Thứ Năm, 29 tháng 8, 2013

TIN BUỒN: VĨNH BIỆT LÀNG CỔ YÊU DẤU CỦA TÔI

Giáo sư, Tiến sĩ, Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính

Vĩnh biệt hình ảnh làng cổ tôi yêu dấu
29/08/2013 05:08 (GMT + 7) 

TT - Sau bài báo “Chặt cổ thụ, lấp bến nước ở làng cổ” (Tuổi Trẻ ngày 26-8), Tuổi Trẻ đã nhận nhiều ý kiến phản hồi từ bạn đọc.

Rất bức xúc, GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính - người khởi xướng công cuộc nghiên cứu và bảo tồn làng cổ Phước Tích trong suốt nhiều năm liền - nói: Cách đây ba tuần, ông Nguyễn Sự - bí thư TP Hội An - gọi điện cho tôi trong trạng thái vô cùng bức xúc như việc nhà. Ông bảo GS là người nghiên cứu và đề xuất bảo tồn làng cổ Phước Tích. Thế mà người ta đi kè hết cả bờ sông Ô Lâu. GS phải làm gì đó, nếu không người ta công viên hóa làng Phước Tích mất! Lời báo động ấy, kèm theo diễn biến tại làng mà báo Tuổi Trẻ nêu khiến tôi vô cùng sửng sốt và đau xót. Bởi vì trước đó vài tháng, ở di tích Mỹ Sơn (Quảng Nam), người ta đã làm kè con suối Thẻ chảy qua các nhóm tháp mà báo chí và giới chuyên môn lên án. Việc làm này làm tổn thương nặng nề di tích Mỹ Sơn vốn đã chịu quá nhiều mất mát bởi chiến tranh, thiên nhiên và con người tàn phá. Đáng lẽ bài học Mỹ Sơn khiến mọi người phải thấy đó là sự mất mát. Vậy mà chỉ sau mấy tháng, sự việc tương tự lại xảy ra đối với làng Phước Tích...

Trong con mắt của tôi thì dòng sông Ô Lâu với bến nước, rặng tre, cây cối bao quanh là một bộ phận hữu cơ, là một trong những nhân tố quan trọng cấu thành ngôi làng di sản Phước Tích. Chúng đã tồn tại như một sự kỳ diệu trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt. Lại nữa, làng cổ Phước Tích là di sản còn sót lại rất quý giá và hiếm hoi của không chỉ khu vực Bắc Trung bộ mà còn đối với cả đất nước Việt Nam. Do đó không thể vì lý do này hay lý do kia mà lại can thiệp thô bạo, hay nói đúng hơn là triệt phá những thành tố mang tính bản chất, diện mạo cấu thành bản thân cơ thể di sản làng cổ.

Tôi được biết rằng bao lâu nay con sông ấy vẫn chảy rất êm đềm, rất nhẹ nhàng, không gây tác hại gì lớn, và là nơi để dân làng ra đó nghỉ ngơi, tắm mát... Vậy thì hà cớ gì lại cấp tập đầu tư xây dựng một cách thô bạo, thô thiển, biến ngôi làng có nguy cơ trở thành công viên. Việc công viên hóa làng cổ này vô hình trung đã biến di sản kiến trúc và nếp sống thôn quê truyền thống trở thành vật trưng bày theo kiểu “làng bảo tàng”.

Về những điều đau đớn đang diễn ra tại làng, lòng tôi muốn nói xin vĩnh biệt hình ảnh làng cổ Phước Tích mà tôi đã yêu dấu, gắn bó với nó trong gần 15 năm nay. Bây giờ có lẽ không thể đi phá bờ kè bêtông ấy được nữa rồi. Do đó, làng cổ Phước Tích đã bị mất đi một phần lớn giá trị. Và bờ kè đó trở thành sự tương phản, sự thách thức không những đối với di sản mà còn thách thức đối với thái độ ứng xử đối với văn hóa, đối với di sản.

Sao lại đi phá môi trường để chống sạt lở!

Những dự án bêtông hóa kiểu Phước Tích cùng lúc vừa hủy hoại sinh thái môi trường (đánh hết sạch sành sanh cây xanh, từ nhiều cây cổ thụ tỏa bóng cải thiện môi trường đến hàng loạt cá thể của các loài cây bán ngập đã một thời nổi tiếng là “vệ sĩ bảo vệ xóm làng”) làm đảo lộn cuộc sống của cộng đồng, vừa triệt tiêu bản sắc văn hóa làng xóm Việt (trục hết lũy tre làng, xóa đi hình ảnh cây đa bến nước) gây ra bao nuối tiếc cho ngành văn hóa, du lịch.

Công trình bêtông thì ai cũng biết tuổi thọ là bao, đặc biệt bêtông vùng sông nước, dù có kiên cố bao nhiêu cũng chỉ tính từng chục năm. 

Trong khi đó, tuổi đời một cây xanh đã dài, tuổi đời một quần xã cây xanh lại càng dài gấp bội, nếu không bị tác động tiêu cực của bàn tay con người hay thiên tai thì lắm khi vô hạn.

Tất nhiên nói gì thì cũng chuyện đã rồi, người viết chỉ còn biết mong sao cơ quan hữu trách có giải pháp lục hóa bờ sông đã bêtông hóa với bộ giống cây có chọn lọc và quy cách trồng hợp lý để trước nhất là cứu vãn phần nào sự mất mát về sinh thái môi trường, sau nữa là tạo được hiệu ứng xoa dịu bớt niềm đau sinh thái nhân văn của một làng cổ đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia.

Nhà giáo ưu tú ĐỖ XUÂN CẨM 
(nguyên giảng viên Trường ĐH Nông lâm Huế)
THÁI LỘC ghi
Nguồn: Tuổi trẻ

Bài đọc thêm:
Chặt cổ thụ, lấp bến nước làng cổ
26/08/2013 10:59 (GMT + 7) 

TT - Không gian làng cổ Phước Tích (xã Phong Hòa, Phong Điền, Thừa Thiên - Huế) - làng cổ thứ hai sau Đường Lâm (Hà Nội) được xếp hạng di tích cấp quốc gia - đang bị biến dạng bởi một dự án “bêtông hóa” bờ sông từ đầu đến cuối làng.

Ngay từ cầu Phước Tích nhìn xuống, một bờ kè lát tấm bêtông đã được xây dựng ven sông Ô Lâu, ngăn cách hẳn dòng sông với xóm làng phía trên, trái ngược cảnh xanh tươi nhuần nhị như ngày nào. Con đường vào làng chang chang nắng vì cây cối ven sông đã bị chặt. 

Ông L.V.T, một người dân làng, cho biết việc xây kè đã ủi đi gần trọn lũy tre và nhiều cây cổ thụ ven sông đoạn từ bến Đình đến bến Cây Bàng. “Nhiều cây cổ thụ không nằm trên kè nhưng vướng việc thi công nên người ta cũng chặt bỏ không thương tiếc. May mà nhiều người làng đấu tranh họ mới để lại một cây bồ đề và cây cừa ở xóm Hội, nếu không cũng chẳng còn cây mô. Đường làng nắng không chịu nổi!” - ông L.V.T. xót xa nói. 

Dân “đòi” trả lại bến nước 

Không chỉ chặt cây, đơn vị thi công còn lấp cả ba bến nước gắn liền với cộng đồng xưa nay khiến nhiều người dân tiếc ngẩn ngơ. Theo trưởng thôn Hoàng Tấn Minh, người xưa đã để lại cho Phước Tích 12 bến nước, bố trí trên bờ sông từ đầu đến cuối làng. Thế nhưng trong lúc thi công, người dân phát hoảng vì các bến Lò, bến Miếu Vua và bến Cầu đã bị bờ kè xây lấp lên.

Theo một người dân, bến Lò có vai trò đặc biệt quan trọng với làng vì nằm sát lò gốm, là nơi thuyền bè cập bến đưa đất nguyên liệu về lò, đồng thời chuyển gốm đi bán ở khắp nơi... Trưởng thôn Hoàng Tấn Minh cho hay nhiều người trong làng đang kiến nghị hoàn trả ba bến nước đã bị lấp đi.

Ông Hoàng Ngọc Hòa - phó ban quản lý dự án kè Phước Tích - cho rằng bờ sông đoạn qua làng Phước Tích rất nhiều đoạn bị sạt lở nghiêm trọng nên phải xây toàn tuyến, nếu không sẽ tiếp tục xói lở. Vì đây là di tích quốc gia nên trước khi xây huyện đã có văn bản gửi Sở VH-TT&DL và Bộ VH-TT&DL. Tháng 11-2011, bộ có văn bản yêu cầu bổ sung hồ sơ, ban đã đáp ứng đầy đủ song chưa thấy bộ trả lời. Theo ông Hòa, vì bờ sông ngập lụt chính vụ nên không làm mái trồng cỏ mà phải xây kè. Mặt khác, khi khảo sát thì ba bến nước nói trên đã bị xói lở hoặc bồi lấp nên không biết để đưa vào thiết kế. Còn việc đốn cây, ông Hòa cho hay làm kè phải bạt mái nên cây nằm trên kè thì phải đốn.

Tuy nhiên, theo phản ảnh của người dân, rất nhiều cây ở xa bờ kè vẫn bị đốn hạ; bờ sông chỉ sạt lở một vài điểm chứ không phải toàn tuyến, không nhất thiết phải xây kè từ đầu đến cuối làng. 

Nhà cổ chờ sụp! 

Cư dân làng cổ Phước Tích không chỉ đang lo lắng với dự án làm kè phá vỡ không gian xanh, mà còn “ngổn ngang trăm mối” với hàng loạt ngôi nhà rường cổ đang chờ sập nhưng không có tiền để tu sửa.

Đầu năm 2013, một chiếc đòn tay ngôi nhà cổ của ông Lê Trọng Nam ở xóm Lò bất ngờ rơi xuống nền nhà. Vài ngày sau, một đòn tay và một chiếc cột nhà cũng bung ra rơi xuống. Rất may lúc ấy trong nhà không có người. Qua kiểm tra, ngôi nhà được phát hiện hầu hết cấu kiện gỗ đều bị mối mọt ăn rỗng ruột, cho dù bên ngoài gỗ có vẻ trơn láng. Nhà cổ hơn 100 năm của ông Lê Trọng Phú ở gần miếu Cây Thị cũng bị rơi đòn tay. Ngôi nhà rường ba gian hai chái chạm trổ, khảm xà cừ tuyệt đẹp này sau khi kiểm tra thì phát hiện mục ruỗng phần mái, rầm thượng và rất nhiều kèo, cột. Với nhà cụ Trương Công Thị Thú đã hơn 120 năm tồn tại, tất cả cấu kiện đều bị mối mọt làm hỏng. Nghiêm trọng nhất là ngôi nhà tuyệt đẹp của ông Lương Thanh Phong. Toàn bộ mái ngói liệt và tường gạch phía sau bị sụp đổ từ năm 2009, ông thuê lợp tạm bằng ngói ximăng và xây một hàng bờ lô phía sau để chống trộm. Hầu hết các cấu kiện gỗ trong tình trạng xuống cấp nặng nề. Bất lực vì tiền sửa nhà quá lớn, ông Phong cho biết đã gửi đơn kêu cứu lên cơ quan quản lý làng cổ và UBND huyện Phong Điền từ nhiều tháng nay nhưng chưa thấy trả lời chính thức.

Trưởng thôn Hoàng Tấn Minh cho biết trong số 24 ngôi nhà cổ của làng, hiện sáu cái đang có nguy cơ đổ sụp. Phần lớn nhà cổ còn lại đều bị mối ăn, đang hư hỏng nghiêm trọng. Vì số tiền sửa nhà quá lớn, mất từ 400-500 triệu đồng trở lên nên người dân không có cách gì đầu tư sửa chữa.

Nguồn: Tuổi trẻ

Một số hình ảnh làng cổ Phước Tích năm 2009
Ảnh: Nguyễn Xuân Diện

























 

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

Trần Trọng Dương: ĐINH BỘ LĨNH - HUYỀN THOẠI VÀ LỊCH SỬ

Đinh Bộ Lĩnh: HUYỀN THOẠI VÀ LỊCH SỬ

Trần Trọng Dương

Đại Việt sử ký toàn thư trước nay vẫn được coi là bộ chính sử quan trọng nhất đối với các nhà sử học, văn hóa học,… Tính chính sử của nó được coi như cái mác bảo hành cho những gì được ghi chép bên trong. Song do tình trạng thiếu khuyết tư liệu trầm trọng, mà văn bản này đã sưu tập không ít những huyền thoại, thần tích trong dân gian. Điều đó có thể hiểu được trong bối cảnh “văn- sử- triết bất phân”, là nơi chủ thể văn hóa không quan tâm, hoặc không thể phân biệt được ranh giới giữa các lĩnh vực khoa học. Song điều nguy hiểm là ở chỗ, trong suốt thế kỷ XX và cho đến tận ngày nay, tư duy huyền thoại ngày càng lấn át tư duy sử học trong đời sống người Việt. Chúng ta đánh đồng huyền thoại và lịch sử. Ở một số trường hợp cụ thể, chúng ta “làm sử” chỉ là kéo dài cách nghĩ của từ vài trăm năm trước. Nói cách khác đó là lối làm sử “hậu phong kiến”.

Một ví dụ tiêu biểu cho việc đan xen giữa huyền thoại và lịch sử là chi tiết về cuộc đời ấu thơ của Đinh Bộ Lĩnh. Đại Việt sử ký toàn thư ghi như sau: “Xưa, cha của vua là Đinh Công Trứ làm nha tướng của Dương Đình Nghệ, được Đình Nghệ giao giữ chức quyền Thứ sử châu Hoan, sau theo về với Ngô Vương, vẫn được giữ chức cũ, rồi mất. Vua mồ côi cha từ bé, mẹ họ Đàm đưa gia thuộc vào ở cạnh đền sơn thần trong động. Vào tuổi nhi đồng, vua thường cùng bọn trẻ con chăn trâu ngoài đồng. Bọn trẻ tự biết kiến thức không bằng vua, cùng nhau suy tôn làm trưởng. Phàm khi chơi đùa, thường bắt bọn chúng chéo tay làm kiệu khiêng và cầm hoa lau đi hai bên để rước như nghi trượng thiên tử. Ngày rỗi, thường kéo nhau đi đánh trẻ con thôn khác, đến đâu bọn trẻ đều sợ phục, hàng ngày rủ nhau đến phục dịch kiếm củi thổi cơm. Bà mẹ thấy vậy mừng lắm, mổ lợn nhà cho chúng ăn. Phụ lão các sách bảo nhau: "Đứa bé này khí lượng như thế ắt làm nên sự nghiệp, bọn ta nếu không theo về, ngày sau hối thì đã muộn". Bèn dẫn con em đến theo, rồi lập làm trưởng ở sách Đào Áo. Người chú của vua giữ sách Bông chống đánh với vua. Bấy giờ, vua còn ít tuổi, thế quân chưa mạnh, phải thua chạy. Khi qua cầu ở Đàm Gia Nương Loan, cầu gãy, vua rơi xuống bùn, người chú toan đâm, bỗng thấy hai con rồng vàng hộ vệ vua, nên sợ mà lui. Vua thu nhặt quân còn sót, quay lại đánh, người chú phải hàng. Từ đấy ai cũng sợ phục, phàm đi đánh đến đâu đều dễ như chẻ tre, gọi là Vạn Thắng Vương[1].

Đoạn trích trên lâu nay vẫn được coi như là một sử liệu nguyên khối và khả tín. Chưa thấy một nhà nghiên cứu nào tiến hành giám định sử liệu, hay cao hơn phê phán sử liệu cho trường hợp này. Trong thế kỷ XX, hình tượng chú bé mồ côi, chăn trâu không chỉ dừng lại ở sách sử mà nó đã được chuyển hóa vào đời sống của người Việt hiện đại. Người ta tiếp tục bồi đắp để xây dựng thành một huyền thoại “cờ lau dựng nước”. Những tác phẩm nghệ thuật xuất hiện trong nhiều năm qua khai thác chủ để này là những minh chứng cụ thể. Phải kể đến hai bức tranh dân gian Đông Hồ: một bức là hoạt cảnh Đinh Bộ Lĩnh cưỡi trâu có hai trẻ cầm cờ lau hộ giá, một bức là cảnh Đinh Bộ Lĩnh được rồng che chở khi bị khi bị ông chú Đinh Dự truy sát. Chúng ta còn biết đến cuốn tiểu thuyết lịch sử “Cờ lau dựng nước” (2001) của nhà văn Ngô Văn Phú[2], “Hoàng Đế cờ lau” (2010) của Nguyễn Khắc Triệu[3], truyện tranh cho thiếu nhi “Đinh Bộ Lĩnh” (2000) trong bộ tranh truyện lịch sử Việt Nam[4], truyện lịch sử “Vạn Thắng Vương (Đinh Bộ Lĩnh)” (2000) của Lữ Giang[5], truyện tranh “Cờ lau tập trận” (1999) trong bộ “Truyện xưa đất Việt” (24 tập) của Tạ Chí Đông Hải[6]. Ngoài ra còn phải kể đến bài hát “Cờ lau tập trận” của Khánh Vinh, sử nhạc Đinh Bộ Lĩnh của một tác giả vô danh (youtube), và còn nhiều tác phẩm hội họa, điêu khắc, phim truyện, phim tài liệu, phim lịch sử khác không thể kể hết ra ở đây. Lỗi không phải là ở những người làm nghệ thuật mà là ở những người làm khoa học khi họ không tiến hành định hướng xã hội. 
  
  Tượng đài cờ lau Đinh Bộ Lĩnh ở TP Hồ Chí Minh, ảnh: Vân Du.

Để giám định tính khả tín của đoạn trên, chúng ta ít nhất phải có những  sử liệu độc lập soi chiếu. Chúng tôi muốn nhắc đến đoạn sau đây trong sách Tục tư trị thông giám trường biên của Lý Đảo (1115- 1184) ghi: “Trước, Dương Đình Nghệ làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, sai Nha tướng Đinh Công Trứ nhiếp Hoan châu Thứ sử. Công Trứ chết, con Bộ Lĩnh nối chức ấy. Khi đó, Bộ Lĩnh cùng con là Liễn cùng thống soái ba vạn người đánh phá bọn Xử Bình, đất ấy mới yên, bèn tự lập làm Vạn Thắng Vương, lấy Liễn làm Tĩnh Hải tiết độ sứ”[7].

Sách Văn hiến Thông khảo của sử gia Mã Đoan Lâm (1254 - 1324) đời Tống ghi: “Trước, Dương Đình Nghệ lấy Nha tướng Đinh Công Trứ giữ chức Hoan châu Thứ sử, và Ngự phiên Đô đốc. Bộ Lĩnh con của Công Trứ vậy. Khi Công Trứ chết, Bộ Lĩnh nối các chức ấy. Đến đây, Bộ Lĩnh cùng con là Liễn đem binh đánh bại bọn Xử Bình, tặc đảng tan vỡ, cảnh nội đều yên, dân ơn đức ấy bèn suy Bộ Lĩnh làm Giao Châu soái, hiệu là Đại Thắng Vương).”[8]

Sách An Nam chí lược của Lê Trắc ghi: “Cuối đời Ngũ Đại, Đình Nghệ đi trấn Giao Châu, lấy Công Trứ quyền Thứ sử Hoan Châu. Trước đây, Ngô Quyền giết Kiều Công Tiễn, cha con Bộ Lĩnh về với Ngô Quyền, Quyền nhân khiến Công Trứ về nhiệm chức cũ. Khi Công Trứ mất, Bộ Lĩnh kế tập chức cha”[9].

Điều đáng chú ý là thời gian định bản của các sử liệu trên xuất hiện trước Đại Việt sử ký toàn thư từ 2 đến 5 thế kỷ[10]. Nguyễn Danh Phiệt trong “Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước” đã chứng minh rằng không hề có chuyện Đinh Bộ Lĩnh mồ côi cha từ bé. Theo cách tính của Nguyễn Danh Phiệt, Đinh Công Trứ mất khi Đinh Bộ Lĩnh quãng từ 15 đến 20 tuổi[11]. Vậy, việc “nối cha giữ chức Thứ sử Hoan Châu và Ngự phiên Đô đốc” có thể sẽ xảy ra vào quãng năm 940 đến 944. Keith Weller Taylor cũng dựa vào sử liệu nhà Tống mà đoán định rằng Đinh Bộ Lĩnh giữ chức Thứ sử Hoan- Ái vào thời Bình Vương Dương Tam Kha ở ngôi [12]. Trong khi Nguyễn Danh Phiệt phủ nhận việc Đinh Bộ Lĩnh nối chức cha bằng các truyền thuyết và sử liệu dân gian, thì chúng tôi cho rằng, quãng tuổi từ 15- 20 là quãng tuổi hoàn toàn có thể nhậm chức trong thời xưa theo phép tập ấm.

Những thông tin này rất quan trọng. Từ đây, có thể nhận định rằng: (1) Đinh Bộ Lĩnh không phải trẻ mồ côi, mà chỉ mất cha quãng thời thanh niên. (2) Đinh Bộ Lĩnh là con của danh gia vọng tộc, con của quan chức cao cấp nhà Ngô. (3) Khi cha mất, ông có khả năng được tập ấm các chức Thứ sử Hoan châu, Ngự phiên Đô đốc. Như nghiên cứu trước đây, chúng tôi đã lý giải rằng, Đinh Bộ Lĩnh đã bị mất chức mà phải trở về nguyên quán là động Hoa Lư có lẽ vì liên quan đến thế lực Dương Tam Kha. Trở về Hoa Lư, Đinh Bộ Lĩnh hẳn đã vấp phải những mâu thuẫn quyền lực trong nội bộ gia tộc mà câu chuyện hai chú cháu Đinh Dự - Đinh Bộ Lĩnh đánh lẫn nhau là một kiểu trầm tích lịch sử được hóa thạch trong truyền thuyết như Toàn thư đã ghi. Từ cái lõi lịch sử này, dân gian nhiều đời đã xây dựng nhiều huyền thoại khác nhau. Đại Việt sử ký tiền biên còn sưu tầm một huyền thoại ngộ nghĩnh hơn, rằng Đinh Dự muốn giết cháu bởi vì Đinh Bộ Lĩnh đã dám giết lợn nhà để khao đám trẻ chăn trâu[13]. Đến đây, nhìn lại những ghi chép trong Toàn thư, ta sẽ thấy các chuyện “mồ côi cha từ bé”, “cùng bọn trẻ chăn trâu ngoài đồng”, “cầm hoa lau đi hai bên để rước như nghi trượng thiên tử”, “hai con rồng vàng hộ vệ vua”… đều là những chuyện sáng tác của đời sau, ít nhất là vào thế kỷ XV- thời Lê sơ sau thời của Đinh Bộ Lĩnh quãng 500 năm.

Box: “Đinh Tiên Hoàng – Đinh Bộ Lĩnh được biết tới tài năng quân sự khi còn nhỏ tuổi đã bày trò cỡi trâu đánh trận. Tranh vẽ theo lối Fantasy Art với ý tưởng đưa hình ảnh cỡi trâu và cờ lau gắn bó với Đinh Bộ Lĩnh. Tranh cũng muốn đưa ý niệm thần thánh hóa những anh hùng lịch sử Việt Nam, không chịu thua kém Trung Hoa”. (http://yume.vn  post: 23/12/2012 11:13 )
Huyền thoại là những câu chuyện kể huyền hoặc hoang đường, là một thể loại của văn học dân gian, tức nó là một sản phẩm “hư cấu”. Trái lại lịch sử là một sản phẩm “thực cấu” của quá trình thu thập thông tin, nhận thức, xử lý thông tin và tư duy sử học. Cái LỊCH SỬ TUYỆT ĐỐI là toàn bộ tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ, là cái đích mà nhà sử học muốn hướng đến. Nó là cái đích không tưởng, vì sẽ không bao giờ có thể tri nhận nó một cách tuyệt đối- toàn diện, mà chỉ có thể tiệm cận đến nó một phần nào đó. Tuyệt vọng trước cái bất khả toàn tri ấy, dân gian đã phải sáng tác ra các huyền thoại để lấp đầy những nhu cầu về sự hiểu biết. Tham vọng trước cái bất khả toàn tri ấy, nhà sử học buộc phải tiến hành các thao tác tư duy trên những mảnh vụn chắp vá của sử liệu. Nhưng trớ trêu thay, có những lịch sử đã trở thành huyền thoại, và cũng có những huyền thoại chưa bao giờ là lịch sử!
Box: Tranh trên ghi lại một huyền thoại giải thích về sự mồ côi cha của Đinh Bộ Lĩnh.
Rằng, Đinh Bộ Lĩnh là con trai của rái cá. Điều đáng ngại là tranh này nằm trong tập 57 “Thuở thiếu thời hàn vi của Đinh Bộ Lĩnh” (tr.14) thuộc bộ sách “Muôn thuở nước non này” (200 tập, nhà xuất bản Giáo dục, 2008). Ta biết truyền thuyết này vốn được chép trong sách “Công dư tiệp ký” của Vũ Phương Đề[14].

T.T.D

Chú thích:
[1]Chính Hòa thứ mười tám (1697). Đại Việt sử ký toàn thư. Nội các quan bản. Bản khắc in. Bản dịch. 1998. Tập 1. Ngô Đức Thọ dịch chú, Hà Văn Tấn hiệu đính. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội. tr.209, tr.211.  
[2]Ngô Văn Phú. 2001. Cờ lau dựng nước. Nxb Kim Đồng. Hà Nội. 
[3]Nguyễn Khắc Triệu. 2010. Hoàng đế cờ lau. Nxb Văn học. Hà Nội. 
[4]2000. Đinh Bộ Lĩnh. Tranh: Tạ Huy Long. Lời: Kim Đồng soạn theo “Đại Việt sử ký toàn thư”. Nxb Kim Đồng. Hà Nội. 
[5]Lữ Giang. 2000. Vạn Thắng Vương (Đinh Bộ Lĩnh). Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh. Tp. HCM. 
[6]Tạ Chí Đông Hải. 1999. Cờ lau tập trận. Nxb Giáo dục. Hà Nội. 
[7]Nguyên văn: “始楊庭藝為静海節度使遣牙將丁公著攝驩州刺史公著死子部領繼之於是部領與其子璉同帥兵三萬人擊破處玶等境内以安遂自立為萬勝王以璉為静海節度使” [(Tống) Lý Đảo. Tục tư trị thông giám trường biên. Đài Loan thương vụ. Đài Bắc Thị. Dân quốc 72. q.314-322] 
[8]Nguyên văn: “先是楊廷藝以牙將丁公著攝驩州刺史兼禦蕃都督部領即其子也公著死部領繼之至是部領與其子璉率兵擊敗處玶等賊黨潰散境内安堵部民德之乃推部領為交州帥號曰大勝王” [(Nguyên) Mã Đoan Lâm. Văn hiến thông khảo. Đài Loan thương vụ. Đài Bắc thị. Dân quốc 72. q.610-616.] Xem thêm (Nguyên) Thoát Thoát (soạn), Dương Gia Lạc (chủ biên). Tống sử. “Trung Quốc học thuật loại biên”. Đỉnh Văn Thư cục. Đài Bắc thị. Dân Quốc 69 (1980). Phần Liệt truyện. Q.488. p.14058.] 
[9]Lê Trắc.( 1335). An Nam chí lược. Mạnh Nghị Trần Kinh Hòa dịch  (1960, tb 2002). Nxb Thuận Hóa- Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây. Huế. Tr.227. 
[10]Sử liệu này được biên soạn trong nhiều thế kỷ, vết tích sớm và chắc chắn nhất là từ thế kỷ XV tới văn bản cuối là vào năm 1697. 
[11]Nguyễn Danh Phiệt. 1990. Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước. Nxb KHXH. H. tr.55. 
[12]K. Taylor. 1983. The Birth of Vietnam. University of California Press. P.277. 
[13]Ngô Thì Sĩ (soạn), Ngô Thì Nhậm (tu đính). 1800 (khắc in). Đại Việt sử ký tiền biên. Bắc Thành học đường tàng bản.  Ký hiệu A2/2-7. Lê Văn Bảy, Dương Thị The, Nguyễn Thị Thảo, Phạm Thị Thoa (dịch), Lê Duy Chưởng (hiệu đính). Nxb KHXH.H.1997. tr.152.
[14]Nguyễn Khắc Thuần. 2008. Giai thoại dã sử Việt Nam. Nxb Giáo dục. Hà Nội. tr.13-15.

*Bài do TS. Trần Trọng Dương gửi đến T Blog.
 

TƯỞNG NIỆM: 25 NĂM NGÀY MẤT LƯU QUANG VŨ - XUÂN QUỲNH


Tưởng nhớ gia đình Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh
NGÀY 29-8-1988 
ĐỊNH MỆNH & TANG LỄ VÔ CÙNG CẢM ĐỘNG

Ngô Thảo

Cuối buổi chiều, sân 51 Trần Hưng Đạo - Trụ sở của 6, 7 Hội Văn học Nghệ thuật xôn xao, ồn ào rồi bàng hoàng khi nhận được tin: Cả nhà Lưu Quang Vũ chết hết rồi.

12 giờ đêm, xe của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam đưa được thi hài 3 người từ Bệnh viện Hải Dương về đến Hà Nội. Ở cổng Bệnh viện Việt - Đức mấy trăm nghệ sĩ hơn chục đoàn sân khấu Hà Nội và bạn hữu đã khóc rầm rĩ suốt phố Phủ Doãn. Đêm hè, trời oi ngột, nhà xác bệnh viện Việt Đức trống trải khó chịu đựng được mấy ngày. Nhờ đạo diễn Đình Quang - Thứ trưởng Bộ Văn hóa liên hệ, 3 quan tài được chuyển về nhà xác Bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô - nơi duy nhất có nhà lạnh chứa, ở đó họ có 3 ngày cuối cùng bên nhau nơi dương thế!
 
Thay quan tài là việc theo phong tục rất kiêng kỵ. Nhưng đạo diễn Hoàng Quân Tạo của Nhà hát kịch Hà Nội đại diện nhiều nghệ sĩ dứt khoát bằng giá nào cũng phải thay quan tài mới tử tế hơn.

Lại phát sinh vấn đề về thủ tục hành chính: Nơi an táng 3 người ba tiêu chuẩn: nhà thơ Xuân Quỳnh, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn - được an táng Khu A Văn Điển. Còn Vũ chỉ mới cán sự ba. Và cháu Quỳnh Thơ có khu giành cho tuổi nhỏ.

May có mấy ngày chờ đợi, cả giới Sân Khấu đã cùng nhau chạy để cuối cùng đồng chí Trần Độ, Ủy viên TƯ Đảng, Trưởng ban Tuyên huấn TƯ quyết định để ba người có một suất mộ chung ở Khu A nghĩa trang Văn Điển. Có lẽ đến giờ, đây vẫn là khu mộ gia đình duy nhất ở nghĩa trang này.



Tang lễ 3 người tổ chức ở Trụ sở Trung ương Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật 51 Trần Hưng Đạo, không chỉ có các văn nghệ sĩ tất cả các hội đang có ở Hà Nội, nghệ sĩ các đơn vị sân khấu, các đoàn ở miền Bắc từ Đà Nẵng - quê Vũ trở ra, mà còn rất đông công chúng yêu mến, hâm mộ Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh. Hai hội Nhà văn và Sân khấu đã phối hợp tổ chức một tang lễ trang nghiêm, xúc động và... hoành tráng!

Tổng thư ký Hội nhà văn Vũ Tú Nam đọc điếu văn cho Ủy viên Ban chấp hành Xuân Quỳnh. Nhưng Vũ chỉ là cán sự ba! Không chút phân vân, Nghệ sĩ nhân dân Dương Ngọc Đức chuẩn bị điếu văn cho Lưu Quang Vũ. Xử sự theo quy định hành chính thông thường chắc không ai dám chắc. Nhưng Tổng thư ký Dương Ngọc Đức là người lão thực. Ông hiểu tình cảm của giới Sân khấu, hiểu vị trí Lưu Quang Vũ trong sân khấu việt Nam. Bài điếu văn của Hội đã thể hiện sự đánh giá tức thời mà chuẩn xác về vị trí, đóng góp của Lưu Quang Vũ, không vì xúc động mà đề cao quá đáng, cũng không vì ấn tượng quá khứ, mà không thấy thành quả và tầm vóc thực sự của người vừa nằm xuống.

"Lưu Quang Vũ là người lao động lực lưỡng gồng trên đôi vai rộng khỏe của mình chương trình tiết mục hàng bốn năm mươi đơn vị nghệ thuật trên cả nước..." - hai mươi năm qua, những lời điếu văn viết vội ấy vẫn nguyên giá trị.

Hàng ngàn người Hà Nội đã tham dự tang lễ gia đình Quỳnh - Vũ. Có vòng hoa bạn bè cả nước và quốc tế. Theo phong tục, xe đưa quan tài qua nhà 96 Phố Huế đối diện chợ Hôm. Một cuộc tập hợp bất ngời của đông đảo tầng lớp công chúng với những tiếng gào thét tiếc thương làm tắc cả một quãng đường Phố Huế - Trần Nhân Tông. Chặng đường từ đó về Văn Điển đông nghẹt người đưa. Cho đến nay, đó vẫn là một đám tang lớn và xúc động ít thấy ở Hà Nội...

(Nhớ về Lưu Quang Vũ - những khoảnh khắc chợt hiện, Ngô Thảo)
Nguồn: FB Bùi Quang Minh

ỐI TRỜI ! VTV PHÁT SÓNG PHÓNG SỰ LỪA DỐI ĐỒNG BÀO CẢ NƯỚC


Thương binh tố VTV1 phát phóng sự lừa dối 

(ĐVO) - Sáng 26/8, trên đài truyền hình VTV1, trong chương trình tin tức giao thông buổi sáng, có phát lại một trích đoạn phóng sự có tiêu đề "Ai chắp cánh cho thần chết" được cho là nhân danh lòng nhân ái, lừa thương binh đóng phim nhưng lại biến thành phóng sự.
Cụt chân, tay vẫn được lái xe, được cấp bằng 

Phóng sự nói về hai người thương binh, một người bị cụt cả hai chân, một người cụt tay nhưng vẫn lái xe ô tô phăm phăm trên đường. Điều đáng ngạc nhiên là cả hai người này đều được cấp bằng lái xe ô tô bình thường như lời phóng sự nói.

Ông Nhung chỉ ở nhà phụ vợ chặt đá lạnh, không lái xe chở đá đi bán.

"Ngồi trên cabin với bác tài cụt cả hai chân để tác nghiệp mà tim tôi như đánh lô tô. Xe cứ chạy như cuốn lốc, tai tôi cứ ù ù vẫn cố tiếp nhận lời ông thao thao rằng: “Sau khi ra quân ông nghĩ kế mưu sinh bằng cách gom góp tiền mua chiếc xe cũ 24 chỗ rồi tự mày mò học lái ô tô để đưa đón khách từ Quy Nhơn lên Gia Lai và ngược lại”. Tôi hỏi: “Cụt hai chân mà vẫn lái xe ô tô, ông có gặp phiền phức gì không?”, ông ta trả lời:

“Các ông gác đường thông cảm với người khuyết tật, còn mình thì may có thần đường phù trợ nên chưa bị tử thần gõ cửa”.

Phóng sự đã nhận được sự phản ứng của dư luận, cho rằng lái xe trong điều kiện như vậy là không đảm bảo an toàn, dễ gây tai nạn, gây nguy hiểm cho người khác.

Điều đáng nói, sau khi phóng sự được phát sóng, hai người thương binh là: ông Đinh Dương Hải (51 tuổi) ngụ tại số 41, Tô Ngọc Vân (P.Ghềnh Ráng, TP Quy Nhơn, Bình Định), thương binh 1/4 (hạng đặc biệt), bị cụt cả hai chân và người còn lại là anh Nguyễn Văn Nhung (45 tuổi) cụt 1 cánh tay phải từ nhỏ do máy xát gạo cứa, hiện ngụ tại thôn Phụ Đức, thị trấn Bồng Sơn (Hoài Nhơn - Bình Định) đã vô cùng bức xúc vì nhiều bạn bè, người thân gọi điện khuyên can.

Ông Hải bức xúc: “Tui đã cáu giận với bạn bè khi họ nói trên truyền hình có chiếu hình của tôi đang lái xe dù tôi đã bị che mặt. Tôi bị sốc vì họ dặn dò, khuyên không nên lái xe khách gây nguy hiểm cho hành khách và người đi đường khi các bộ phận thân thể không trọn vẹn.

Tui bị cụt hai chân, sao lái xe khách mà xe khách nhà tui cũng bán cách đây 10 năm rồi lấy đâu mà chạy, tui ở nhà và phụ vợ con buôn bán” - ông Hải ngậm ngùi.

Tương tự, ông Nguyễn Văn Nhung nói: “Trước đây, khi gia đình quá cực mới dựng xưởng đá lạnh để bán, vợ tui đi vắng tui xách xe tập tành quanh nhà và một hôm chạy ra đường thì bị công an huyện bắt ngay. Ngày đó (9/8/2011) tui đã ký vào cam kết không bao giờ lái xe sau khi được Công an huyện Hoài Nhơn giải thích kỹ sự nguy hiểm”. 

Nhân danh lòng tốt, lừa thương binh 

Nhưng sự thật của phóng sự "Ai chắp cánh cho thần chết?" lại được ông Hải cho rằng, ông đã bị phóng viên nhà đài lừa.

Sự thật được ông Hải kể lại: "Khoảng tháng 6/2012, một phóng viên của Đài PT-TH Bình Định tìm đến nhà nhờ tui đóng giúp vai một nhân vật lái xe để làm phim cho chương trình Thương binh tàn mà không phế để phát đúng dịp ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 năm ngoái. Tui không đồng ý, vì cho rằng mình bị cụt cả hai chân mà vẫn lái xe để làm gương cho người khác là không hợp lý.
.
Thương binh Hải không đồng tình với việc làm của nhà báo, gây ảnh hưởng tới gia đình và người thân.
Thương binh Hải không đồng tình với việc làm của phóng viên, gây ảnh hưởng tới gia đình và người thân.

Nhưng phóng viên này đã năn nỉ, chỉ nhờ tôi ngồi lên xe của họ và lái một đoạn đường, không ảnh hưởng gì hết nên tui đồng ý dùng chân giả lắp vào và ngồi lên xe du lịch 7 chỗ của ông phóng viên và lái một đoạn khoảng 1 cây số rồi xuống xe về nhà.

“Tui hối hận ghê gớm, vì tin người, vô tình một người thương binh như tôi lại làm ảnh hưởng đến gia đình, con cái đang đi học, những bạn bè thời chiến và hơn hết là người dân. Bạn bè tui không hài lòng, muốn tìm đến nhà phóng viên kia hỏi cho ra nhẽ nhưng tui thấy còn pháp luật, còn có các ngành chức năng. Tui tin vào điều đó, và chờ đợi…” - ông Hải chia sẻ.

Ông Nguyễn Văn Nhung cũng thật thà: “Tui cũng vì lời dụ ngọt của người hàng xóm được giới thiệu là người thân của anh nhà báo nên đồng ý ngồi lên xe lái một đoạn để họ quay phim với mong muốn được sự trợ giúp của xã hội. Ai dè, điều đó lại trái ngược với mong muốn, làm ảnh hưởng tới các ngành chức năng”.

Anh Nhung kể lại, khi nghe nhà báo nói nhờ ngồi lên xe nhà lái một đoạn để quay phim, phát cho chương trình Người tàn tật vượt khó, để họ kêu gọi sự trợ giúp của các nhà hảo tâm nên mừng, tưởng thật.

“Nghĩ là mình đã khổ, chịu khó bao nhiêu năm chắc cũng có nhiều sự đồng cảm trợ sức để tiếp tục làm ăn nên trốn công an lái một đoạn giúp nhà báo. Sự việc như ngày hôm nay, một phần do chính tôi, tôi cam chịu phận nghèo để giúp vợ làm ăn chứ không trông đợi gì nữa. Lòng tham của tui quay lại hại tui rồi đó” - anh Nhung than vãn.

Đáng chú ý, phóng sự còn cho biết cả hai nhân vật trên đều được cấp giấy phép lái xe. Vì thế, sau khi phóng sự phát, Ban ATGT Bình Định vào cuộc, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định chỉ đạo Giám đốc Sở GTVT kiểm tra, báo cáo để xử lý.

Ông Nguyễn Quả - Chánh Thanh tra Sở GTVT Bình Định cho biết, qua đối chiếu nội dung, chiếu hình ảnh trên phim thì đúng là ông Hải có ngồi lên chiếc xe 7 chỗ và điều khiển xe khách chạy tuyến Quy Nhơn - Gia Lai nhưng bản chất thì không như lời bình của phóng sự.

Ông Nguyễn Quả khẳng định, qua hai sự việc trên, cả hai đều không có giấy phép lái xe và đã được cơ quan chức năng địa phương nghiêm cấm, không cho hoạt động từ những năm trước đây. Nhân vật trong phóng sự khẳng định họ được nhà báo nhờ đóng vai quay phim, dựng cảnh và là người thật chứ việc làm không có thực.

Vụ việc buộc Ban ATGT tỉnh Bình Định đã phải có văn bản phản ứng về nội dung phóng sự được VTV1 lấy của Đài PT-TH Bình Định, sau đó phát trên chương trình Thời sự buổi sáng 28/6. 

Theo Giao thông vận tải
Nguồn: Đất Việt.

Mời quý vị xem lại chương trình trên VTV:
 

LS. TRẦN VŨ HẢI XIN Ý KIẾN UB THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI VỀ VIỆC THÀNH LẬP ĐẢNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

ĐỀ NGHỊ  CHO Ý KIẾN VỀ VẤN ĐỀ
THÀNH LẬP VÀ THAM GIA MỘT ĐẢNG NGOÀI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 
DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Kính gửi:  Ủy ban thường vụ Quốc hội (Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng)
Tôi là Trần Vũ Hải, hành nghề luật sư tại 81 phố Chùa Láng, quận Đống Đa, Hà Nội và 66 Huỳnh Khương Ninh, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh, xin gửi lời chào trân trọng đến Quý Vị và xin được trình bày như sau:
Gần đây, một số người kêu gọi thành lập một đảng mới lấy tên là Đảng Dân chủ Xã hội và cho rằng pháp luật Việt Nam không cấm công dân thành lập đảng. Một số người cho rằng không đủ căn cứ pháp lý để thành lập một đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều công dân Việt Nam quan tâm đến vấn đề này đã hỏi chúng tôi về phương diện pháp lý.
Chúng tôi đã nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành và đã dự thảo Bản ý kiến gửi Quý Vị để tham khảo và cho ý kiến về vấn đề này.
Theo chúng tôi, vấn đề thành lập và tham gia một đảng ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam đang được dư luận trong nước và quốc tế quan tâm, đã có nhiều người đề xuất, các cơ quan chức năng và các nhà luật học hàng đầu của Việt Nam cần có những quan điểm rõ ràng căn cứ vào pháp luật Việt Nam để khẳng định luật pháp Việt Nam có cấm công dân Việt Nam tham gia và thành lập đảng khác ĐCSVN, nếu không cấm việc thành lập sẽ diễn ra như thế nào để phù hợp pháp luật Việt Nam.
Chúng tôi tin tưởng rằng, Quý Vị sẽ có ý kiến chính thức về vấn đề quan trọng này và những ý kiến này cần được công bố trên các phương tiện truyền thông.
Trân trọng
Công dân Trần Vũ Hải
BẢN Ý KIẾN
VỀ THÀNH LẬP VÀ THAM GIA ĐẢNG PHÁI DƯỚI GÓC ĐỘ 
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

(Dự thảo)
Hà Nội, ngày 22/8/2013
Từ sau 1975 đến 1988, tại Việt Nam có 03 chính đảng hoạt động hợp pháp là Đảng Cộng sản Việt Nam (trước đó là Đảng Lao động Việt Nam và tên gọi tại miền Nam là Đảng Nhân dân Cách mạng), Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã Hội Việt Nam hoạt động. Đến năm 1988, Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội tự giải tán. Từ đó đến nay, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), chưa có đảng nào được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Gần đây, một số người kêu gọi thành lập một đảng mới lấy tên là Đảng Dân chủ Xã hội và cho rằng pháp luật Việt Nam không cấm công dân thành lập đảng. Một số người cho rằng không đủ căn cứ pháp lý để thành lập một đảng khác ngoài ĐCSVN.
Nhiều công dân Việt Nam quan tâm đến vấn đề này đã hỏi chúng tôi về phương diện pháp lý. Chúng tôi đã nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành, trong đó có những văn bản sau:
1. Hiến pháp Việt Nam  năm 1992 (được sửa đổi 2001);
2. Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005;
3. Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 và các luật sửa đổi, bổ sung bộ luật này;
4. Công ước về các quyền dân sự và chính trị 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1984);
5. Luật về quyền lập hội 1957;
6. Một số luật khác như: Luật Mặt trận Tổ quốc; Luật Công đoàn 2012; Luật Thanh niên; Pháp lệnh về Cựu chiến binh….;
7. Nghị định 45/2010/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội và Nghị định số 33/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 45/2010/NĐ-CP; các thông tư hướng dẫn các Nghị định này.
Trên cơ sở nghiên cứu những văn bản này, chúng tôi có những ý kiến như sau:
1. Không có điều khoản nào trong Hiến pháp và các luật của Việt Nam cấm công dân Việt Nam thành lập và tham gia một chính đảng khác ngoài ĐCSVN.
2.  Tuy nhiên, Điều 79 Bộ luật Hình sự có quy định trừng phạt người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Như vậy, việc thành lập hoặc tham gia vào một đảng không nhằm lật đổ chính quyền nhân dân sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều luật này. Nói cách khác, hoạt động thành lập và tham gia vào một đảng không nhằm lật đổ chính quyền sẽ không được coi là bất hợp pháp.
3. Về nguyên tắc đảng là một loại hội chính trị. Thành lập và tham gia một chính đảng là thực hiện quyền về lập hội, hội họp. Điều 69 Hiến pháp ghi nhận: Công dân có quyền ....hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Điều 22 Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 quy định: Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình.  
4. Pháp luật nhiều nước phân biệt giữa đảng phái chính trị và hội. Bộ luật Dân sự Việt Nam (Điều 100) quy định có các loại pháp nhân như: (i) tổ chức chính trị; tổ chức chính trị - xã hội; (ii) tổ chức chính trị  xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp; (iii) tổ chức khác. Không có quy định rõ trong Bộ luật Dân sự hội thuộc loại pháp nhân nào trong 03 loại pháp nhân trên.         
5. Chúng tôi cho rằng một đảng phái hoặc  một liên minh chính trị là tổ chức chính trị theo cách hiểu của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, không có điều khoản nào của Hiến pháp, các Luật, Điều lệ ĐCSVN khẳng định ĐCSVN là một tổ chức chính trị. Điều 9 Hiến pháp quy định Mặt trận Tổ quốc là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu… Luật Mặt trận Tổ quốc cũng có quy định tương tự, nhưng không khẳng định Mặt trận tổ quốc là tổ chức chính trị (theo cách hiểu của Bộ luật Dân sự). Các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam gồm: Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và các công đoàn (theo Luật Công đoàn), Đoàn Thanh niên cộng sản Việt Nam (theo Luật Thanh niên), Hội Cựu chiến binh Việt Nam (theo Pháp lệnh Cựu chiến binh),Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (theo Điều lệ của hội này), Hội Nông dân Việt Nam (theo Điều lệ của hội này).
6. Có vẻ như tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội không được coi là hội theo pháp luật hiện hành của Việt Nam. Luật về Quyền  lập hội 1957 hiện đang còn hiệu lực (mặc dù một số điều khoản trong Luật này thực tế đã  không còn hiệu lực do không phù hợp với một số luật khác ban hành sau đó hoặc không phù hợp với thực tế hiện nay, nhưng Nghị định 45/2010/NĐ-CP vẫn căn cứ vào Luật này, tức Chính phủ vẫn coi Luật này còn hiệu lực). Điều 9 Luật về quyền lập hội quy định: Các đoàn thể dân chủ và các đoàn thể nhân dân đã tham gia Mặt trận dân tộc thống nhất trong thời kỳ kháng chiến, được Quốc hội và Chính phủ công nhận, không thuộc phạm vi quy định của luật này. Nghị định 45/2010/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định 33/2012/NĐ-CP) quy định không áp dụng đối với các tổ chức chính trị - xã hội (nêu ở mục 5 trên), các tổ chức giáo hội. Không thấy Nghị định này quy định rõ loại trừ ĐCSVN và tổ chức chính trị ra khỏi đối tượng áp dụng. Nhưng Điều 2 định nghĩa hội như sau: Hội được quy định trong Nghị định này được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Hiểu theo quy định này, đảng phái (tổ chức chính trị) không được coi là Hội. Như vậy, có thể cho rằng Luật về quyền lập hội, Nghị định 45/2010/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định 33/2012/NĐ-CP) không áp dụng cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
7. Trong khi Công đoàn, Mặt trận có luật riêng, chưa thấy có luật nào về đảng, kể cả luật về ĐCSVN. Tuy nhiên, như phân tích ở trên, đảng là một tổ chức chính trị, một loại pháp nhân được quy định trong Bộ luật Dân sự. Do đó, những quy định về pháp nhân, tổ chức chính trị trong Bộ luật Dân sự sẽ được áp dụng nếu xem xét về thành lập, tham gia một đảng chính trị.
8.Pháp nhân theo Điều 84 Bộ luật Dân sự được quy định như sau: 
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Được thành lập hợp pháp; 
2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;
4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Thế nào là thành lập hợp pháp không được định nghĩa rõ trong Bộ luật Dân sự, tuy nhiên Điều 85 Bộ luật Dân sự quy định như sau: Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, tổ chức hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy có 02 loại pháp nhân được thành lập: (i) theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (ii) không có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng theo sáng kiến của cá nhân, tổ chức.
9. Tổ chức chính trị theo Bộ luật Dân sự thuộc đối tượng nào trong 02 loại pháp nhân được thành lập nêu trên? (Đảng có phải xin phép thành lập từ Nhà nước hay không?)

Điều 88 khoản 1 Bộ luật Dân sự quy định : Trong trường hợp pháp luật quy định pháp nhân phải có điều lệ thì điều lệ của pháp nhân phải được các sáng lập viên hoặc đại hội thành viên thông qua; điều lệ của pháp nhân phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận trong trường hợp pháp luật có quy định.

Như phân tích ở trên, không có luật nào quy định về thành lập, tham gia tổ chức chính trị ngoài Bộ luật Dân sự. Do đó, đảng (tổ chức chính trị) có cần điều lệ hay không và điều lệ này phải được một cơ quan Nhà nước công nhận hay không sẽ căn cứ chính những điều khoản trong Bộ luật Dân sự.

Trong khi loại pháp nhân (ii) nêu trong mục 4 trên được quy định tại Điều 104 Bộ luật Dân sự (pháp nhân là tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp), theo đó pháp nhân loại này được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, công nhận điều lệ, thì điều 102 Bộ luật Dân sự quy định về loại pháp nhân là tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội chỉ quy định phải có điều lệ, nhưng không quy định cơ quan nhà nước công nhận điều lệ và  cho phép thành lập đối với loại pháp nhân này. Như vậy, tổ chức chính trị (và tổ chức chính trị - xã hội) phải có điều lệ nhưng không cần cơ quan nhà nước nào công nhận điều lệ, cho phép thành lập. Thực tế, ĐCSVN đã hoạt động như vậy, điều lệ của Đảng này sửa đổi nhiều lần nhưng không cần cơ quan nhà nước nào công nhận việc sửa đổi vì không có điều khoản của văn bản pháp luật nào (kể cả Bộ luật Dân sự) quy định phải có thủ tục công nhận từ Nhà nước. Nói cách khác pháp luật Việt Nam (cụ thể là Bộ luật Dân sự) quy định: đảng phái (tổ chức chính trị) là loại pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của tổ chức cá nhân (không thuộc loại thành lập theo quyết định của cơ quan Nhà nước), không phải xin phép thành lập, điều lệ không cần Nhà nước công nhận nhưng phải được các sáng lập viên hoặc đại hội thành viên thông qua.
10.  Tóm lại, theo chúng tôi đảng phái (tổ chức chính trị) được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, và cần lưu ý những điểm chính sau:
a.  Có sáng kiến của những cá nhân (công dân Việt Nam) đề nghị thành lập đảng.
b. Mục tiêu của đảng dự kiến thành lập không được nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
c. Các sáng lập viên (những người sáng kiến) thông qua điều lệ đảng hoặc đại hội thành lập thông qua điều lệ đảng. Đảng phải có cơ quan điều hành (Ban chấp hành), người đại diện (người đứng đầu) và trụ sở (các điều 88,89, 90, 91 Bộ luật Dân sự).
d. Việc thành lập đảng và điều lệ đảng không cần sự cho phép, công nhận từ Nhà nước.
11. Tuy nhiên những ý kiến trên là những ý kiến cá nhân của chúng tôi, dựa trên nghiên cứu pháp luật Việt Nam hiện hành. Theo Điều 91 Hiến pháp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nhiệm vụ giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Do đó, chúng tôi đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội nghiên cứu bản ý kiến này của chúng tôi. Trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không đồng ý với bản ý kiến này và có cách giải thích khác về Hiến pháp, Bộ luật Dân sự và những luật liên quan khác về vấn đề này, chúng tôi đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố sớm ý kiến của mình.
Văn bản này cũng được gửi đến một số cơ quan liên quan và một số giáo sư, nhà khoa học luật hàng đầu Việt Nam (có danh sách kèm theo dưới đây) để  tham khảo, xin ý kiến.
Chúng tôi hi vọng rằng sẽ nhận được ý kiến của các cơ quan hữu quan, các nhà luật học. Sau 30 ngày kể từ ngày công bố bản ý kiến (dự thảo) này,  những ý kiến (nếu có) của các cơ quan hữu quan và các nhà luật học sẽ được chúng tôi công bố và tham khảo để đưa ra văn bản ý kiến cuối cùng của chúng tôi về vấn đề này. 

Trân trọng  
Ký tên 
Trần Vũ Hải
(Hành nghề luật sư tại 81 chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội)

Dự thảo Bản ý kiến này được gửi đến:
1. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang
2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng)
3. Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chung Lưu
4. Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao (Ông Trương Hòa Bình)
5. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao (Ông Nguyễn Hòa Bình)
6. Bộ Công an (Ông Trần Đại Quang)
7. Bộ Tư pháp (Ông Hà Hùng Cường)
8. Bộ Nội vụ (Ông Nguyễn Thái Bình)
9. Ủy ban Pháp luật của Quốc hội (Ông Phan Trung Lý)
10.Ủy ban Tư pháp của Quốc hội (Ông Nguyễn Văn Hiện)
11.Ông Nguyễn Như Phát - Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
12.Ông Nguyễn Đăng Dung – Giáo sư Luật Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
13.Ông Đào Trí Úc – Giáo sư Luật, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.
14.Bà Mai Hồng Quỳ - Giáo sư Luật – Hiệu trưởng trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
15.Ông Lê Hồng Hạnh – Giáo sư Luật, Hội luật gia Việt Nam