Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngoại giao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngoại giao. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

QUAN HỆ VIỆT TRUNG THỜI KỲ MỚI: MỪNG ÍT LO NHIỀU

Quan hệ Việt Trung thời kỳ mới: mừng ít lo nhiều
Nam Nguyên, phóng viên RFA 2013-10-18 

Chuyên gia phản ứng khá thận trọng, nếu không muốn nói là đầy hoài nghi đối với quan hệ Việt-Trung thời kỳ mới, qua Tuyên bố chung 10 điểm ngày 15/10 tại Hà Nội kết thúc chuyến thăm của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường. 

Sử dụng chiến thuật

Hầu hết báo chí do Chính phủ kiểm soát đều đưa tin lớn về những thỏa thuận được cho là, mang tính cách mở rộng hợp tác kinh tế thương mại cùng lúc hạ nhiệt tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và Việt Nam. Tuyên bố chung Lý Khắc Cường-Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh nguyên tắc giải quyết tranh chấp trên biển Việt-Trung với những lời lẽ đầy tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế, tuân thủ tinh thần Công ước Quốc tế về Luật Biển hoặc tinh thần Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông COC.

Về vấn đề vừa nêu, GSTS Nguyễn Thế Hùng nhà hoạt động xã hội dân sự, đồng sáng lập trang mạng Bauxite Việt Nam từ Đà Nẵng nhận định,  đối với chính sách của Trung Quốc, Việt Nam luôn luôn phải nghi ngờ thiện chí của họ nhất là trong tình hình hiện nay. Việt Nam chẳng là gì dưới mắt Trung Quốc, theo ông Việt Nam phải hiểu rõ điều này và cần khôn khéo thể hiện đại đoàn kết dân tộc, phải theo thể chế dân chủ để đất nước hùng mạnh thì mới có thể sinh tồn bên cạnh Trung Quốc. GSTS Nguyễn Thế Hùng nhấn mạnh:
Không phải họ mềm dẻo xuống thang hoặc tôn trọng vấn đề luật pháp quốc tế đối với VN, mà họ đang sử dụng chiến thuật trong lúc phải đối phó Nhật Bản và Philippines. - GS Nguyễn Thế Hùng
“Theo tôi không phải họ mềm dẻo xuống thang hoặc tôn trọng vấn đề luật pháp quốc tế đối với Việt Nam, mà họ đang sử dụng chiến thuật trong lúc phải đối phó Nhật Bản và Philippines, hoặc để cho thế giới không thấy được dã tâm của họ. Chiến lược cuối cùng của họ là khuất phục Việt Nam, làm cho Việt Nam suy yếu để đạt mục đích cuối cùng là lái Việt Nam đi theo hướng của họ chứ không thực sự ích lợi cho Việt Nam.”

Về quan hệ thương mại kinh tế, theo tuyên bố chung, Trung Quốc hứa huy động vốn cho Việt Nam phát triển nhiều dự án khu công nghiệp và các tuyến giao thông trọng yếu nối vùng biên giới Trung Quốc với Hà Nội; thúc đẩy doanh nghiệp hai bên đầu tư qua biên giới. Hai Thủ tướng Trung Quốc và Việt Nam hứa hẹn hoàn thành trước thời hạn mục tiêu đến năm 2015 kim ngạch thương mại hai chiều đạt 60 tỷ USD.

Đáp câu hỏi của chúng tôi là Việt Nam luôn nhập siêu từ Trung Quốc hơn chục tỷ USD mỗi năm, vậy làm sao có thể cân bằng thương mại song phương lại vừa nâng kim ngạch ở mức lớn lao như vậy. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từ Hà Nội nhận định:

“Riêng về thương mại tôi nói thật, mỗi khi lãnh đạo hai bên gặp nhau cứ hứa hẹn đẩy kim ngạch thương mại lên bao nhiêu…bao nhiêu, kể cả phía Trung Quốc hứa hẹn tăng cường nhập khẩu từ Việt Nam thì vẫn làm cho tôi thấy lo nhiều hơn là mừng. Tại sao vậy, bởi vì lâu nay Việt Nam chủ yếu là nhập siêu từ Trung Quốc và mức nhập siêu càng ngày càng lớn càng nặng nề. Kể cả trong mấy năm gần đây khi mà kinh tế khó khăn, nhập khẩu của Việt Nam giảm xuống, thậm chí có năm Việt Nam còn xuất siêu được vài trăm triệu đô la nhưng vẫn nhập siêu từ Trung Quốc như thường và số tiền nhập siêu từ Trung Quốc vẫn rất lớn. Như vậy chứng tỏ cải thiện kim ngạch rất khó.” 

Lo nhiều hơn mừng   

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan tỏ ra thận trọng về khả năng Trung Quốc gia tăng nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam. Bà nói: 

“Ngay cả khi Trung Quốc hứa hẹn tăng cường nhập khẩu từ Việt Nam, để cho Việt Nam cải thiện cán cân thanh toán với Trung Quốc thì tôi vẫn lo. Bởi vì  Trung Quốc chủ yếu muốn mua hàng nguyên liệu thô của Việt Nam, nào là khoáng sản đào bới tài nguyên thiên nhiên lên để bán cho họ như là bauxite chẳng hạn hay là các khoáng sản khác. Rất nhiều thứ khoáng sản của Việt Nam đã được khai thác và xuất thô sang Trung Quốc rồi, làm cho nguồn tài nguyên khoáng sản của Việt Nam cạn kiệt rất nhanh. Tuy Trung Quốc cũng mua một số mặt hàng khác như nông sản nhưng chủ yếu cũng là hàng thô chưa qua chế biến; riêng cách mua nông sản không những làm cho Việt Nam thiệt thòi mà nhiều khi còn gây khó bằng cách là, có khi họ đưa giá lên rất cao mua ào ạt, rồi đùng một cái dừng lại không mua tiếp nữa, làm cho nông dân khi lỡ sản xuất ra rồi không làm thế nào được. Thế rồi những thủ tục khó khăn tạo ra ở biên giới, như là thanh long hiện nay đang đọng lại ở biên giới chẳng hạn,  là những cách gây khó cho nông sản Việt Nam.”

Bà Phạm Chi Lan lý giải thêm về lý do bà cảm thấy lo nhiều hơn mừng, khi hai phía Việt Nam và Trung Quốc thỏa thuận mở rộng hợp tác thương mại. Bà nói:
Nghe hai bên cam kết sớm đạt được mức kim ngạch 60 tỷ USD, thực sự tôi không cảm thấy mừng mà thậm chí còn cảm thấy lo.  - Bà Phạm Chi Lan
“Dù có tuyên bố tăng cường nhập khẩu nhưng điều đó chưa chắc có thể tạo khả năng xuất khẩu trả nợ cho Việt Nam sang Trung Quốc, từ đó có thể giúp cải thiện được cán cân thanh toán. Cho nên nói lên một con số thì dễ, nói lên ý chí hoặc mong muốn của hai bên thì dễ, nhưng mà cách thức thực hiện như thế nào và đàng sau nó là tất cả những biện pháp như thế nào để tạo được một cán cân thực sự mang lại lợi ích cho cả hai bên, thì đấy là điều hoàn toàn không dễ một chút nào cả. Bởi vì vẫn còn thấy thiếu vắng những biện pháp cụ thể và về phía Việt Nam đã thấy trong bao nhiêu năm rồi, với bao nhiêu cam kết hứa hẹn về chính trị rồi mà quan hệ thương mại luôn luôn mang tới bất lợi cho phía Việt Nam. Vì vậy cho nên nghe hai bên cam kết sớm đạt được mức kim ngạch 60 tỷ USD, thực sự tôi không cảm thấy mừng mà thậm chí còn cảm thấy lo.” 

Bên cạnh vấn đề kinh tế thương mại, Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc thời kỳ mới còn nhấn mạnh việc ‘tăng cường định hướng đúng đắn báo chí và dư luận…góp phần quan trọng cho việc tăng cường sự tin cậy giữa hai bên. Nhận định về vấn đề này, GSTS Nguyễn Thế Hùng phát biểu:

“Trung Quốc thường nói một đàng làm một nẻo, họ bảo là định hướng nhưng cuối cùng nhiều lúc họ bật đèn xanh hoặc họ không chấn chỉnh. Khi mình phản ảnh thì họ đổ lỗi này kia trong khi Việt Nam nghiêm túc thực hiện, như vậy nó không có công bằng. Đối với Việt Nam những gì Trung Quốc họ làm không đúng với luật lệ quốc tế…thì phải để cho nhân dân người ta bày tỏ, để cho báo chí chính thống bày tỏ để tạo dư luận trong nước và quốc tế thì như vậy người Trung Quốc mới bớt chuyện làm không đứng đắn của họ lại. Chứ đàng này, mình không để cho báo chí chính thống, không để cho người dân bày tỏ trên những blog của họ, không để cho người dân đi biểu tình ôn hòa, như vậy mình không tạo được sự đồng thuận nhân dân, không tạo được sức ép lên dư luận trong nước và quốc tế, lại mất đi một lực lượng ủng hộ chính quyền thì rất là dở.”

Chuyến đi của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tới Việt Nam còn đạt kết quả Việt Nam ký kết văn kiện đồng ý thiết lập Viện Khổng Tử tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Dư luận cho rằng, bề ngoài của một Viện Khổng Tử mang tính cách một Trung tâm truyền bá và quảng cáo văn hóa Trung Quốc. Nhưng theo TS Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện viết trên Blog của ông: “Phải thừa nhận hiện nay giới lãnh đạo về vắn hóa của Việt Nam có một sự hiểu biết rất hạn chế về văn hóa của Trung Quốc. Mà việc tuyên truyền, gây sức ép cũng như ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc lên Việt Nam là quá mạnh.” TS Nguyễn Xuân Diện lập lại sự quan ngại của ông qua phát biểu với Đài Á châu Tự Do. Vì âm thanh không được tốt, chúng tôi xin trích đọc nguyên văn lời TS Nguyễn Xuân Diện.

“Vì vậy, để những học viện Khổng Tử như thế tồn tại ở Việt Nam đòi hỏi những nhà lãnh đạo về tư tưởng văn hóa phải có sự hiểu biết sâu sắc, một bản lĩnh vững vàng. Nếu không, nó sẽ là cuộc xâm lăng về mặt văn hóa hay gọi là “quyền lực mềm” sẽ bị áp đặt tại Việt Nam. Lúc ấy, chúng ta sẽ không thể nào chống lại được. Văn hóa là nền tảng của đất nước, một khi văn hóa bị thuần hóa thì đó là một điều nguy hiểm.”

Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt-Trung được mở rộng trong thời kỳ mới, qua chuyến đi của Thủ tướng Lý Khắc Cường tới Hà Nội quả là ẩn chứa rất nhiều điều, làm cho các chuyên gia kinh tế, chuyên gia văn hóa và các nhà hoạt động dân sự đầy quan ngại. Đúng là chưa mừng đã vội lo.


Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

Đoan Trang: BÁ QUYỀN VĂN HÓA ĐE DỌA VIỆT NAM

Bá quyền văn hóa đe dọa Việt Nam

Đoan Trang 
Theo blog Đoan Trang

Nhìn vào độ chiếm sóng của phim Trung Quốc trên các đài truyền hình ở Việt Nam, nhiều người lo ngại về khả năng Việt Nam bị “đồng hóa” bởi anh bạn láng giềng. Khả năng đó có thật, và nó là biểu hiện của một hình thức bá quyền tinh vi: bá quyền văn hóa - một phần quan trọng trong chính sách bá quyền của nước lớn, một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ.

Diễn viên Trương Quốc Lập trong vai Càn Long (phim "Tể tướng Lưu Gù"), 
Kỷ Hiểu Lam ("Bản lĩnh Kỷ Hiểu Lam") và một loạt phim "giai điệu chủ" khác

Giai điệu chủ

Câu chuyện bắt đầu từ năm 1987...

Tháng 3-1987, Bộ Phát thanh - Truyền hình Trung Quốc triệu tập một hội nghị gồm đại diện của tất cả các đơn vị sản xuất truyền hình khắp cả nước. Tại đây, Bộ cảnh báo về xu hướng "giải trí hóa" phim ảnh trên sóng truyền hình, đồng thời đưa ra chính sách mới: tích cực, chủ động dồn lực sản xuất những bộ phim "giai điệu chủ" nhằm mục đích truyền bá lịch sử, văn hóa, tư tưởng và thẩm mỹ của Trung Hoa tới mỗi người dân Trung Quốc và thế giới.

Chính sách này phân loại phim truyền hình thành một số thể loại chính, nằm trong một khái niệm chung mà Chủ tịch Giang Trạch Dân gọi là "giai điệu chủ":

• Dòng phim về những đề tài mang tính thực tiễn, ca ngợi người tốt việc tốt - gọi chung là phim "thần tượng tuổi trẻ";
• Dòng phim cổ trang, gồm phim lịch sử ("Tam Quốc Diễn Nghĩa", "Vương triều Ung Chính", "Khang Hy", "Thái Bình Thiên Quốc"…), dã sử ("Tể tướng Lưu Gù", "Hoàn Châu Cách Cách"...)
• Dòng phim gia tộc luân lý ("Mùa quít chín", "Gia tộc Kim Phần"…)
• Dòng phim cách mạng, dựng lại ngữ cảnh thời xưa ("Khát vọng", "Câu chuyện Thượng Hải"…) hoặc tái hiện chân dung những nhân vật nổi tiếng (Tôn Trung Sơn, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình…)
• Dòng phim hình sự, chống tham nhũng ("Xứng danh anh hùng", "Khống chế tuyệt đối"…)

Những phim này được Nhà nước hỗ trợ nhiều mặt, chẳng hạn ưu tiên chiếu ở các đài địa phương lớn vào giờ vàng.

Đặc biệt, chúng nằm trong kế hoạch tuyên truyền của Nhà nước: Tất cả các phim, chỉ trừ dòng hình sự, chống tham nhũng, đều được hỗ trợ xuất khẩu, nhằm mục đích cao nhất là phổ biến "giá trị Trung Hoa" tới các quốc gia trong khu vực.

Trong số những nước mà Trung Quốc hướng tới, Việt Nam nổi lên như một tiền đồn, bởi "đây là nước Đông Nam Á duy nhất chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc thay vì văn hóa Ấn Độ", như lời tác giả Hạo Kiện viết trong cuốn "Phim truyền hình Trung Quốc - nghiên cứu văn hóa và nghiên cứu loại hình" (NXB Điện ảnh Trung Quốc, 2008).

Phần lớn các phim "giai điệu chủ" đã được giới thiệu ở Việt Nam, khán giả nước ta chẳng xa lạ gì với chúng. Các phim đều được xuất khấu với giá hết sức ưu đãi sang Việt Nam, thậm chí một số phim cho không (như "Khát vọng", "Tây du ký", "Vương triều Ung Chính") theo thỏa thuận hợp tác giữa các đài truyền hình hai nước. 

Ồ ạt "xâm lăng văn hóa"

Song song với việc xuất khẩu các sản phẩm văn hóa, nhất là phim truyền hình, sang các nước trong khu vực mà đặc biệt là Việt Nam, Trung Quốc cũng tiến hành "Trung Hoa hóa" các sản phẩm của những nước này.

Bất chấp việc giới truyền thông Việt Nam đưa tin đậm về những phim hợp tác giữa hai nước như "Hà Nội Hà Nội" hay "Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong", các bộ phim này chưa bao giờ được ưu tiên chiếu giờ vàng trên sóng truyền hình của bất cứ đài nào ở Trung Quốc. Ví dụ, "Hà Nội Hà Nội" chỉ được phát trên đài tỉnh Quảng Tây, Nam Ninh vào lúc… đêm khuya thanh vắng.

Với nhiều tác phẩm điện ảnh và truyền hình nổi tiếng đến từ các nước khác, Trung Quốc thực hiện làm mờ tính nước ngoài của chúng. "Vua Kungfu" (Forbidden Kingdom) dù là phim của Mỹ và từ đạo diễn đến quay phim, phục trang đều là người Mỹ, nhưng khi đến đại lục, phim mặc nhiên được giới truyền thông nhào nặn thành sản phẩm Trung Hoa.

Lý Mỹ Kỳ (Maggie Q), mẹ là người Việt, cha mang quốc tịch Mỹ, sinh tại Hawaii, nhưng vẫn bị đa số khán giả Trung Quốc nghĩ là người Hoa

Các ngôi sao châu Á của Hollywood cũng bị "Trung Hoa hóa" tương tự. Khán giả Trung Quốc nói riêng và châu Á nói chung dễ lầm tưởng rằng Dương Tử Quỳnh, Maggie Q. (Lý Mỹ Kỳ - mẹ là người Việt Nam) là người đại lục.

Trung Quốc cũng khéo léo lờ đi chuyện quốc tịch của nhiều diễn viên nổi tiếng trong nước họ: Hầu như rất ít người biết rằng ngôi sao Trương Thiết Lâm mang quốc tịch Anh, Tư Cầm Cao Oa là người Thụy Sĩ, Ninh Tĩnh là người Pháp, còn mỹ nhân Chương Tử Di gốc gác Hong Kong.

Lý Mỹ Kỳ (Maggie Q.), mẹ là người Việt, cha quốc tịch Mỹ, sinh tại Hawaii,
nhưng vẫn bị đa số khán giả Trung Quốc nghĩ là người Hoa.

Đằng sau chiến lược xuất khẩu văn hóa của Trung Quốc

Một nước lớn với dân số hùng hậu như Trung Quốc khó mà chấp nhận tầm ảnh hưởng ít ỏi ở thế giới. Và trên con đường "trỗi dậy hòa bình" để trở thành bá quyền ít nhất là trong khu vực, Trung Quốc mau chóng nhận thấy sức mạnh của văn hóa - thứ "quyền lực mềm" đầy quyến rũ.

Chẳng riêng Trung Quốc biết điều đó. Như một nhà nghiên cứu người Hungary, Márkus Péter, đã viết: Trong lịch sử quan hệ quốc tế, thoạt tiên, khi không có sự khác biệt đáng kể trong kỹ thuật, sức mạnh chân tay - quân sự thô kệch còn chiếm vai trò chế ngự. Thế kỷ 16-19, những mối quan hệ kỹ thuật - kinh tế từng bước chiếm ưu thế. Từ thế kỷ 20, văn hóa và truyền thông bắt đầu lên ngôi.

Bên cạnh kinh tế và quân sự, các quốc gia sẽ thực hiện cả tham vọng gây ảnh hưởng và lấn át các nước khác trên bình diện văn hóa, tư tưởng. Sau Chiến tranh Lạnh, ở châu Âu, bên cạnh ngoại giao về chính trị và kinh tế, thì ngoại giao văn hóa ngày càng nở rộ, và dần dần sẽ trở thành hình thức bá quyền chủ yếu.

Pháp và Đức là hai quốc gia rất chú trọng tới vấn đề "bá quyền văn hóa" này. Các hoạt động “xuất khẩu văn hóa” của họ được tiến hành mạnh mẽ. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy điều đó ngay tại Việt Nam: Chương trình hoạt động thường niên của Trung tâm Văn hóa Pháp (L’Espace) và Viện Goethe sôi nổi hơn hẳn so với Hội đồng Anh (British Council) hay Viện Cervantes của Tây Ban Nha.

Và đến đây thì chúng ta cũng có thể nhận thấy những hình thức ngoại giao văn hóa mà Trung Quốc đang tiến hành đối với Việt Nam, trong nhiều ví dụ thực tế. Phim truyền hình Trung Quốc chiếm sóng các đài ở Việt Nam, cả trung ương lẫn địa phương. Khán giả thuộc sử Trung Quốc hơn sử Việt Nam. Các ca sĩ thời thượng rành rẽ về trang phục của đời Thanh và chắc chắn là sẽ không trả lời được câu hỏi vua chúa nhà Nguyễn ngày xưa ăn mặc như thế nào.

Ngay trong giới trí thức, tâm lý sùng bái văn hóa Trung Hoa đã rất nặng. Một số đông trí thức Việt Nam có thể dễ dàng trích dẫn các điển tích, điển cố của Trung Hoa thay vì của phương Tây hay thậm chí của chính nước mình. Nói tới văn hóa Trung Hoa là nói tới một nền văn học với những tác phẩm vĩ đại, tới triết học thâm sâu, tới sân khấu kinh kịch có sức sống trường tồn, tới điện ảnh với những nhân tài mà ngay cả Hollywood cũng phải kiêng nể.

Điều này không sai, tuy nhiên, cái đáng nói ở đây là nhiều trí thức Việt Nam luôn vị nể quá mức thay vì đặt văn hóa Trung Hoa vào tương quan đúng mực với các nền văn hóa khác trên thế giới - cũng rực rỡ và vĩ đại như thế.

Khái niệm bá quyền văn hóa - tư tưởng mãi tới thập niên 30 của thế kỷ 20 mới ra đời. Trên thực tế, Trung Quốc đã thực hiện bá quyền văn hóa - tư tưởng với láng giềng Việt Nam suốt mấy nghìn năm qua. Ngày nay, với sự phát triển của truyền thông, dường như cuộc "xâm lăng văn hóa" này diễn ra một cách mạnh mẽ và rõ ràng hơn bao giờ hết.

Hai thủ tướng chứng kiến lễ ký các văn kiện quan trọng,gồm cả thỏa thuận thành lập 
Học viện Khổng Tử tại Việt Nam.Ảnh: VGP (bariavungtau.com)

Vấn đề đến từ phía những kẻ bị “xâm lăng”

Bá quyền không đơn thuần là sức mạnh bạo lực, vì vậy, để có được bá quyền, không thể thiếu được cách cư xử mang tính đồng thuận, chấp nhận và góp phần của những kẻ bị bá quyền.
Riêng trên địa hạt văn hóa - tư tưởng, các học giả nghiên cứu về bá quyền văn hóa đều cho rằng bá quyền văn hóa, nếu được thực hiện, không thể thiếu sự đồng thuận một phần hoặc toàn thể của kẻ bị bá quyền.

Như thế, việc Trung Quốc tiến hành bá quyền văn hóa thành công còn phụ thuộc cả vào cách cư xử của nước bị bá quyền, ở đây là Việt Nam.

Điều đó nghĩa là Việt Nam cần có thái độ và ứng xử phù hợp. Chẳng hạn, nên có sự trao đổi văn hóa song phương với Trung Quốc một cách tương xứng.

Việt Nam có thể thỏa thuận các chương trình trao đổi văn hóa với Trung Quốc, theo đó, đồng thời với việc nhập khẩu các sản phẩm văn hóa của nước láng giềng, Việt Nam sẽ xuất khẩu văn hóa theo hướng ngược lại, xuất bản sách, tổ chức những ngày văn hóa, tuần văn hóa Việt Nam... tại Trung Quốc.

Theo một thống kê được công bố trên tờ "China Daily", năm 2004, Trung Quốc nhập khẩu 4.000 đầu sách từ Mỹ, nhưng chỉ xuất khẩu 14 đầu sách sang nước này; nhập 2.000 đầu sách từ Anh, nhưng chỉ xuất sang đây 16 đầu sách.

Từ năm 1999 đến năm 2002, hơn 280 đoàn nghệ thuật Nga biểu diễn ở Trung Quốc, trong khi chỉ có 30 đoàn nghệ thuật Trung Quốc sang biểu diễn tại Nga. Giai đoạn 2000-2004, Trung Quốc nhập khẩu trên 4.000 phim và chương trình truyền hình, nhưng xuất khẩu không đáng kể. Dòng phim "giai điệu chủ" hầu hết chỉ tiêu thụ được ở khu vực Đông Nam Á mà trong đó Việt Nam là "tiền đồn".

Đã đành Nga, Mỹ và Anh là ba nước lớn nên Trung Quốc không dễ tiến hành bá quyền văn hóa như với Việt Nam. Nhưng ngay cả một quốc gia nhỏ bé ở Đông Âu là Hungary - diện tích chỉ bằng một phần ba Việt Nam, dân số 10 triệu - thì cũng từng tổ chức Năm Văn hóa Hungary tại Trung Quốc (2007-2008), và dựng tượng đại thi hào dân tộc Petőfi Sándor ở Thượng Hải.

Những thông tin này có gợi cho chúng ta một suy nghĩ gì chăng?

Đoan Trang
*****
Bài đăng trên Nhịp Cầu Thế Giới, 17/5/2009
http://www.nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1895
  

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

VIỆT NAM ĐƯỢC - MẤT GÌ TỪ QUAN HỆ VỚI TRUNG QUỐC

Trần Kinh Nghị 

 

Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường sẽ đến Việt Nam ngày 13/10 trong một chuyến thăm chính thức cấp cao nhất kể từ cuộc chiến tranh biên giới 1979. Sự trùng hợp ngẫu nhiên của chuyến thăm vào thời gian quốc tang của vị Tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp, biểu tượng cuối cùng của thế hệ chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam khiến người ta liên tưởng đến một điềm báo trong quan hệ Việt-Trung. Sự trùng hợp này có thể gây ra một vài khó khăn trong việc thu xếp nghi thức sao cho phù hợp và tránh gây hiểu nhầm, nhưng là một thời điểm chín mùi để người Việt Nam nhìn lại quá trình đã qua và định hình mối quan hệ với nước lớn láng giềng phương Bắc trong tương lại. Bài viết ngắn này không có tham vọng trình bày cặn kẻ toàn bộ chủ đề rộng lớn này mà chỉ đề cập một khía cạnh thiết thực: Việt Nam được-mất gì từ quan hệ với Trung Quốc?

Quan hệ bất bình đẳng 

Nhiều người coi sự nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam đã hoàn thành bằng việc đánh đuổi thực dân Pháp và can thiệp Mĩ. Nhưng thực ra đó chỉ là một giai đoạn của toàn bộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc vẫn chưa hoàn thành kể từ thời kỳ "nghìn năm Bắc thuộc". Lập luận này không phải là vô lý, nhất là nếu biết rằng đó là cách hiểu phổ biến của  người Trung Quốc, điển hình là Giáo sư-tiến sĩ Vương Hàn Lĩnh khi ông này hùng hồn tuyên bố trước Hội thảo quốc tế về Biển Đông tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh tháng 12/2010:  “Cho đến năm 1885, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc”. Và ông ta sử dung luận điểm này để biện minh cho đường ranh giới dứt đoạn hình lưỡi bò bao trọn 80% diện tích Biển không khác nào một hàng rào thô sơ dựng lên bởi một lão địa chủ tham lam trong sân nhà người hàng xóm!. Điều trớ trêu là đường lưỡi bò này vừa được Bắc Kinh lôi ra từ sọt rác tư liệu vốn chỉ là một đường chấm phá ngẫu hứng của một viên sĩ quan thời Tưởng Giới Thạch. Rõ ràng cách hiểu này cho thấy vì sao Bắc Kinh đã rất sẵn sàng hậu thuẫn Việt Nam chống Pháp, Nhật, Mĩ và cả Nga. Đó cũng là lý do tại sao sau chiến thắng và thống nhất năm 1975, Việt Nam đã lập tức bị chính người đồng chí phương Bắc tấn công từ biên giới Tây Nam lên biên giới phía Bắc, từ Hoàng Sa xuống Trường Sa. Nếu không vì ảo vọng khôi phục bá quyền thì Bắc kinh đã không hành động như vậy.
 
Về phần mình, người Việt Nam tự hào đã đánh bại thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mĩ và coi đó là hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Tổng Bí thư Lê Duẩn từng đánh giá (đại ý): Từ nay không kẻ nào dám đánh Việt Nam nữa! Nhưng nhận định đó đã mau chóng cho thấy là viễn hoặc khi nước lớn láng giềng phương Bắc vẫn còn đó lăm le phục hồi vị thế vương triều đã có trước thời Pháp thuộc. Đó là nội dung chính của bài học mà nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình đã muốn "dạy" người Viêt Nam.
 
Tóm lai, có đầy đủ chứng cứ để nói rằng, không chỉ thời Vương triều mà thời Xã hội chủ nghĩa, người Trung Quốc vẫn tiếp tục coi Việt Nam là phiên thuộc, và rõ ràng có sự khác nhau trong cách hiểu về chủ quyền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ giữa người Việt Nam và người Trung Quốc. Do sự khác biệt này, rất khó (nếu không nói là không thể) có mối quan hệ bình thường giữa hai nước. Nó không  giống quan hệ Mỹ - Mêhicô, cũng không giống quan hệ Mỹ-Cu Ba....mà là một loại quan hệ gượng ép, trong đó phía Việt Nam dù luôn cố tỏ ra khiêm nhường theo kiểu "tránh voi chẳng xấu mặt nào" nhưng  phía Trung Quốc bao giờ cũng muốn áp đặt và khuất phục.     
 
Muốn độc lập và phát triển Việt Nam phải giữ khoảng cách trong quan hệ với nước lớn phương Bắc    

Vẫn biết do thế đất trời và do truyền thống lâu đời, người Việt Nam không thể không giao hữu  với láng giêng phương Bắc. Nhưng đó là quan hệ để tồn chứ không phải để phát triển . Người Việt có câu ngạn ngữ mang tính thực dụng: "Bán anh em xa, mua láng giềng gần" đồng thời cũng có nhận xét bỗ bã nhưng thâm thúy: "Xa thơm, gần thối". Có lẽ hai câu ngạn ngữ trên hợp thành một thứ triết lý sống của người Việt Nam trong ứng xử với nước lớn láng giềng phương Bắc. Mặt khác, các chí sĩ thuộc nhiều thế hệ người Việt vẫn luôn đau đáu tìm lối thoát qua các phong trào Duy tân, Đông kinh nghĩa thục hay "thoát Á" và hiện nay là phương châm "Làm bạn với tất cả".

Giờ đây sau khi đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, người Việt Nam chợt nhận ra rằng nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ vẫn tiếp tục bị đe dọa bởi "nước ngoài"- một cách diễn đạt mơ hồ vì lý do tâm lý và chính trị- dù ai cũng biết nó đến từ phương Bắc. Đây thực sự là một nghịch lý đối với bản thân người Việt Nam chừng nào họ vẫn tin rằng thế núi liền núi sông liền sông buộc mối quan hệ Việt-Trung muôn đời không thể khác. Đồng thời, trãi qua "nghìn năm Bắc thuộc" và "trăm năm Pháp thuộc" người Việt Nam nhận ra rằng không sự lệ thuộc ngoại bang nào là tốt cả,  nhưng trong thời kỳ Pháp thuộc bờ cõi đất nước được giữ vững từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau, từ Hoàng Sa xuống Trường Sa. Về cơ hội phát triển cũng thấy hiện tượng tương tự, đó là các cơ sở hạ tầng và công-thương nghiệp (dù hạn chế do "cách bóc lột bủn xỉn" của người Pháp) vẫn tạo nên sự khác biệt so với thời Vương triều. Thực tế cũng cho thấy viện trợ từ Trung Quốc chỉ  giúp Việt Nam tiến hành chiến tranh nhưng không giúp Việt Nam phát triển. Nền kinh tế Việt Nam chỉ thực sự khởi sắc sau khi bị Trung Quốc cắt viện trợ. Từ khi hai nước "bình thường hóa quan hệ" lại xuất hiện tình trạng trì trệ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ và khoa học-kĩ thuật, vì Trung Quốc toàn đưa sang những máy móc, trang thiết bị lạc hậu cùng các thủ đoạn kiềm chế vốn có của họ. Dự án khai thác bauxit Tây Nguyên và hàng loạt các công trình nhiệt điện, khai thác tài nguyên khoáng sản v.v... là những ví dụ. Sự tràn ngập hàng hóa thứ cấp rẽ tiền và hàng có độc tố xuyên qua biên giới đang thực sự đe dọa nền kinh tế Việt Nam. Trong cơn sốt vốn đầu tư hiện nay, không loại trừ khả năng một ngày kia nhà máy, hầm mỏ, ruộng đồng, rừng, biển sẽ rơi vào tay các ông chủ  Trung Quốc.
 
Đã đến lúc để giới lãnh đạo chính trị và giới doanh nhân Việt nam phải tỉnh táo nhận ra nguy cơ càng xích gần với Trung Quốc sẽ càng hạn chế cơ hội tiếp cận với thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới. Về điểm này Việt Nam nên tham khảo kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và một số nước Đông Nam Á nhờ biết giữ khoản cách cần thiết với Trung Quốc đã  có thể phát triển vượt trội chỉ trong thời gian trên dưới 30 năm. Trong khi đó Việt Nam để tuột mất hết cơ hội này sang cơ hội khác  do lấn bấn không thể thoát khỏi vòng cương tỏa của ông bạn lớn.  Tuy vây, cơ hội vẫn còn đó, và nên nhớ rằng, dù được coi là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, nhưng còn lâu Trung Quốc mới thực sự thoát khỏi tình trạng lạc hâu và nghèo đói.  
 

Cảnh giác với bẩy "chia để trị"

Xin quay lại với chuyến thăm của Thủ tướng Lý Khắc Cường. Việt Nam là điểm dừng chân cuối cùng của các nhà lãnh đạo Trung Quốc thay nhau đến các nước ASEAN. Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh tình hình tranh chấp Biển Đông có những diễn biến bất thường, đặc biệt nền kinh tế Mĩ rơi sâu vào khủng hoảng  khiến nội bộ chia rẽ và Chính phủ Liên bang hết tiền tiêu(!) đến nỗi Tổng thống Obama không thể tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAC) và Hội nghị cấp cao APEC 21. Đó là một cơ hội hiếm có  đối với Bắc Kinh để phát huy vai trò nước lớn tại các diễn đàn khu vực, không bị thúc bách trong vấn đề giải pháp Biển Đông. Với khả năng tài chính dồi dào hơn Mĩ, Bắc Kinh giờ đây có thể "mua" các đối tác khu vực đang đói vốn nhằm thực hiện ý đồ chia rẽ nội bộ khối ASEAN (cụ thể đã đạt thỏa thuận hợp tác quy mô lớn với Indonessia, trong đó có hiệp định đánh cá xuyên biển Đông, ký đối tác chiến lược với Malaysia, tăng cường quan hệ toàn diện với Thái Lan, Singapore và các nước khác) Có thể nói đến nay hầu hết các nước thành viên ASEAN đã được "tranh thủ", riêng Campuchia đã bị khống chế, bởi Bắc Kinh,  chỉ còn  Philipin và Việt Nam là hai nạn nhân phải chật vật tìm cách riêng của mỗi nước để đối phó với kẻ thù chung. Điều này có nghĩa Bắc Kinh đã cơ bản hoàn thành âm mưu chia rẽ khối ASEAN - một việc mà cách đây vài năm tưởng còn rất xa vời. Trong khi đó cái gọi là "chủ trương xoay trục" của Mĩ thực tế bị gián đoạn, nếu không nói là "đánh trống bỏ dùi".

Trong bối cảnh nêu trên, không khó để dự đoán sứ mệnh của chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường là nhằm hoàn thiện chiến dịch chia để trị theo kịch bản đã hình thành từ chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Việt Nam và được "follow up" bằng việc giảm cường độ lấn chiếm trên biển khiến người ta nhầm tưởng rằng đó là sự thực tâm đáp lại thái độ khiêm nhường của giới lãnh đạo Việt Nam. Nói cách khác, Bắc Kinh đang chủ động thực hiện kịch bản mà họ đã dàn dựng nhằm kéo dài thời gian chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho mục tiêu độc chiếm Biển Đông. Trong kịch bản này Việt Nam dù giữa vị thế một vai diễn chính nhưng phải diễn theo kịch bản của họ. Về quan hệ song phương thuần túy, chưa biết khách mang theo những gì trong hầu bao, nhưng chắc chắn mục đích chính sẽ nhằm "nắn dòng" Việt Nam vào vùng ảnh hưởng Trung Quốc. Những lời hay ý đẹp sẽ được nhắc đến nhiều hơn.
 
Xem ra chuyến thăm của Lý Khắc Cường mang đến cho Việt Nam nhiều điềm xấu hơn là điềm tốt và đó là một phép thử nữa đối với giới lãnh đạo Việt Nam trong trong việc lựa chọn chiến lược cho đất nước trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, trong cái rủi lại có cái may, hy vọng rằng sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang đánh thức tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường của cả dân tộc. Đó là sự tái hiện hiếm hoi sau nhiều năm vắng bóng sự đồng tâm, đồng lòng của toàn thể dân tộc trước vận nước. Và điều này sẽ góp phần hóa giãi những mưu toan của kẻ thù, nhắc nhỡ  giới lãnh đạo chính trị và giới doanh nhân đề cao cảnh giác và tĩnh táo trong đàm phán ký kết./.  
T.K.N

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

Nguyễn Đình Ấm: ÔNG TRẦN CÔNG TRỤC CÓ BỊ OAN KHÔNG?


Ông Trần Công Trục có bị oan không?

Nguyễn Đình Ấm
Nếu như việc này là sòng phẳng, minh bạch thì không có lý gì lại không công khai rộng rãi thậm chí nếu có sự nhường, đổi chác với nước ngoài (là việc bình thường trong hoạch định lại biên giới) thì cần phải trưng cầu dân ý. Việc các ông ký hoạch định biên gới với nước đã nhiều lần xâm lược nước ta, có nhiều tin đồn năm 1979 TQ còn chiếm nhiều cao điểm của ta, có việc đó hay không, nếu có, họ có trả cho ta hay không…mà hầu hết dân không được biết kết quả cụ thể như thế nào là chuyện không bình thường.”

Hôm nay lại giật mình tình cờ đọc được tin ông TS Trần Công Trục nguyên trưởng ban biên giới quốc gia trả lời báo chí về việc đàm phán biên giới giữa VN và Trung Quốc năm 1999 với tiêu đề: “Sòng phẳng khi đàm phán biên giới”. 

Trong bài này, ông Trục nói dư luận nghi ngờ các ông đàm phán không sòng phẳng với Trung Quốc (chịu thiệt với TQ).Ông nói “…ngay cả nhiều người làm việc cho chính phủ VN vẫn mơ hồ, lăn tăn về các hiệp định với TQ…”,“ Thế nhưng những tiếng nói chỉ chích đặc biệt trong giới bất đồng chính kiến vẫn nói rằng không tin về đường biên giới Việt –Trung rất mờ mịt…Luồng thông tin này cũng cáo buộc đảng CSVN dường như tìm cách che giấu tình hình đường biên giới mới…Tôi từng bị chửi là bán đất ông cha cho TQ”….

Đặc biệt, ông nói chỗ cụ thể về thác Bản Giốc và ải Nam Quan(Hữu nghị quan): “ Chính phủ VN nói phần thác phụ của thác Bản Giốc hoàn toàn thuộc phía VN, còn phần thác chính đổ thẳng xuống sông Quây Sơn là sông chung biên giới, hai nước đã tiến hành phát triển du lịch, kinh tế tại khu vực thác” và ông giaỉ thích về hiện nay một nửa thác Bản Giốc và ải Nam quan không phải của VN là: “Xuất phát từ tài liệu lịch sử, văn học, sách giáo khoa, đã đi vào tiềm thức người VN rằng thác Bản Giốc là của VN, nước VN kéo dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu, đó là văn chương còn về mặt pháp lý khi hai bên đàm phán không thể quay lại văn chương những yếu tố mơ hồ để khẳng định…”.

Theo tôi, ông TCT cũng như nhà cầm quyền VN không thể trách “ nhóm CBNV quan tâm lo lắng chủ quyền” hay nhóm thứ hai“ những đối tượng, thế lực muốn lật đổ, bôi nhọ chính thể thông qua câu chuyện về chủ quyền lãnh thổ…” nghi ngờ các ông là phải, bởi vì:

 - Việc liên quan đến cương thổ quốc gia ngàn đời cha ông để lại thuộc lĩnh vực thiêng liêng nhất của dân tộc nhưng việc đàm phán, ký kết, phân định danh giới cụ thể, sự thay đổi lãnh thổ ở từng địa phương như thế nào mà hầu hết người dân-chủ nhân đất nước- có  được biết, được hỏi ý kiến hay chưa? Nếu như việc này là sòng phẳng, minh bạch thì không có lý gì lại không công khai rộng rãi thậm chí nếu có sự nhường, đổi chác với nước ngoài (là việc bình thường trong hoạch định lại biên giới) thì cần phải trưng cầu dân ý. Việc các ông ký hoạch định biên gới với nước đã nhiều lần xâm lược nước ta, có nhiều tin đồn năm 1979 TQ còn chiếm nhiều cao điểm của ta, có việc đó hay không, nếu có, họ có trả cho ta hay không…mà hầu hết dân không được biết kết quả cụ thể như thế nào là chuyện không bình thường. Đặc biệt, sau khi tàu thăm dò dầu khí Bình Minh02 của VN đang hoạt động trong lãnh hải của ta bị tàu TQ quấy nhiễu, cắt cáp…ông Nguyễn Duy Chiến phó chủ nhiệm ủy ban biên giới- đồng nghiệp của ông- nói: “Hành động đó của TQ chỉ là thương cho roi cho vọt”, tức coi TQ như bố, mẹ VN. Đặc biệt TQ liên tục quấy phá biển Đông, đốt phá tàu thuyền, bắt bớ hành hạ dân ta, liên tục xây công trình  trên đảo Hoàng Sa, Trường Sa, làm tem, sách nhận…hai quần đảo là của mình nhưng ta vẫn chỉ phản ứng yếu ớt, chiếu lệ, không dám gọi tên TQ mà phải “tàu lạ, tàu nước ngoài…”; các ngày lịch sử chống Pháp, Mỹ ta tuyên truyền rùm beng cả những trận đánh nhỏ còn những trận lớn TQ xâm lược giết hại dã man bao đồng bào, chiến sĩ ta thì không dám nhắc đến… Vậy VN ký biên giới trong hoàn cảnh “khốn khổ” với một kẻ đã xâm lược, luôn quấy nhiễu VN lại bị chính đại diện người VN( trong lĩnh vực biên giới) nhận thân phận như con cái họ lại không công khai rộng rãi…thì dư luận nghi ngờ sự sòng phẳng cũng là điều dễ hiểu.

- Đặc biệt nữa, trong bài trả lời phỏng vấn ông lẩn tránh không nói rõ ải Nam Quan, thác Bản Giốc trước kia của ai, nay của ai mà lại lửng lơ: “Chính phủ VN nói phần thác phụ của thác Bản Giốc hoàn toàn thuộc phía VN còn phần thác chính đổ xuống sông Quây Sơn là sông chung biên giới, nay hai nước tiến hành du lịch, kinh tế”. Cái mà dư luận đòi hỏi thác BG trước kia và bây giờ ai sở hữu nhưng ông lại đi mô tả trạng thái dòng sông rồi nói như hai nơi này không phải của VN mà do văn chương, sách giáo khoa “nhận vơ”…

Tôi khẳng định với ông từ xưa không có ai nói TQ có phần ở thác Bản Giốc, nhiều người ở địa phương khẳng định từ trước 1999 chưa bao giờ TQ người ở hoặc có hoạt động gì ở thác này ngoài người VN, chỉ sau khi ký hiệp định họ mới ồ ạt xây nhà cửa, công rình…Có thật sách giáo khoa bao nhiêu năm qua dạy các thế hệ người VN sai sự thật, “nhận vơ” thác Bản Giốc , ải Nam Quan…của “bạn 4 tốt”?

Về ải Nam Quan, trước năm 1999 cũng chưa có ai nói là của TQ, sách trắng “Vấn đề biên giới giữa VN và TQ” do nhà xuất bản sự thật HN năm 1979 vẫn khẳng định “…ở cửa khẩu Hữu nghị quan, (ải Nam Quan) thuộc tỉnh Lạng Sơn. Vậy tỉnh Lạng Sơn là của VN hay TQ? Thực tế, đã biết bao người qua bao thế hệ từng công tác, đến, đi qua ải này thì hỏi họ xem ải đó là của ai?

Ngoài ra, còn rất nhiều điểm trên thực địa và tài liệu chưa rõ ràng gây nghi ngờ khác, ví dụ: Trong bài “Kết quả hiệp định biên giới năm 1999” bách khoa toàn thư tiếng Việt nêu rõ: “Một nhượng bộ lớn của VN là khoảng cách 300 m cuối tuyến đường sắt từ Đồng Đăng đến đường  biên giới cũ đã phải cắt cho TQ”.

Vậy ông giải thích về các điểm trên như thế nào?

Như thế, việc “thế lực bất đồng chính kiến” hoặc không bất đồng nghi ngờ các ông trong hiệp định biên giới thì có oan không?
NĐA


Ba Sàm bình thêm: Lại phải nhắc lần nữa vụ ông Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng từ nhiều năm trước đã tuyên bố ngon lành là sẽ công khai toàn bộ bản đồ chi tiết của Hiệp định Biên giới với Trung Quốc, nhưng cho tới giờ vẫn mờ mịt. Xin mời xem lại thông tin cách đây hơn 5 năm: Hiệp ước về Biên giới Đất liền Việt Nam-Trung Quốc (RFA). Khi đó ông thứ trưởng này vẫn lớn giọng “… không thể có chuyện “Việt Nam mất đất”, cắt đất, cho nước này nước kia như một số mạng nước ngòai đưa tin … chỉ có thể giải thích rằng những mạng này họặc do thiếu thông tin, họăc cố tình làm sai lệch thông tin vì những ý đồ khác nhau.

Còn ”nhận định của nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn, tác giả cuốn sách dầy gần 900 trang có tựa đề “Biên giới Việt Trung, 1885-2000, lịch sử hình thành và những tranh chấp”, do nhà xuất bản Dũng Châu ấn hành tại Pháp năm 2005 thì “Cái khó khăn của những người làm nghiên cứu hiện nay là, cái bản đồ đính kèm hiệp định ký ngày 30/12/1999 lại chưa đựơc công bố. Chỉ có khi nào đựơc công bố, thì mới có thể so sánh bản đồ ấy với bản đồ đã ký năm 1887 thì mới biết nó xê xích thế nào. Bản đồ chính thức chưa công bố thì không thể nào dựa trên cái gì để kết luận chính thức hết.”