tính chất ‘của dân, do dân, vì dân’ của chế độ này còn phải xét lại). Chưa có văn bản pháp lí nào cấm thì người dân được phép làm, đó là nguyên tắc không có gì là thách thức ở đây. Và trong bài cũng hoàn toàn không thấy chỗ nào ông Đằng ‘kêu gọi xoá bỏ chế độ hiện hữu’. Về ‘kêu gọi xoá bỏ …. vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam’ cũng thế, ý ông Đằng trong bài chỉ muốn đảng CS phải phấn đấu cạnh tranh với các đảng phái khác, nếu có, để giành quyền lãnh đạo một cách chính danh chứ không phải tự nhân danh hay đúng ra mạo danh như hiện nay thôi (mấy bài phản biện trên báo QĐND, ND, ĐĐK vừa qua cũng chỉ nói lấy được chứ chẳng nêu ra được bằng chứng thuyết phục nào cho thấy nhân dân thừa nhận vai trò lãnh đạo này). Nhưng cũng lưu ý rằng với Hiến pháp và pháp luật hiện tại, ngay cả khi có đảng hay nhiều đảng mới ông Đằng cũng cho rằng đảng CSVN vẫn có khả năng lãnh đạo cho tới một tương lai không ngắn. Nếu vào một lúc nào đó đảng CS mất vai trò lãnh đạo chủ yếu chỉ là do tự đảng phấn đấu kém nên nhân dân không chọn lựa, chứ không ai lật đổ cả. Ngoài ra, tác giả cũng có nhắc nhở ông Đằng ‘pháp luật Việt Nam quy định rằng mọi tổ chức chính trị xã hội đều phải đăng ký, xin phép Nhà nước, kể cả các tôn giáo’. Có lẽ tác giả nên nhắc nhở điều này đối với đảng CS của tác giả trước. Đảng này chủ trương xây dựng một nhà nước pháp quyền nhưng đã và đang hoạt động theo mặc định như thời chiến tranh, chẳng theo khuôn khổ pháp lí nào cả và do đó cũng không có việc đăng kí. Thật ra, theo nghiên cứu của luật sư Trần Vũ Hải thì không có luật pháp hiện hành nào của VN có quy định việc thành lập đảng chính trị phải được sự cho phép hay công nhận từ nhà nước. Hơn nữa, qua bài ông Đằng cũng không có ý nào là không tuân thủ các quy định, luật lệ đang có của chế độ.

Thứ ba, để bác bỏ lời phê phán ông Đằng về thái độ của đảng CS và Chính phủ trong vấn đề biển Đông, tác giả lập luận ‘phải hiểu được Việt Nam cần có một chiến lược thông minh, kết hợp sức mạnh “cứng” với sức mạnh “mềm” mới có thể bảo vệ được lãnh hải của mình. Chẳng lẽ Việt Nam mua tàu ngầm Kilo, máy bay SU 30, tên lửa S.300 là trò chơi ảo trên mạng!’ Sức mạnh ‘cứng’, sức mạnh mềm là gì trong khi TQ bắt bớ, đánh đập ngư dân ta đánh cá ngay trong vùng biển truyền thống, đơn phương cấm bắt đánh bắt cá trong vùng biển thuộc chủ quyền VN, chiếm đóng, xây dựng phi pháp trên đảo của VN… mà chính phủ vẫn làm ngơ hay chỉ phản đối chiếu lệ, còn khi dân chúng thể hiện lòng yêu nước qua việc biểu tình ôn hoà lại bị đàn áp không thương tiếc. Đó có phải là ‘hèn với giặc, ác với dân’ không? Tàu ngầm, máy bay, tên lửa sẽ chẳng là gì khi nhân dân không đồng lòng cùng chính quyền chống giặc như lịch sử cho thấy, chưa kể việc mua sắm các trang bị này có thể chỉ là cách hợp pháp để cho các tay to, mặt lớn của đảng có dịp ‘phết phẩy’ kinh phí quốc phòng vào túi riêng.

Thứ tư, trong nội dung chính cuối cùng tác giả tóm tắt phần cuối bài viết của ông Đằng ‘trong đoạn này, LHĐ kể về “bản lĩnh” của bản thân và những sai lầm khuyết điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều giai đoạn đã qua. Đồng thời chép lại những “khuôn mẫu” của thể chế “đa nguyên”, “tam quyền phân lập” đầy rẫy trên mạng ai cũng biết.’ Đây là một tóm tắt khá mập mờ, nhất là cách dùng từ ‘đồng thời’ khiến người đọc có thể hiểu tác giả ngầm chấp nhận những điều mà ông Đằng viết trong đoạn này, kể cả những sai lầm, khuyết điểm của đảng CSVN! Sau đó, tác giả dẫn “Con người khác con vật ở chỗ là có tự do. Tự do là thuộc tính của con người. Không có tự do thì con người chỉ là một đàn cừu (theo ngôn ngữ của Giáo sư Toán học Ngô Bảo Châu)…” và phán ‘[đ]áng tiếc LHĐ lại nhận thức về tự do của thời kỳ tiền sử – xin lỗi có thể nhận định này hơi quá đáng! Đặc trưng của con người, của loài người không chỉ ở, không chủ yếu ở cái gọi là “tự do” như LHĐ nói mà chính là ở ý thức về mối quan hệ cá nhân với tổ chức xã hội, với Tổ quốc, dân tộc và cộng đồng của mình.’ Đọc kĩ phần trích dẫn và đọc suốt đoạn này cũng như cả bài của ông Đằng, khó ai có thể hiểu được tác giả lấy từ chi tiết nào để phán ‘LHĐ lại nhận thức về tự do của thời kỳ tiền sử‘ hoặc ông Đằng không ý thức ‘về mối quan hệ cá nhân với tổ chức xã hội, với Tổ quốc, dân tộc và cộng đồng của mình’. Rõ ràng tác giả chỉ nói lấy được mà thôi.

Phải nói đây là một bài phản biện hết sức ‘củ chuối’ về nội dung. Về mặt hình thức, bài viết cũng không khá gì hơn. Tác giả và ban biên tập tập báo để những lỗi hết sức ngớ ngẩn và sơ đẳng về chính tả, dùng từ… chẳng hạn để/ không để dấu câu đúng chỗ, dùng từ ngọng ‘tựu chung’ thay vì từ đúng ‘tựu trung’, thậm chí lại dùng cả từ tiếng Anh từ ‘Mr’ thay vì ‘ông’ trong bài báo tiếng Việt này…

Có lẽ trước thực tế ‘bầy hầy‘ của chế độ hiện tại khó ai có thể đưa ra một phản biện logic, thuyết phục ngoài việc nguỵ biện hoặc nói lấy được nên các giáo sư, tiến sĩ lí luận của đảng dù ăn bổng lộc bao năm nay đã không dám mở miệng phản bác vì sợ ô danh hay lo có hệ luỵ tương lai. Vì thế, các báo lớn không có cách nào khác hơn là tìm những kẻ vô danh, tiểu tốt, ‘chịu đấm ăn xôi’, chẳng biết ‘trời cao đất dày’ là gì để làm chuyện phản biện ‘chữa cháy’ vượt quá khả năng của họ.

H.P.

(* Những chỗ nhấn mạnh trong cách trích dẫn là do người viết thêm vào) 
Nguồn: Ba Sàm

Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2013

LÊ HIẾU ĐẰNG: BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN "BỎ BÓNG ĐÁ NGƯỜI"

Ông Lê Hiếu Đằng: 
Báo Quân đội Nhân dân 'bỏ bóng đá người'

Bài viết “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh” của ông Lê Hiếu Ðằng, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, là đề tài được truyền thông Việt ngữ khắp nơi bàn tán sôi nổi trong mấy ngày gần đây. Bài viết mà ông Đằng nói ông gửi cho “bạn bè, đồng đội, nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên SVHS Việt Nam”, kêu gọi họ hãy dấn thân hành động để đoàn kết dân tộc và xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

Phỏng vấn ông Lê Hiếu Ðằng

Với bài viết mang tựa đề “Màn tung hứng vụng về” trên báo Quân đội Nhân dân số ra hôm nay, thứ Sáu 23 tháng 8, tác giả đã mạnh mẽ đả kích những nhận định của ông Đằng. Nội dung chỉ trích bài “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh” của ông Lê Hiếu Đằng, một đảng viên kỳ cựu có trên 40 tuổi Đảng, là “đầy những lỗi tư duy, lập luận phiến diện, hàm hồ, ấu trĩ”.

Trong một cuộc điện đàm với Ban Việt ngữ VOA, ông Lê Hiếu Đằng nói ông đã trình bày rõ ràng tất cả những gì muốn nói trong bài viết, và giờ đây sẵn sàng tranh luận công khai, nhưng không muốn đáp những chỉ trích của báo Quân đội Nhân Dân. 

“Quan điểm của tôi là nếu anh muốn tranh luận công khai thì anh hãy tạo điều kiện, diễn đàn đàng hoàng. Tôi và một số bạn bè tôi sẽ tranh luận công khai. Còn nếu anh chơi kiểu gọi là "bỏ bóng đá người" thì tôi không có nói, không tranh luận làm gì, bởi vì các trang mạng người ta cũng đã thấy cái việc đó không đúng, người ta nói rồi thì tôi nói cũng lặp lại những ý đó thôi. Mà tôi là người trong cuộc thành ra không hay lắm, không khách quan… thì thôi cứ để cho dư luận, công luận người ta phê phán thôi, phải không. Chuyện đó tôi nói rất rõ ràng rồi: tôi đấu tranh rất ôn hòa, công khai minh bạch chứ ai kêu gọi vũ trang hay lật đổ gì đâu!”.

Tác giả Phạm Trung, người viết bài trên tờ Quân đội Nhân dân, nói bài viết của ông Đằng có thể bị các nhóm mà tờ báo nhà nước mô tả là “dân chủ” trong ngoặc kép, khai thác để gây xáo trộn và đổ máu tại Việt Nam. Ông Lê Hiếu Đằng:

“Bây giờ cái khuynh hướng bạo lực ấy không ai chấp nhận được. Thành ra trên trang mạng có những ý kiến quá khích, chửi bới tụi tôi, nhưng mà chúng tôi không để ý. Bây giờ cái thời đại này là cái xu thế là phải đoàn kết để xây dựng đất nước. Cái xu thế đó đang lên thành ra cực đoan của cả hai bên đều không thể chấp nhận được, thành ra tôi để ngoài tai những việc đó, không đáng cho mình nói. Những điều mà tôi muốn nói tôi nói rất rõ rồi. Từng câu từng chữ từng ý rất rõ. Tôi viết tôi phân tích từng điểm một mà, chính trị, rồi mặt xã hội rồi mặt độc lập và chủ quyền dân tộc, tôi nói rất rõ rồi không cần phải nói gì thêm”.

Báo Quân đội Nhân dân, tiếng nói của lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam, còn nói rằng bài viết của ông Lê Hiếu Đằng là một lời hiệu triệu, sẽ “lôi kéo, kích động gây xáo trộn xã hội dẫn tới cảnh nồi da xáo thịt, thây chất đầy đồng, máu chảy thành sông ” như cảnh đã diễn ra ở các nước Syria, Libya, và Ai Cập.

  

BÁO QĐND “ĐÓI ĂN VỤNG, TÚNG LÀM LIỀU”?

Thanh Tùng

clip_image002
Ông Lê Hiếu Đằng
Trong những ngày vừa qua, trên các phương tiện truyền thông (từ lề trái, lề phải trong nước cho đến báo chí nước ngoài) đã “dậy sóng” chỉ bởi 7 chữ: “SUY-NGHĨ-TRONG-NHỮNG-NGÀY-NẰM-BỆNH” của ông Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, nguyên Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP HCM. Vậy 7 chữ trên chứa chất những nội dung gì mà có sức kích thích mạnh mẽ khiến dư luận “dậy sóng” lên như vậy, đặc biệt là cây bút “lề phải” có tên Trọng Đức, qua bài viết: "Đôi điều với tác giả “Viết trên giường bịnh"”, đăng trên qdnd.vn ngày 18/08/2013. Chưa dừng đó, ngày 20/08/2013, qdnd.vn lại tiếp tục đăng bài: “Kiến nghị lỗi thời, nhận thức sai lệch”, với lời dẫn: “Dư luận phê phán tác giả Lê Hiếu Đằng” lại một lần nữa khiến cho các cây bút phản biện “dậy sóng” trên các diễn đàn uy tín: BVN, basamnews, bolapquechoa, xuandienhannom…

Phải thừa nhận rằng, hầu hết các cây bút như Vũ Thị Phương Anh, GS. Nguyễn Văn Tuấn (Úc), Đỗ Như Ly, nguyenhuuvinh, Trung Nghĩa… đều đưa ra các căn cứ và lập luận bằng những lý lẽ thuyết phục mà khó ai có thể bác bỏ. Tuy nhiên, theo tôi, những tác giả trên đã chưa “khách quan” với qdnd.vn, bởi họ chỉ biết “bóc trần trụi sự thật” đang diễn ra mà qdnd.vn và các tờ báo chính thống không dám đụng tới, mà không nhìn nhận công trạng của qdnd.vn, là đã dũng cảm “tố cáo” thực trạng ngành giáo dục Việt Nam hiện thời.

VÌ SAO TÁC GIẢ TRỌNG ĐỨC “GIÃY NẢY” LÊN THẾ?

Đọc “Suy nghĩ trong những ngày nằm bệnh” của ông Lê Hiếu Đằng dài khoảng 12 trang đánh máy trên giấy khổ A4, trước hết tôi cảm nhận được một điều rằng: từng từ, ngữ đến câu trong “Suy nghĩ trong những ngày nằm bệnh” là ông “vắt ra từ máu thịt” của ông – một người phấn đấu cho lý tưởng cộng sản gần hết cả đời người, chứ không phải ông nói khơi khơi theo cảm hứng kiểu nghệ sỹ, nhà thơ, nhà văn.

Ngay những dòng đầu tiên ông ông Lê Hiếu Đằng viết, tôi đã cảm nhận được nhịp đập con tim ông thôi thúc khiến dòng máu trong người ông rần rần chảy theo: “Sau hơn 45 năm chiến đấu trong hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam, với 45 tuổi Đảng, những trải nghiệm cay đắng mà tôi cùng nhiều bạn bè nữa trong phong trào học sinh sinh viên trước 1975 đã chịu đựng... Trong lúc nằm bịnh tôi đọc quyển Chuyện nghề của Thủy của đạo diễn Trần Văn Thủy, các truyện của các nhà văn quân đội như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Trần Dần… đã giục giã tôi viết những dòng này…”. 

Rồi ông viết tiếp: “… Các nhà văn đã cho tôi thấy thêm sự bi thảm của thân phận con người trong cái gọi là CNXH ở miền Bắc, một xã hội không có bóng người… Con đường mà tôi cùng nhiều bạn bè, đồng đội đã lựa chọn, con đường tiếp tục đấu tranh cho lý tưởng thời trai trẻ và một xã hội công bằng tự do dân chủ. Ở đó con người sống với nhau một cách tử tế, thật sự được giải phóng từ người nô lệ thành người làm chủ của đất nước…” – rõ ràng ông đang trăn trở và đau chung nỗi đau của Dân tộc. Ông cũng rất thành thật rằng, ông cùng nhiều trí thức đi kháng chiến vì lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của ông Hồ Chí Minh, chứ họ ít hoặc chưa biết chủ nghĩa Marx là gì, CNXH ra sao! Nhưng ông Lê Hiếu Đằng cùng đồng đội của ông hy vọng sau khi kháng chiến thành công sẽ xây dựng một xã hội dân chủ, tự do, tiến bộ, hạnh phúc mà trong tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp năm 1946 ông Hồ Chí Minh đã trịnh trọng cam kết trước toàn dân tại Ba Đình lịch sử. Đọc đến đây tôi vẫn chưa hiểu tại sao tác giả Lê Hiếu Đằng lại làm tác giả Trọng Đức giãy nảy lên như thế, bởi ông nói quá đúng với những gì đã và đang diễn ra.

Khi đọc đến những dòng nói về một kỷ niệm khó quên của tác giả Lê Hiếu Đằng, đó là: “… ba tôi và mẹ Lý Thiện Sanh nóng lòng vì đã đến kì thi Tú tài II nhưng chúng tôi vẫn bị nhốt trong tù. Vì vậy ông bà làm đơn hú họa xin hai chúng tôi ra thi. Thế mà chính quyền Thừa Thiên-Huế lúc đó lại giải quyết cho ra thi… Tôi không biết với chế độ gọi là “ưu việt” hiện nay có người tù nào đã được cho ra đi thi như chúng tôi hay không?”. Rồi ông Lê Hiếu Đằng viết tiếp: “Sau một thời gian dài Đảng và nhà nước Việt Nam nhận chìm các tầng lớp nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam dưới chế độ quản lý kinh tế bao cấp, đi ngược lại tất cả quy luật tự nhiên, cop-py mô hình kinh tế của Liên bang Xô viết và Trung Quốc cộng sản 100%. Dân chúng đói kém rên xiết. Các đợt cải tạo tư sản X1, X2 đã làm tan nát biết bao gia đình, làm dòng người vượt biên ngày càng nhiều và biết bao gia đình phải chết tức tưởi trên biển hoặc bị bọn cướp biển hãm hiếp làm nhục trước mặt chồng con. Có thể nói tất cả điều đó là tội ác của Đảng và Nhà nước Việt Nam, không thể nói khác được”. 

Sau khi đọc hết bài của ông Lê Hiếu Đằng, tôi có thể nhận thấy 2 điều cơ bản: một là, ông Lê Hiếu Đằng dám tố cáo, bêu xấu “thiên đường” mà chúng ta đang sống; và hai là, ông Lê Hiếu Đằng dám kêu gọi đa nguyên, đa đảng – điều mà Đảng Cộng sản Việt Nam không hề muốn và không bao giờ muốn.

Sau khi qdnd.vn đăng tải bài viết của ông Trọng Đức, “Báo chí lề trái” đã không thể kềm chế được không chỉ bởi những lý luận rập khuôn kiểu “nhai đi nhai lại”, thiếu căn cứ thuyết phục và thiếu cả tính logic (mà trong phản biện không thể thiếu), của ông Trọng Đức.

Bài phản biện đầu tiên tôi đọc được là “Đôi điều với tác giả của “đôi điều với tác giả…”, của tác giả Vũ Thị Phương Anh, đăng trên bolapquechoa. Tác giả Vũ Thị Phương Anh đã đưa ra những căn cứ phản biện và lập luận khá thuyết phục, tôi tin là nó đủ sức làm cho hai hàm răng của tác giả Trọng Đức lập cập không thể thốt thành lời, tay run rẩy không thể gõ bàn phím. 

Trong "Đôi điều với tác giả “Viết trên giường bịnh"”, của tác giả Trọng Đức có đoạn: “Thực tế, với tuổi đời như ông Đằng, chắc ông cũng thừa hiểu, trong thế giới hiện nay, hầu như chẳng có nước nào, kể cả những nước đang tự vỗ ngực là dân chủ và muốn áp đặt kiểu dân chủ của mình làm ‘khuôn vàng, thước ngọc’ cho toàn thế giới, cho phép tù nhân đang thụ án ra tù để đi thi đại học. Ở Việt Nam cũng vậy”. Lập tức, lý lẽ và căn cứ trongTù nhân và tự do học hành” của GS. Nguyễn Văn Tuấn, trên bolapquechoa (nguồn: FB Nguyễn Văn Tuấn), ngày 20/8/2013, Đỗ Như Ly với: Thời nào, chuẩn nào”, nguyenhuuvinh với: “Qua hiện tượng Từ Ngọc Lương: Khốn thay cho nền giáo dục và cơ đồ đất nước”, Trung Nghĩa với: “Báo Quân đội Nhân dân hãy thôi cái trò định hướng dư luận đi!”, như những tia sét bồi thêm một cách trực tiếp vào bộ não và cái miệng của “con vẹt” có tên Trọng Đức, làm cho “con vẹt” ấy đến giờ vẫn chưa thể và chắc chắn là không thể mở được miệng.

GS. Nguyễn Văn Tuấn đưa ra căn cứ rất cụ thể: “Chẳng những tù nhân được theo học đại học, mà Nhà nước và các đại học còn chủ động đem giáo dục đến cho họ. Chẳng hạn như ở bang Nam Úc, Đại học Flinders còn có chương trình dự bị đại học cho những tù nhân chưa có bằng trung học, để trong thời gian thụ án, họ có thể tiếp tục học đại học. Những nước đó (Úc, Anh, Mĩ) không “tự vỗ ngực là dân chủ”. Họ thậm chí còn không có những tiêu đề như “Độc lập, tự do, hạnh phúc” dưới quốc danh. Nhưng họ xem đem giáo dục đến tù nhân (không phải “giáo dục tù nhân” hay “cải tạo tù nhân”) là một vấn đề nhân quyền…”.

Cách giải thích về dân chủ của ông Trọng Đức: “Trên thực tế, dân chủ không phụ thuộc vào chế độ độc đảng hay đa đảng mà nó phụ thuộc vào bản chất chế độ cầm quyền phục vụ giai cấp nào”, đã khiến Gs. Nguyễn Văn Tuấn phải thừa nhận là ông lúng túng vì không biết logic của câu này ra sao. Vì, dân chủ là một hệ thống chính trị mà trong đó sự cạnh tranh quyền lực được diễn ra một cách công minh, là hệ thống chính trị mà người dân cho quyền chọn và truất phế người lãnh đạo và lãnh đạo phải có trách nhiệm với xã hội và người dân. Bởi vì bản chất là cạnh tranh, nên đa đảng là điều tất yếu…

“ĐÓI ĂN VỤNG, TÚNG LÀM LIỀU”!

Khi đăng bài "Đôi điều với tác giả “viết trên giường bệnh"” của tác giả Trọng Đức và bài “Dư luận phê phán tác giả Lê Hiếu Đằng: Kiến nghị lỗi thời, nhận thức sai lệch”, khách quan mà nói, báo QĐND vừa có “công” lại vừa có “tội”.

Thứ nhất, tội của Báo QĐND là: vi phạm Điều 2. Luật Báo chí qui định về việc Bảo đảm quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình…”. Lẽ ra, trước khi đăng bài viết “phê phán” của tác giả Trọng Đức và phản hồi của “dư luận” (là 05 vị lên tiếng đều là đảng viên Đảng cộng sản Việt nam), thì Báo QĐND phải đăng hoặc dẫn nguồn bài “Suy nghĩ trong những ngày nằm bệnh” của ông Lê Hiếu Đằng để rộng đường dư luận. Có nghĩa là, Báo QĐND không chỉ vi phạm Điều 2. Luật Báo chí về Bảo đảm quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, mà còn vi phạm nguyên tắc không trung thực, khách quan – những nguyên tắc đạo đức cốt lõi của nhà báo. 

Trong cái gọi là “dư luận lên tiếng phê phán ông Lê Hiếu Đằng” của Báo QĐND chứa chất sự “mờ mờ, ảo ảo” về nhân thân, không đầy đủ thông tin và hình ảnh của nhân vật lên tiếng để thuyết phục người đọc. 

Nếu Báo QĐND đọc được những dòng trên đây rất có thể sẽ phản biện rằng: “chúng tôi tuân thủ Điều 7. Luật Báo chí qui định về Cung cấp thông tin cho báo chí, trong đó đoạn 3 của Điều 7 Luật Báo chí qui định: “Báo chí có quyền và nghĩa vụ không tiết lộ tên người cung cấp thông tin nếu có hại cho người đó, trừ trường hợp có yêu cầu của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân hoặc Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và tương đương trở lên, cần thiết cho việc điều tra, xét xử tội phạm nghiêm trọng”. 

Xin thưa, Điều 7 Luật Báo chí qui định như thế là để bảo vệ những công dân trung thực và dũng cảm chống tiêu cực, tố cáo bọn quan tham... Còn 05 người lên tiếng “phê phán” ông Lê Hiếu Đằng đều là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, trong đó có một “ông tướng”, họ đều nói lên “ý chí của Đảng”, nếu ai đụng đến họ cứ gọi là tù rũ xương, việc gì phải “giấu giấu, giếm giếm” về nhân thân của họ như vậy? Phải chăng, Báo QĐND đang rơi vào tình cảnh “đói ăn vụng, túng làm liều?”.

BÁO QĐND ĐÃ GIÁN TIẾP TỐ CÁO “CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM” CỦA NGÀNH GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN THỜI

Thứ hai, cũng phải khách quan mà ghi công của Báo QĐND là báo này đã có công gián tiếp “tố cáo” chất lượng “sản phẩm” của ngành giáo dục Việt Nam hiện thời qua bài “Dư luận phê phán tác giả Lê Hiếu Đằng: Kiến nghị lỗi thời, nhận thức sai lệch”. 

Trước đây, ông Trần Đăng Thanh - Đại tá - Phó GS.TS. - Nhà giáo ưu tú (công tác ở Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng), khi diễn thuyết về tình hình Biển Đông cho các lãnh đạo Đảng ủy khối, lãnh đạo Đảng, Tuyên giáo, Công tác chính trị, Quản lý sinh viên, Đoàn, Hội Thanh niên các trường Đại học - Cao đẳng Hà Nội, đã tạo nên “cơn lốc” dư luận. Nay, Thiếu tướng - TS. Từ Ngọc Lương - Hiệu trưởng Trường Đại học Nguyễn Huệ, thạc sĩ Phạm Văn Thiết (TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh); Đỗ Thị Kiều Phương, giảng viên Học viện Tài chính; đảng viên Trần Ngọc Tiến, sinh viên Trường Đại học KHXH và NV TP.HCM trong bài “Dư luận lên tiếng phê phán tác giả Lê Hiếu Đằng: Kiến nghị lỗi thời, nhận thức sai lệch” đều có trình độ cao ngất ngưởng: Phó GS.TS, ThS. giảng viên đại học, thấp nhất cũng là sinh viên đại học, nhưng phát biểu thiếu căn cứ thuyết phục, không logic và lập luận theo kiểu khuôn mẫu từ cái lò “lý luận trung ương”, thậm chí là nói bừa, nói lấy được. 

Xin nêu vài ví dụ: Thiếu tướng, TS. Từ Ngọc Lương (và rất nhiều quan chức) phát biểu: “Nhân dân Việt Nam không cần đa nguyên, đa đảng” – cần phải khẳng định ngay đây là sự mạo danh một cách trơ trẽn và trắng trợn. Nếu như tôi hỏi Thiếu tướng, TS. Từ Ngọc Lương căn cứ vào đâu để nói rằng: “Nhân dân Việt Nam không cần đa nguyên, đa đảng” thì liệu ông có câu trả lời bằng những căn cứ thuyết phục? 

Họ phát biểu “y chang” nhau: “Đâu phải cứ nhiều đảng là có dân chủ” (ông Đào Văn Luật, nguyên Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam phường 12, quận 3, TP Hồ Chí Minh), “Trên thực tế, dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng, mà phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền” (ThS. Phạm Văn Thiết, TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh).  

Điều làm tôi và nhiều người kinh ngạc là lý lẽ của giảng viên Học viện Tài chính Đỗ Thị Kiều Phương: “Không thể có tự do tuyệt đối!”.

Vị giảng viên này lập luận: “…Không ai có thể biện minh cho quyền tự do của mình khi dùng quyền ấy để ảnh hưởng tới quyền tự do của người khác. Nói cách khác, đòi hỏi quyền tự do tuyệt đối, nghĩa là sẽ có sự xâm phạm tới quyền tự do của người khác. Nếu ai cũng đòi quyền tự do ngôn luận theo kiểu thích nói gì thì nói, dẫn tới được “tự do” xúc phạm nhân phẩm người khác, “tự do” phao tin đồn nhảm, làm mất ổn định kinh tế, xã hội, thì hậu quả khôn lường…”. 

Tôi dám khẳng định chắc chắn 100% không có ai lên tiếng “đòi vi phạm pháp luật” cả, họ chỉ đòi cái quyền của họ - quyền công dân - mà được Nhà nước long trọng ghi vào Hiến pháp và Luật, mà chính Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm thực hiện. Thật sự tôi không thể tưởng tượng được trình độ nhận thức của một giảng viên tầm cỡ Học viện lại không bằng nhận thức của một học sinh phổ thông THCS, thậm chí ở lứa tuổi tiểu học các em đã được gia đình và nhà trường giáo dục về quyền tự do cá nhân của mỗi người mà không ai có quyền xâm phạm. Chẳng lẽ một giảng viên Học viện mà lại không biết là những quyền tự do của công dân Việt Nam đã được Hiến pháp và Luật Việt Nam bảo vệ. Thậm chí Bộ luật Hình sự hiện hành Qui định rất rõ về “Tội vu khống” tại Điều 122 Bộ luật Hình sự hiện hành. Hơn thế nữa, Bộ luật Hình sự còn dành cả một chương: CHƯƠNG XIII CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN”. 

Phải chăng, báo QĐND đăng các bài: "Đôi điều với tác giả “Viết trên giường bịnh"” “Dư luận lên tiếng phê phán tác giả Lê Hiếu Đằng: Kiến nghị lỗi thời, nhận thức sai lệch” như một thông điệp gián tiếp “tố cáo” chất lượng “sản phẩm” của ngành giáo dục hiện thời?

T.T.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN