Hiển thị các bài đăng có nhãn DDXHDS. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn DDXHDS. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

Nguyễn Trọng Vĩnh: CHẢ LẼ MẤT NƯỚC TỪNG PHẦN VÀ TIẾP TỤC MẤT NỮA?


CHẢ LẼ MẤT NƯỚC TỪNG PHẦN VÀ TIẾP TỤC BỞI NHỮNG MƯU ĐỒ 
ĐEN TỐI CỦA HỌ “BÀNH” PHƯƠNG BẮC? 

Nguyễn Trọng Vĩnh 

Tôi giật mình khi đọc một đoạn tin ngày 23/10/2013, dưới dòng tít Một Hà Tĩnh đầy ắp người Trung Quốc, nội dung như sau:

“Huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh vốn nổi tiếng là một huyện “chó ăn đá, gà ăn sỏi trong những năm trước đây. Thế rồi, ngành du lịch phát triển, các điểm du lịch mọc lên dọc bờ biển Kỳ Anh, giá đất tăng vùn vụt… Đây đó cũng là lúc người Kỳ Anh đối diện với những nguy cơ, trong đó đáng kể nhất là nguy cơ đất đai lọt vào tay người TQ, và thanh niên bị nghiện ngập.

Một người dân Kỳ Anh, yêu cầu dấu tên, buồn bã nói rằng dân Kỳ Anh đã thật sự đánh mất mình, họ không còn là chủ của mảnh đất cũng như cảm giác là người dân bản xứ, mà thay vào đó là cảm giác lép vế, thua thiệt trước sự giầu có và hách dịch của người TQ. Đặc biệt tuy mới đến Kỳ Anh sống chưa bao lâu, nhưng các nhóm người TQ ở đây đã tổ chức thành đội ngũ, băng nhómcác ông trùm khá dữ dằn. Họ sẵn sàng xử bất kỳ người Việt Nam nào đụng đến phe nhóm của họ. Hầu như họ đã nắm hoàn toàn quyền lực và thế lực ở Kỳ Anh. Cho dù các ban ngành an ninh, công an ở Kỳ Anh vẫn hoạt động, nhưng hình như họ chẳng xem ra gì, bởi thế lực và tiền bạc của họ quá mạnh. Ông này nói thêm rằng hiện tại huyện Kỳ Anh trong con mắt ông cũng giống như một tiểu khu đặc biệt của người TQ, ở đó mọi thứ quyền lợi và quyền lực đều về tay họ, thậm chí có nhiều cán bộ, công chức ở Kỳ Anh tỏ ra lép vế với người TQ. Với đà này chẳng bao lâu nữa người TQ nghiễm nhiên trở thành ông chủ đích thực của người Kỳ Anh.

Một bà mẹ và một ông bố giấu tên cho biết thêm trước khi người TQ có mặt ở Kỳ Anh, thanh niên ở đây không biết gì về rượu chè, nay 70% thanh niên hư hỏng và nghiện ngập. Bà mẹ và ông bố giấu tên nghi ngờ tác động rất nguy hiểm của người TQ, với ý đồ không tốt”.

Đoạn tin trên cho thấy thực tế Việt Nam đã mất chủ quyền tại huyện Kỳ Anh.

TQ đã mua 3.000 ha rừng biên giới, mua một đoạn bờ biển Đà Nẵng và nơi nào đó nữa. Những nơi TQ mua (hoặc thuê dài hạn) người Việt Nam ngay cả công an cũng không vào được thì cũng giống như Kỳ Anh thôi.

Không biết lực lượng công an tỉnh Hà Tĩnh, lực lượng công an của Bộ có kiểm sát và xử lý vụ Kỳ Anh không?

Không biết Thủ tướng có biết tình hình hiện tại ở Kỳ Anh không?

Ngoài những nơi TQ mua hoặc thuê dài hạn, họ làm chủ, họ làm gì trong những nơi ấy không ai biết.

Dựa vào khai thác Boxit, TQ đã có mặt ở Tây Nguyên chiến lược; dưới dạng vờ “nuôi cá”, họ đã khảo sát được vịnh Cam Ranh; họ đã có mặt ở Vũng Rô, Vũng Áng; thương lái TQ tự do đi nơi này, nơi nọ, “mua” thứ này, thứ khác nhằm phá hoại kinh tế địa phương. TQ trúng thầu rất nhiều công trình ở Việt Nam, họ tự do đưa ồ át lao động phổ thông vào, thành ra có hàng vạn người TQ rải khắp nước ta, rồi có những người lưu trú trái phép, định cư trái phép. Đây là một mối nguy nếu ta không cương quyết trục xuất những người TQ nhập cảnh trái phép, lưu trú, định cư trái phép ra khỏi nước ta theo luật pháp Việt Nam. Năm ngoái TQ đưa tin bắt giữ 40 người Việt Nam xâm nhập trái phép TQ. TQ làm được sao ta lại không làm được? Dù “hữu nghị” cũng phải có đấu tranh.

Giới cầm quyền TQ luôn mồm nói “Hữu nghị bền vững, hợp tác cùng thắng, cùng phồn vinh”, nhưng hành động của họ thì hoàn toàn ngược lại. Họ đã cài thế hòng bóp nghẹt ta.

Nhân dân ta cần cảnh giác, những vị có trách nhiệm cần có kế hoạch đề phòng. Theo tôi nghĩ quan trọng nhất là những nhà lãnh đạo cần quay lại với dân, thực hiện dân chủ, thi hành những chủ trương, chính sách hợp lòng dân, thật sự gắn bó với dân thành sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, thì mới có thể hóa giải được âm mưu nham hiểm của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán để giữ được độc lập chủ quyền./.



Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Phạm Chí Dũng: NHỮNG ĐÁM ĐÔNG VIỆT NAM

Những đám đông Việt Nam 
VOA Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ 
Phạm Chí Dũng 
28.10.2013

2

Đám đông tự phát 

Chiếc xe tải xám xịt của cảnh sát âm thầm luồn lách qua các ngả đường đông đúc. Trên xe là thi hài hai mẹ con sản phụ – cái chết thường thấy ở Việt Nam do tắc trách của giới bác sĩ.

Không khí bất chợt nhốn nháo. Người nhà nạn nhân và những người dân bên đường đã phát hiện ra chiếc xe. Họ hò hét và xô đẩy nhau leo lên thùng xe. Viên cảnh sát lái xe bị ép phải đi với tốc độ chậm và theo những tuyến đường do người dân chỉ định. Giao thông tắc nghẽn. Người đi đường kinh ngạc. Một số chạy theo xe cảnh sát. Chẳng mấy chốc, đám đông lên tới hàng ngàn người. Cuộc diễu hành quan tài bắt đầu…Câu chuyện trên mới xảy ra ở Thanh Hóa vào tháng 10/2013. Trong một cơn thịnh nộ có nguyên do và cả không rõ nguyên cớ, đám đông hộ tống xe cảnh sát đến trước nhà người bác sĩ liên quan trực tiếp đến cái chết của hai mẹ con sản phụ. Tại đây, những người phẫn nộ nhất đã la hét và đập phá, trong khi bác sĩ và vợ con phải trốn về quê…

Nhiều đám đông ở Việt Nam đang hình thành theo cái cách như thế. Vô số chuyện bất công trong xã hội lại là đầu đề cho những cuộc tụ tập đông người mà các cơ quan pháp luật rất dè chừng. Tụ tập đông người lại sinh ra manh mối để dẫn đến những cuộc biểu tình mà chính quyền luôn lo sợ.Thỉnh thoảng lại xảy ra một phản ứng đông người nhắm vào ngành y tế – nơi mặt bằng y đức đang trở nên thê thảm. Cách đây không lâu, cái chết của một cô gái ở Cà Mau đã khiến hàng trăm người bao vây bệnh viện và nhà bác sĩ. Cuộc bao vây nhanh chóng biến thành đợt tấn công tài sản và đòi tự mình trừng phạt lối hành xử vô trách nhiệm của giới “lương y như từ mẫu”. Khi lực lượng cảnh sát có phiên hiệu là 113 đến can thiệp, những người bức xúc nhất trong đám đông dân chúng còn tấn công luôn cả các nhân viên thi hành công vụ.

Những vấn nạn ngày càng dồn dập trong xã hội đã đóng góp vai trò hết sức tích cực trong cơ chế xóa nhòa tình yêu thương giữa con người với con người. Thay vì sự chia sẻ và đồng điệu như tâm cảm của tôn giáo, xã hội Việt Nam đã phân tầng một cách sâu sắc, đặc biệt giữa giới cầm quyền cai trị, những nhóm lợi ích tham lam với giới bị trị và người nghèo.

Một trong những dấu ấn không thể chìm lắng trong mối quan hệ không bằng lặng giữa hai giới trên là cuộc biểu tình quan tài ở Vĩnh Yên vào giữa năm 2013. Cái chết đột ngột của một thanh niên, bị người dân nghi ngờ gây ra bởi người nhà của một quan chức có tầm cỡ của địa phương này, đã làm bùng nổ không khí phẫn nộ chưa từng thấy nơi thị xã yên tĩnh. Có đến hàng ngàn người hoặc hơn thế khiêng quan tài kẻ xấu số dọc theo trên các tuyến đường, bất chấp hàng rào ngăn cản của lực lượng cảnh sát cơ động và chống bạo loạn.

Trong khi pháp y chỉ kết luận là nạn nhân chết đuối, đám đông biểu tình đòi phải làm rõ nguyên nhân cái chết và trừng trị kẻ thủ ác. Chỉ đến khi đó, một cuộc điều tra nội bộ mới được khởi sự. Kết quả của cuộc điều tra này đã cho thấy mối nghi ngờ của người nhà nạn nhân và dư luận là không hề sai. 

Đám đông định hướng 

Đám đông không chỉ sinh ra từ những cái chết y tế hoặc do mâu thuẫn xã hội. Giải tỏa đất đai và an sinh hậu giải tỏa mới là tiêu điểm tập trung đông người dân nhất.

Ban đầu, đó là những người dân thuần túy kéo đi khiếu nại và tố cáo về chính sách đền bù đất không thỏa đáng, về những hành vi ăn chặn tiền đền bù của cán bộ địa phương và những thứ vô cảm khác. Nhưng khi đã chính thức trở thành dân oan, những người khiếu kiện đã tạo nên một trong những tiền lệ cho luật biểu tình vẫn nằm trong vòng oan ức ở Việt Nam.

Không hẹn mà gặp, các dân oan đất đai rất thường tập trung tại những trụ sở công quyền ở Hà Nội và Sài Gòn. Thậm chí, đám đông được tổ chức ngày càng bài bản còn nghĩ ra một phương cách tranh đấu sáng tạo hơn: trận chiến binh chủng hợp thành được biến thái bằng sức mạnh được biểu thị tại tòa đại sứ và lãnh sự quán Hoa Kỳ.

Dĩ nhiên, lớp dân oan khiếu kiện đất đai đã tạo cảm hứng và không ít kinh nghiệm trận mạc cho những người bất đồng chính kiến.

Sau cao trào khiếu tố đất đai bùng nổ vào những năm 2007-2008, đến năm 2011, một đám đông khác mang màu sắc chính trị đối ngoại đã bùng lên ở Hà Nội và một phần ở Sài Gòn. Trong hai tháng giữa năm đó, có đến 11 cuộc biểu tình liên tiếp diễn ra với chủ đề chống sự can thiệp của Bắc Kinh vào khu vực biển Đông. Tuy con số ban đầu chỉ chưa đến một trăm người, song sau đó đã được nâng lên đến nửa ngàn người, bao gồm các độ tuổi khác biệt và cả thành phần khác nhau.

Sự biến đổi sắc thái chính trị mới là điều làm cho nhà cầm quyền lo sợ nhất. Một đám đông tụ tập thông thường về những chuyện bức xúc xã hội có thể được xử lý nhanh chóng bằng vào “công tác nghiệp vụ”. Song phản ứng và cao hơn nữa là phản kháng về chính trị thì không dễ gì dập xóa được. Đó cũng chính là lý do sau khi lắng đọng vào cuối năm 2011, đến đầu năm 2012 đám đông chính trị lại một lần nữa bùng lên cùng với sự kiện Đoàn Văn Vươn chống cưỡng chế thu hồi đất ở Hải Phòng.

Đến lúc lúc này, đám đông đã mang một sắc thái mới: kết hợp giữa nạn nhân chịu bất công, những người hoạt động xã hội với những người muốn giương cao ngọn cờ về tư tưởng chính trị. Ngay cả báo chí trong nước cũng hết sức nhiệt tình tham gia và trở thành một đám đông rất đặc biệt: 2.000 bài viết về vụ Đoàn Văn Vươn đã ghi dấu như một kỷ lục về sự bất mãn đối với thái độ vô cảm và đặc lợi của chính quyền địa phương nói riêng và sâu xa hơn là với chính quyền trung ương.

Cũng trong năm 2012, giới quan sát ghi nhận sự kết nối vừa tự nhiên vừa khá bài bản, như một sự đồng cảm giữa các dân oan đi đòi đất với những người hoạt động chính trị và cả với các tín đồ tôn giáo. Đám đông ở Việt Nam cũng vì thế đã được nhân lên khá nhiều lần. Những cuộc tụ tập đông người không chỉ là vài chục như trước đây, mà có thể lên đến vài trăm người.

Đó cũng là lúc mà xã hội dân sự – điều bị giới tuyên giáo đảng xem là “thủ đoạn của diễn biến hòa bình” – đã manh nha bộc phát.

Nếu cuộc biểu tình đòi trả tự do cho nữ sinh viên Phương Uyên tại tòa án Long An vào tháng 8/2013 quy tụ đến hàng trăm người thuộc các thành phần chính trị mà nhà nước không hề ưa thích, thì vụ xét xử luật sư công giáo Lê Quốc Quân ở Hà Nội vào đầu tháng 10/2013 đã tập hợp đến hàng ngàn giáo dân, biểu thị sức mạnh đòi trả tự do cho giáo hữu của họ. 

Vượt qua sợ hãi 

Hãy trở lại với những đám đông lên đến hàng ngàn người ở Vĩnh Yên và Thanh Hóa. Trong đám đông đó, người nhà nạn nhân tất nhiên chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Số đông còn lại, tất nhiên là những kẻ tỏ mò, a dua hoặc quá khích dưới con mắt luôn thiếu thiện cảm của chính quyền.

Song những đoạn video lại cho thấy phần lớn người dân diễu hành một cách ôn hòa trên các đường phố không đơn thuần vì lý do ham vui. Một cuộc phỏng vấn bỏ túi do nhóm “phóng viên vỉa hè” thực hiện đã cho thấy nhiều người dân tự nguyện tham gia vào đám đông bởi họ mang tâm tư liên đới với những vấn nạn và bất công xã hội nhan nhản hàng ngày và ở khắp mọi nơi. Cũng trong nhận thức nhiều người dân, tụ tập dù chỉ trong im lặng vẫn thể hiện cho tinh thần đồng cảm giữa những người chung cảnh ngộ để cùng hướng đến một lối thoát nào đó.

Tâm lý sợ sệt đã dần được thay thế bởi lòng can đảm, dù chỉ là sự can đảm nhất thời và đôi khi vô thức. Trong cách nhìn của nhiều người dân, cảnh sát chỉ có thể ngăn chặn được một ít người tụ tập, còn với đám đông lớn hơn hẳn thì lại là một vấn đề khác hẳn.

Đơn giản là những người đi đường đã chuyển từ thái độ tò mò quan sát sang hành động hòa vào đám đông, đi theo đám đông, đồng cảm với không khí của đám đông về những uẩn ức tích tụ trong lòng quá lâu mà không thể phát ra.

Đó chính là cách mà người dân biểu thị thái độ bức xúc và bất mãn, biểu thị tinh thần phản đối và phản kháng đối với chính quyền.

Hiệu ứng đám đông được tạo ra từ đó. Nếu các cuộc bàn thảo bất tận của giới trí thức vẫn chủ yếu xoay quanh bàn trà, bàn rượu mà ít khi bước chân ra đường phố, thì với những người dân ít học thức hơn, câu chuyện lại giản dị hơn nhiều. Hiện thời ở nhiều đô thị miền Bắc, chỉ cần xảy ra một vụ việc nào đó với mâu thuẫn giữa quan chức nhà nước và nhân dân, lập tức đám đông dễ dàng xuất hiện. Những va chạm giữa cảnh sát giao thông với người đi đường là minh họa rất điển hình cho sự xuất hiện đột biến ấy.

Hình ảnh tụ tập và mang tính kết nối giữa một số người đầu tiên đã khích lệ nhiều người đến sau tham dự vào đám đông mà không còn sợ bị sách nhiễu hoặc bắt bớ. Ở Bắc Giang, khi hai người dân bị cảnh sát bắt vì nghi đã đánh đến chết những kẻ trộm chó, có đến 800 người dân trong xã đồng ký đơn “nhận tội”. Thật rõ ràng, người ta đã nhìn thấy một mối kết đoàn nào đó giữa đồng loại và không còn quá sợ sự trả thù của chính quyền. 

Đám đông vĩ đại 

Tháng 10/2013. Một đám đông khác của dân chúng, lên đến hàng chục ngàn ở Hà Nội và hàng trăm ngàn người ở các địa phương, đã làm nên sự vĩ đại bên sự ra đi vĩnh hằng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Cho tới nay, nhiều ý kiến trong giới quan sát và bình luận vẫn ngạc nhiên tự hỏi là tại sao lại có cả một rừng người thành kính đến như thế đối với người được xem là có uy tín xã hội chỉ sau Chủ tịch Hồ Chí Minh? Họ thành kính thật sự hay còn vì nguyên do nào khác?

Xã hội Việt Nam đang xảy ra một hiện tượng tâm lý chưa từng có: trong quá nhiều thất vọng về đảng và nhà nước, người dân tự tìm đến với nhau để nương tựa vào một niềm tin còn sót lại, dù rằng niềm tin ấy đã chết.

Có lẽ đó cũng là một lý do vì sao tang lễ của tướng Giáp lại có nhiều người viếng đến thế. Đó không chỉ là tình cảm của dân chúng đối với người được xem là biểu tượng hiếm hoi bởi sự trung trinh về chữ Tâm và chữ Hiếu đối với nhân dân và dân tộc, mà còn là sự đồng quyện tự nhiên trong tâm khảm những người đến viếng. Ở đó, trước linh cữu người đã khuất, rừng người còn sống tìm thấy một không khí đồng cảm và sợi dây vô hình gắn bó họ với nhau, khác hẳn với tình trạng băng hoại đạo đức xã hội chỉ cách nhà tang lễ vài trăm thước.

Và cũng ở đó, rừng người đến viếng còn muốn biểu thị thái độ coi thường và khinh bỉ đối với lớp quan chức hậu bối – những kẻ mang thân tội ghê gớm khi đã đẩy đất nước vào thảm cảnh tê liệt đạo đức và kinh tế như ngày hôm nay.

Rất nhiều người dân muốn bày tỏ cái tôi trung trinh của họ: Chỉ khóc cho người vì dân vì nước; còn với cái chết của những kẻ vô tích sự và “ăn của dân không chừa thứ gì” – như cụm từ tán thán của bà phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, đó lại là tiếng reo mừng đến nghẹt thở.

Lòng khinh bỉ lại có thể biến thành nỗi phẫn uất không thể kềm chế. Nếu cứ nhìn vào cái cách mà hàng chục ngàn tín đồ công giáo ở Nghệ An và hàng triệu giáo hữu ở nhiều vùng trên cả nước biểu thị tinh thần phản kháng đối với chính quyền trong và sau vụ Mỹ Yên vào tháng 9/2013, có thể thấy ngay là phẫn uất có thể biến thành hành động phản kháng vào một thời điểm nào đó không xa, đặc biệt trong hoàn cảnh sự ứng phó của chính quyền và lực lượng cảnh sát không đủ “kềm chế”. Khi đó, đám đông hoàn toàn có thể biến thành một lực lượng tự phát và có thể tạo ra những phản ứng không lường trước đối với các chính quyền địa phương.

Ở Tunisia vào năm 2010, sau vụ tự thiêu do quá phẫn uất của một người bán hoa quả, điều đáng ngạc nhiên là đám đông đã chỉ được hình thành bởi sự lan truyền thông tin của các em bé. Trẻ con lại dẫn đến mối quan tâm của người lớn. Vào cuối ngày đầu tiên, thay vì về nhà theo thói quen, nhiều người lớn đã chuyển sang một thói quen mới: tập hợp với nhau, giữa những người không quen biết, để đòi tổng thống phải từ chức.

Khi đám đông đã lên đến hàng triệu người, toàn bộ lực lượng cảnh sát trở nên bất động. Còn quân đội thường giữ thái độ trung lập.

Như một quy luật, xã hội càng nhiễu nhương và hỗn loạn, giới quan chức đảng và chính quyền càng ra sức trục lợi và cưỡng bức người dân,  đám đông dân chúng càng có lý do để bạo   dạn hơn và liều lĩnh hơn. Tâm lý sợ hãi cũng vì thế được chuyển hóa từ thận trọng sang giễu cợt, cho đến khi bùng vượt qua ranh giới kìm nén.

Kịch bản xã hội – chính trị như thế có rất nhiều triển vọng sẽ diễn ra, vào những năm tới.

Ở Việt Nam.

Ngay tại Hà Nội. 

P.C.D

Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả. Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 

 

Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2013

ĐỀ NGHỊ XEM XÉT TƯ CÁCH 2 ĐBQH NGUYỄN SINH HÙNG VÀ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Hai công dân Nguyễn Đăng Quang và Nguyễn Văn Khải vừa gửi đơn tới Bà Nguyễn Thị Nương, trưởng ban công tác Đại biểu Quốc hội, đề nghị xem xét tư cách hai đại biểu Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng và Nguyễn Phú Trọng.








Thứ Năm, 17 tháng 10, 2013

LO LẮNG VÀ NGHI NGẠI HỌC VIỆN KHỔNG TỬ

Lo lắng và nghi ngại Học viện Khổng tử 
RFA tiếng Việt 
Kính Hòa, phóng viên RFA
17-10-2013 

Sức mạnh mềm 

Học viện Khổng tử nhằm khuếch trương sức mạnh mềm của Trung Quốc trên khắp thế giới chưa có mặt ở Việt Nam, dù hai quốc gia có mối tương đồng lớn về văn hóa và chính trị. Thỏa thuận về Học viện Khổng Tử tại Việt Nam được đề cập đến trong tuyên bố chung ngày 15/10/2013 sau chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường.  

Sự kiện chính trị liền kề với đám tang của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp là chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Trung Quốc, ông Lý Khắc Cường bắt đầu vào ngày 13/10 và kết thúc ngày 15/10. Có lời đồn là cờ rủ để tang tướng Giáp tại thủ đô Hà Nội đã được vội vả dựng dậy dù thời gian tang chế theo quy định chưa kết thúc, để thỏa mãn những nghi thức ngoại giao. Có vài ý kiến trên truyền thông quốc tế cho rằng chuyến đi này nhằm xoa dịu những mối căng thẳng chứ chưa giải quyết các tranh chấp giữa đôi bên. 

Cuối cùng thì hai bên đã ra một bản tuyên bố chung với lời lẽ ngoại giao về quan hệ hai nước, không quên ca ngợi quan hệ giữa hai đảng cộng sản. Các cụm từ như thúc đẩy quan hệ, hữu nghị, tăng cường hợp tác… được sử dụng như mọi khi. Một vài cái tên cụ thể được nêu ra về các công ty Trung Quốc, các cửa khẩu biên giới… không có gì đặc biệt.

2Có một việc cụ thể khá đặc biệt, đó là “Thỏa thuận về việc thành lập Viện Khổng Tử tại Trường Đại học Quốc gia Hà Nội.”

Nó đặc biệt vì theo lời của một ủy viên bộ chính trị đảng cộng sản Trung Quốc, ông Lý Trường Xuân nói với báo The Economist trong thời gian gần đây rằng Các Viện Khổng tử trên thế giới là phần quan trọng cho cơ quan tuyên truyền của Trung Quốc tại nước ngoài.

Không giống các tổ chức văn hóa như Hội đồng Anh của nước Anh, Liên minh Pháp ngữ của Pháp, hay Viện Goethe của Đức là các tổ chức độc lập, Viện Khổng Tử là một định chế của nhà nước Trung Quốc, mà mục đích được nhiều người nói rằng để khuếch trương “sức mạnh mềm” của Trung Quốc trên thế giới.

Điều đáng ngạc nhiên là hiện nay số lượng học viện Khổng Tử trên thế giới đã vượt qua con số 100, không những ở các quốc gia có nền văn hóa khác Trung Hoa, mà cả ở hai nước khá tương đồng về văn hóa là Nhật Bản và Hàn quốc, tuy nhiên chưa có Viện Khổng tử nào được thành lập tại Việt Nam, dù rằng Việt Nam hiện tại không những tương đồng về văn hóa với Trung Quốc mà còn tương đồng về chính trị nữa.

Khổng tử được xem như ông tổ của những giá trị văn hóa tinh thần của người Trung Hoa ngày nay. Ông sống cách đây hơn 2000 năm, những luận giải của ông về xã hội, về quan hệ quân vương với thần dân, về sự trung tâm của Đế chế Trung Hoa… được xem là cốt lõi của Khổng giáo, một dòng tư tưởng được truyền đến ba nước láng giềng phía đông và nam của Trung Quốc là Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam, hoặc tự nguyện trong trường hợp Nhật Bản, hoặc cùng với sự đô hộ như trường hợp Triều Tiên và Việt Nam.

3Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, một người có lâu năm nghiên cứu về văn học Hán Nôm nói về ảnh hưởng của Khổng giáo ở Việt Nam như sau:

“Sự ảnh hưởng của Khổng giáo ở Việt Nam rất là lâu đời, cùng với thời kỳ Bắc thuộc, giảm thiểu tối đa dưới thời Lý Trần, mạnh lên cuối triều Trần rồi rất mạnh ở triều Nguyễn.”

Dấu ấn Khổng giáo bàng bạc khắp nơi trong xã hội Việt Nam, từ sự hữu hình như bức tượng Khổng Tử giữa những hàng cột sơn màu đỏ của Văn Miếu Quốc tử giám giữa lòng thủ đô Hà Nội, cho đến sự tương đồng rất nhiều của ngôn ngữ trong nhóm từ vựng Hán Việt, cho đến những quan niệm xã hội Tam cương ngũ thường ngự trị cho đến nay trong hầu như tất các gia đình Việt Nam. Giáo sư Huệ Chi nói tiếp về sự nghiên cứu Khổng Giáo, và quan điểm của ông về sự tồn tại của một Học Viện Khổng tử tại Việt Nam:

“Nếu có một nghiên cứu có hệ thống về khổng giáo trong đời sống xã hội, văn hóa tinh thần của người Việt thì rất tốt, nhưng tôi cho rằng việc ấy nên để cho người Việt làm. Nếu như Khổng tử học viện có thể làm những việc như L’Espace của Pháp, hay Viện Goeth của Đức, nơi hội tụ những vấn đề về Văn hóa thì rất là tốt. Nhưng tất cả những gì người Tàu làm từ trước đến giờ tôi thấy không tốt.” 

Sự thôn tính văn hóa

Không phát biểu về những nghi ngại như Giáo sư Huệ Chi, nhưng Giáo sư Trần Ngọc Thêm, Trưởng Khoa Văn hóa học tại Đại học Khoa học xã hội nhân văn tại Thành Phố HCM hầu như cũng có cùng quan điểm với Giáo sư Huệ Chi về sự thành lập Học viện Khổng Tử:

4“Nghiên cứu Khổng giáo thì tốt thôi, nền văn hóa Trung Hoa là một nền văn hóa lớn, ngôn ngữ và văn hóa của họ đáng cho chúng ta học hỏi, tuy nhiên có hay không có Khổng tử học viện thì chúng ta cũng làm điều đó, cũng không cần có một viện như thế, và chúng ta cũng không thiếu tiền bạc để cần đến sự trợ giúp của họ.”

Có lẽ những nghi ngại này của giới học giả đã làm cho việc ra đời của Học Viện Khổng tử tại Việt Nam chưa thành hiện thực, dù có nhiều nhà nghiên cứu đã từng nói rằng xã hội Việt Nam về chừng mực nào đó như một xã hội Trung Hoa thu nhỏ. Hơn nữa, sự tương đồng về chính trị của hai đảng cộng sản cầm quyền dường như cũng không giúp gì cho việc khuếch trương bộ máy tuyên truyền tại nước ngoài của Trung Quốc như ông Lý Trường Xuân nói với tờ The Economist.

Giáo sư Huệ Chi nói về sự cưỡng chống lại sự thành lập Học Viện Khổng tử tại Việt nam:

“Sự cưỡng chống lại sự thôn tính về văn hóa và tư tưởng của người Tàu nơi người Việt lúc nào cũng tồn tại. Cho nên cái sự chậm chạp của Viện Khổng tử là do vậy, và có thể là có những người có quyền lực ở Việt Nam và cũng tỉnh táo lên tiếng về sự nguy hiểm đó.”

Trên các trang web của các Học viện Khổng tử trên thế giới, đều thấy những dòng chữ về khuếch trương văn hóa, ngôn ngữ… Một hình ảnh thân thiện của nước trung Hoa đang lên. Nhưng điều đó rõ ràng không đánh lùi được sự nghi ngại của tầng lớp trí thức Việt Nam như Giáo sư Huệ Chi. Có phải chăng sự nghi ngại đó không những bắt nguồn từ quan hệ đầy chông gai qua hàng ngàn năm giữa hai nước láng giềng, mà còn bắt nguồn từ những xung đột lãnh thổ hiện tại, mà ngay cả sự tương đồng ý thức hệ giữa hai đảng cầm quyền vẫn chưa vượt qua được.

Có thể sẽ dễ hiểu hơn câu chuyện Học viện Khổng tử ở Việt nam nếu so sánh sức mạnh mềm của ông Lý Trường Xuân, phụ trách cơ quan tuyên truyền của đảng cộng sản Trung Quốc, và sức mạnh cứng của Giải phóng quân Trung Quốc ngoài khơi với đường chín vạch chiếm 80% diện tích biển Đông. Sức mạnh mềm của Học viện Khổng Tử chưa biết tốt đẹp ra sao đối với người Việt, nhưng những ngư dân Việt ở miền Trung thì biết rất rõ sức mạnh cứng của những chiếc tàu hải giám Trung Hoa.

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

Lý Quang Diệu: VIỆT NAM - BỊ NHỐT TRONG Ý THỨC HỆ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Lý Quang Diệu
Nhiều người đặt nhiều kỳ vọng vào Việt Nam khi nước này quyết định cải cách theo hướng thị trường tự do vào những năm 1980s, tức là chỉ vài năm sau khi Trung Quốc thực hiện bước đi tương tự. Đổi Mới, hay “thay đổi để chuyển sang cái mới” theo cách nói của người Việt Nam, lúc đầu có triển vọng. Một trong những hành động đầu tiên là nước này giao đất sở hữu tập thể theo thuyết xã hội chủ nghĩa đến cá nhân người nông dân. Việc này dẫn đến sản lượng nông nghiệp tăng vượt trội chỉ trong vài năm. Nhiều người cả trong nước lẫn ngoài nước đã nghĩ rằng nước này đang đi đúng hướng. Sự thực là những người biết đến sự đổi mới của Trung Quốc mang đến những thành công về kinh tế đáng kinh ngạc, mà nghĩ rằng Việt Nam cũng phát triển theo con đường tương tự, là những người không theo dõi Việt Nam một cách sát sao.

Khi thận trọng đánh giá thì ta thấy có gì không ổn. Quan điểm cá nhân của tôi về đổi mới ở Việt Nam đã thay đổi nhiều, không còn lạc quan như những lần đầu tôi mới thăm nước này những năm 90s. Giờ đây tôi tin rằng những nhà lãnh đạo cộng sản Việt nam kỳ cựu không thể khai phá nổi tư duy xã hội chủ nghĩa cố hữu. Ban đầu họ đồng ý thuận theo con đường cải cách bởi vì họ nhận thấy nước này chẳng còn lối đi nào khác.  Nhưng kể từ đó đến nay họ không có tiển triển gì thêm khi kiên định cải cách hệ thống như ở Trung Quốc. Những vị “lão thành cách mạng” này làm cho Việt Nam trì trệ. Chỉ khi những vị này không còn thì Việt Nam mới có thể có đột phá theo hướng hiện đại hóa.

Một trong những kinh nghiệm mới đây khi tôi đi thăm nước này có thể minh họa những vật cản mà Việt Nam đang gặp phải. Tôi gặp gỡ một số quan chức dân sự và quân sự và tôi nhắc họ những vấn đề mà công ty Singapore vướng phải khi triển khai dự án khách sạn ở Hồ Tây Hà Nội.  Khi công ty này bắt đầu việc đóng cọc, hàng ngàn dân làng đến yêu cầu bồi thường ô nhiễm tiếng ồn. Để tránh phí tổn gia tăng, công ty này đã phải chuyển sang phương pháp làm móng  bằng bắt vít vì phương pháp này gây ít tiếng ồn hơn. Lần này vị quan chức, người đã duyệt dự án, đến và nói “chúng tôi không cho phép phương án này” . Rõ ràng là có sự thông đồng giữa quan chức này với những người dân bốc đồng kia. Tôi nói rõ với lãnh đạo Việt Nam rằng, hành động như vậy là phản tác dụng. Tôi khuyên họ là nếu các anh muốn khai phóng thì hãy nghiêm túc thực hiện.  Họ trả lời một cách ba phải, điều đó cho thấy họ nửa vời khi thực hiện cải cách. Họ không hiều rằng một nhà đầu tư hài lòng sẽ mang đến nhiều nhà đầu tư khác. Ý định của họ là khi đã phục kích được một nhà đầu tư, sẽ là cơ hội để họ vắt kiệt anh ta nhiều nhất có thể. Các nguyên lão lên lon trong hệ thống đảng là nhờ cuộc chiến và hiện giờ chiếm giữ các vị trí trong chính quyền.  Thật không may là họ thăng quan tiến chức không phải vị họ giỏi giang trong quản lý kinh tế hay có tài năng quản trị. Họ thăng tiến vì đào hầm từ bắc vào nam trong hơn 30 năm.

Việt Nam có điểm chung với Trung Quốc trong quá trình khai phóng cải cách là các quan chức tham nhũng. Các cán bộ đảng , người coi mình sẽ được hệ thống chăm sóc, đột nhiên chứng kiến những người ngoài đảng giàu có lên nhanh chóng. Họ vỡ mộng và trở nên tham lam , ví như cán bộ hải quan nhập lậu xe hơi để họ có thể được chia phần.  Cái mà họ khác với Trung Quốc là không có lãnh tụ dạng Đặng Tiểu Bình, người có địa vị tuyệt đối trong hệ thống Đảng và có niềm tin kiên định rằng chỉ có cải cách mới là cứu cánh. Nguyên nhân lại chính là do cuộc chiến Việt Nam. Trong khi những đồng chí Trung Cộng xoay sở hàng thập kỷ để thử nghiệm các kinh nghiệm quản trị trong thời bình, rút ra luận điểm xem cách nào thì tốt cách nào không tốt và điều chỉnh niềm tin và ý thức hệ khi thực hành, Việt Cộng lại bị tắc trong cuộc chiến tranh du kích đẫm máu với Hoa Kỳ, nên họ chẳng biết gì về trị quốc. Ngoài ra, hầu hết các thương gia thành đạt ở Nam Việt Nam, những người rất thông thạo vận hành chủ nghĩa tư bản, đều rời bỏ Việt Nam những năm 70s.

Người Việt là giống người năng động và tài giỏi ở Đông Nam Á. Học sinh đến Singapore theo dạng học bổng Asean rất nghiêm tục học hành và đậu thứ hạng cao nhất. Với giống người thông minh như vậy, quả thật là đáng tiếc là họ lại thiếu tiềm năng. Hy vọng rằng sau khi hết lớp người trải qua cuộc chiến, giới trẻ sẽ kế nhiệm, họ sẽ thấy Thái Lan đã thành công ra sao và họ sẽ bị thuyết phục bởi mức độ quan trọng của thị trường tự do. 

Hỏi: Việt Nam có vấn đề lớn với Trung Quốc về tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông. Và ở cuộc họp bộ trưởng Asean năm 2012, khi các nước không thể ra thông cáo chung lần đầu tiên sau 45 năm, Việt Nam là nước tranh cãi chính với Trung Quốc.

Đáp: Họ không thể có được sự hỗ trợ từ Asean để bảo vệ lập trường của mình bởi vì người Trung Quốc đã đàm phán riêng rẽ với Malaysia và Brunei với những tranh chấp nhỏ hơn. 

Nhưng tranh chấp chủ yếu, cái tranh chấp này mới là vấn đề, lại từ phía Việt Nam.

Hỏi: Điều đó cho thấy Trung Quốc có thể chia rẽ Asean về vấn đề này.

Đáp: Nó cho thấy người Trung Quốc giỏi thế nào.  Họ đã giải quyết với các ngoại bang, với các bộ lạc man di từ hàng ngàn năm nay và họ biết rằng phải xử từng đối tượng một, tránh để chúng kết liên minh và họ không phải đối đầu với một nhóm.  Họ chơi nhóm kia từng người một.

Hỏi: Việt Nam đang xúc tiến quan hệ với Hoa Kỳ, điều đó có làm cân bằng hơn với Trung Quốc?

Đáp: Đúng vậy, bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta đã đến Cam Ranh năm 2012.  Có thể có lợi nếu có người Mỹ tham gia vào tranh cãi về quần đảo Hoàng Sa nhưng tôi không nghĩ người Mỹ và người Hoa sẽ đối đầu trực diện. Điều tốt nhất Việt Nam có thể hy vọng là nộp hồ sơ lên Ủy Ban Công Ước Luật Biển Liên Hợp Quốc(UNCLOS) về nhưng tranh chấp.

Hỏi: Cũng có tin là Việt Nam sẽ mua vũ khí của Mỹ.

Đáp: Tôi không ngạc nhiên, Người Mỹ đang gần hơn người Trung Quốc. Và người Mỹ có vũ khí hiện đại hơn người của Trung Quốc

Hỏi: ông có nghĩ rằng Asean có thể sẽ bỏ nghị trình về tranh chấp lãnh hải Biển Đông trong các cuộc họp thượng đỉnh săp tới.

Đáp: họ đã làm như vậy. Đáng lẽ ra phải có bộ quy tắc ứng xử (COC) nhưng nó đang bị phá.
.
Nguồn: DĐXHDS