Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Phú Trọng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Phú Trọng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

Câu chuyện văn hóa: VÔ CẢM TRONG BÃO


Vô cảm trong bão
Blog Canhco

VTV quay chuyện bão tố, nhà cửa bay lơ lửng trong không trung, sóng đập vào bờ cao như sóng thần và thảm cảnh người chết vô số ở Philippin, khiến cả nước im lặng chia sẻ sự đau khổ của người dân Phi không còn bút mực nào có thể nói hết.

Bão lụt hàng năm tại Phi gây ra không biết bao là thảm nạn. Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều nhưng so với Phi thì dân Việt may mắn hơn nhiều. 10 ngàn người có thể bị xóa sạch sau khi cơn bão Haiyan tấn công là ác mộng và khó thể tưởng tượng sau thảm kịch này thì Manila sẽ đứng lên bằng cách nào.

Haiyan tàn khốc, cuồng nộ đã kéo ra khỏi Phi để tới Việt Nam và con đường của nó được cả thế giới theo dõi. Từ rất sớm, Việt Nam đã chuẩn bị tư thế để đối phó với Haiyan dù đối phó với thiên tai không hề là chuyễn dễ dàng. Người dân chỉ biết chắt mót gom góp chút của cải nhỏ bé và hồi hộp chờ đợi sự giận dữ của thiên nhiên. Bão ngày một gần, tâm trạng người dân ngày một bất an. Bão tố chưa tới đất liền nhưng tiếng than khóc thấu trời tại Philippin bay theo truyền thông đến Việt Nam khiến cả nước như ngồi trên đống lửa.

Vây mà có hai người không sợ bão, vẫn ung dung nhàn tản đi thăm Thái Nguyên và Hưng Yên. Người đi thăm và tham dự Festival trà tại Thái Nguyên là ông Nguyễn Sinh Hùng, đương kim Chủ tịch Quốc hội, nơi có đại diện của 64 tỉnh thành, cũng có nghĩa là có cả đại biểu của nhiều tỉnh đang bị bão Haiyan đe dọa. Ông Hùng tới Thái Nguyên vào đêm 9 tháng 11 trong khi người dân các tỉnh miền Trung và miền Bắc đang lo vãi linh hồn cho cơn bão Haiyan.

Ông đọc diễn văn chào mừng trà Thái Nguyên trong khi tại Thanh Hóa, rất gần với Nghệ An nơi sinh quán của ông, gió rít sóng giật như đang cuồng nộ cho hành động đáng xem là đang dẫm lên nỗi đau của quê nhà để "hót lời chím chóc".

Vẫn biết một Festival phải được chuẩn bị nhiều tháng trời trước khi khai mạc. Vẫn biết Festival trà tại Thái Nguyên có tầm quan trọng đến việc quảng bá thương hiệu trà của tỉnh này. Và vẫn biết ban tổ chức cho rằng sự có mặt của ông Chủ tịch Sinh Hùng là có ý nghĩa cho lễ hội này.

Thế nhưng những cái vẫn biết ấy lại nói lên những khía cạnh khác của việc ông Hùng có mặt tại Festival trà. 

Ông Chủ tịch Quốc hội có tham gia lễ hội trà thì cũng không làm cho trà Thái Nguyên thơm hơn hay doanh thu của nó vượt thêm được mấy gói. Sự có mặt của ông chỉ mang tính làm dáng và hoàn toàn không cần thiết trong bất cứ lúc nào, nhất là lúc này. Rất tiếc là những người tổ chức cần ông như cần một tấm panô quảng cáo nhưng ông lại không ý thức được thâm ý này.

Sự có mặt của ông là không cần thiết vì với chức vụ Chủ tịch Quốc hội đáng ra ông phải cùng với đồng viện lo cho dân chúng sắp gặp cảnh màn trời chiếu đất, người chết, tài sản tiêu vong…

Ông Nguyễn Sinh Hùng còn ham hố mấy tiếng vỗ tay vuốt đuôi trong một cái Festival vô bổ. Đáng ra nếu lợi dụng được cái Festival này để làm những điều ý nghĩa hơn thì ông sẽ có cách lựa chọn khác, mà tốt nhất là dời ngày tổ chức như một trách nhiệm đối với người dân.

Ban tổ chức hoàn toàn có lý do để hoãn lại ngày khai mạc vì "một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ". Hành động can đảm này sẽ làm cho người dân cảm thấy được an ủi và ông Nguyễn Sinh Hùng có lẽ sẽ được người dân nhìn bằng con mắt khác. Bão dù có to mấy thì cũng phải yếu đi nhưng sự trách móc của người dân dù có yếu nhất nhưng lâu dần cũng có thể gom lại để thành bão tố.

Người thứ hai nhàn tản cưỡi ngựa xem hoa tận Hưng Yên, sau ông Chủ tịch Quốc hội một ngày là ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. TTXVN loan báo: ngày 10/11, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đến thăm, làm việc tại tỉnh Hưng Yên, kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, giai đoạn 2010-2013.

Không cần đến nơi cũng thấy sự vô bổ của chuyến đi còn hơn Festival trà Thái Nguyên một bậc.

Bài báo viết: "Về công tác xây dựng Ðảng, Tổng Bí thư yêu cầu các cấp ủy đảng, từng cán bộ, đảng viên cần nhận rõ những hạn chế, khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XI), kịp thời sửa chữa, khắc phục, nhằm củng cố, tăng cường niềm tin trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân".

Và người ta có thể kết luận ông Trọng chọn lựa việc lo cho đảng của ông bất cần cơn bão Haiyan đang tới.

Không cần thiết phải nói thêm về tính chất vô cảm của cả hai ông, ở đây còn lộ ra một khía cạnh khác của lãnh đạo đất nước chúng tôi, cả hai ông đều biểu hiện sự lệch lạc, nhận thức chính trị kém cỏi trong ứng xử của một lãnh đạo.

Ông Chủ tịch Quốc Hội ngồi xem người ta làm trò tại một Festival nói về trà trong khi cử tri nhốn nháo tìm cách trốn tránh thiên tai như một bày chuột đáng thương cho thấy sự cân đo chính trị của ông là một dấu hỏi thật lớn. Ông không thấy được sự bất bình của dư luận đối với ông khi so sánh hai bài viết cùng đăng trên một trang báo, hình ảnh nhân dân tơi tả trong bão tố, lũ lụt đi kèm bên hình ảnh của ông Chủ tịch Quốc hội và những ông những bà khác như phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, nguyên chủ tịch nước Trần Đức Lương… tươi cười ngồi giữa một không gian đầy hoa tươi, cờ xí ngợp trời cùng đèn màu đủ loại!

Trong khi đó ông Tổng Bí thư cũng không chịu kém ông Chủ tịch Quốc hội về khoản nhận thức lòng dân.

Bài báo của TTXVN miêu tả tỉ mỉ chuyến viếng thăm Hưng Yên như trong thời bình, nhất là cái thời vàng son của Đảng Cộng sản Việt Nam vài chục năm về trước. Ông Tổng Bí thư quên rằng từng lời nói, hành động của ông không ít thì nhiều cũng được người dân chú ý. Sự lãnh đạm của ông đối với người dân ven biển không thể lấp liếm bằng lời hiệu triệu đảng viên phải chú ý xây dựng đảng vững mạnh và củng cố niềm tin như ông yêu cầu.

Người đảng viên có lương tâm nào mà không đặt câu hỏi về cách hành xử của ông khi tầm nhìn của một người cao nhất đảng chỉ "thường thường bậc trung" như thế?

Ông Nguyễn Phú Trọng kêu gọi đảng viên xây dựng lòng tin và xây dựng đảng tại một nơi cờ xí, ăn uống, hội hè chóng mặt. Đảng viên bao vây ông đầy những lời nịnh hót ngất trời ngay trong bối cảnh người dân các tỉnh khác lầm than trước bão tố thì thử hỏi niềm tin ấy là niềm tin gì và còn mấy ai tin vào sự lãnh đạo của ông nữa?

Đó là chưa nói đến lòng tin của những đảng viên khác, những người đang dầm mưa với nhân dân chằng từng sợi giây, che từng tấm tôn để gió không thổi tung nhà của họ lên khi bão tới. Những việc làm của các đảng viên này có được ông tuyên dương như đi tuyên dương mấy ông bà tại Hưng Yên hay không? Cán bộ đảng viên tại những tỉnh có bão lũ sẽ đánh giá lời hiệu triệu của ông như thế nào khi lời nói và việc làm của một Tổng Bí thư lại chưa bao giờ đi đôi với nhau?

Hai hình ảnh, hai cách ứng xử trong bức tranh tiêu điều của bão tố không khác gì hai tiếng cười to không đúng lúc ngay nốt lặng của bản nhạc buồn mang tên Hải Yến.
C.C.
Nguồn:BVN

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

CÓ PHẢI ÔNG NGUYỄN PHÚ TRỌNG DẪN DẮT CẢ DÂN TỘC ĐI TÌM KHO BÁU?

 

Có  phải ông Nguyễn  Phú  Trọng dẫn dắt cả dân tộc 
đi tìm kho báu?!

Hữu Quả  - Nhà báo đã nghỉ hưu
Vừa qua, sau nghe ông TBT Nguyễn Phú Trọng phát biểu về tương lai của CNXH, tại buổi thảo luận tổ Quốc Hội, làm 90 triệu dân sửng sốt, choáng váng!
Không choáng váng sao được, đã gần bảy mươi năm, kể từ khi thiết lập nền cộng hòa (VNDCCH), dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, nhân dân ta đã đổ biết bao núi xương sông máu, để dành và giữ cái nền cộng hòa này, mà hiện nay gọi là CHXHCN (theo mô hình Liên Xô).

Sự hy sinh to lớn của cả dân tộc, cho giai đoạn lịch sử này, không những không được đền đáp thỏa đáng; mà niềm hy vọng cứ dần tiêu tan, bởi những sai lầm cứ nối tiếp nhau; về cả đường lối, chủ trương, chính sách, và sự tha hóa của đội quân tiên phong; nay lại nghe ông TBT cứ nói khơi khơi rằng, xây dựng CNXH còn lâu dài lắm; rằng đến hết thế kỷ 21 này, không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam chưa?! Người dân không cần quan tâm mô hình, hay tên gọi CNXH, hay CNXH hoàn thiện là gì; mà cái dân cần ngay bây giờ, chứ không phải đợi trăm năm nữa; đó là làm sao cho đất nước thoát hiểm; ra khỏi khó khăn, cho nhân dân bớt khổ!

Cần hành động chứ không chỉ nghe nói huyên thuyên; sự thật bao giờ cũng mạnh hơn muôn lời hùng biện! Với cái giọng mơ hồ, nửa vời, pha chút màu sắc bí ẩn, cứ hư hư thực thực, làm cho người ta không biết ông TBT đang tung ra một thông điệp gì? Đây không phải là Hội đồng lý luận, với những bộ óc “siêu phàm”! Mà đây là diễn đàn đại diện của dân. Thật là khó hiểu!
Thôi, cứ thử tự đoán xem; có lẽ ông Nguyễn Phú Trọng nói, xây dựng CNXH còn lâu dài lắm, là nhằm răn dạy, nhắc nhở nhân dân cần có tư tưởng vững vàng, lập trường kiên định, sẵn sàng tiếp tục hy sinh, chịu đựng, chịu đựng hơn nữa; tiếp tục tin tưởng đi theo đảng trên con đường dài vô tận này chăng?! Nếu quả đúng như vậy, thì chẳng lẽ ông TBT cho rằng, gần bảy nươi năm qua, từ giữa cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 này, sự hy sinh của toàn dân tộc Việt Nam còn ít quá sao?!
Hay vì ông Trọng chưa hề một ngày có mặt ở chiến trường, trong những năm đất nước có chiến tranh, nên ông khó có sự cảm thông, chia sẻ về sự mất mát với nhân dân? Từ cuộc chiến tranh thứ nhất, đến cuộc chiến tranh thứ hai, thứ ba… Rồi gần bốn mươi năm hòa bình, thống nhất, bá tánh của ông, nào đã được yên ổn; lại tiếp tục gồng mình hy sinh, chịu đựng vượt qua, để tồn tại; và mỗi lần như thế, họ lại tự chấn an bằng điệp khúc: “khổ chừ sướng sau, khổ chừ sướng sau”. Thế mà nhân dân đã được sướng đâu cơ chứ?
Nền kinh tế, với căn bệnh “ác tính” kéo dài; người dân đang phải chạy lo ăn từng bữa, cùng với bệnh tật ốm đau, lo học hành cho con cái; nghĩa là cuộc sống với hàng trăm hàng nghìn cái lo, cái ẩn họa, sao có thể gọi an dân được? Các quyền tự do dân chủ cơ bản từ khi có bản Hiến pháp đầu tiên của nền cộng hòa, đến nay người dân vẫn chưa thực sự được hưởng. Đất nước độc lập, mà lãnh thổ vẫn chưa giữ được chủ quyền toàn vẹn; bị tụt hậu xa về sự phát triển, so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tất cả sự hy sinh mất mát, sự thua thiệt này, cuối cùng ai phải gánh chịu, ngoài nhân dân?! 
Nếu ông TBT có tình cảm thương dân, thương nước thực sự, thì hãy nhìn kỹ lại đi chặng đường lịch sử gần bảy mươi năm đã qua, với sự hy sinh của cả dân tộc to lớn biết nhường nào, e trời cũng phải cảm động! Từ nhận thức thực tiễn của bảy mươi năm này, ông TBT có thể hình dung, phán đoán, lượng định ra được sự hy sinh, chịu đựng của thần dân của ông cho chặng đường trăm năm có dư sắp tới nữa, như ông nói, để có được CNXH hoàn thiện không? Ngay qua lời nói của ông, cũng đã bộc lộ sự thiếu tự tin và mơ hồ rồi. Nếu không lượng định, hình dung, tính toán, dự đoán nổi tương lai, sao ông phải lãnh nhận trách nhiệm người đứng đầu dắt dẫn nhân dân đi tiếp trên một con đường như vô tận này? 
Ví như người điều khiển một con tàu, cũng phải thông thạo luồng lạch, đo dò độ nông sâu, các vật chướng ngại có nguy cơ gây tai nạn; có như thế mới đưa con tàu tránh được đá ngầm, đến đích an toàn. Huống gì một con người tự nhận lãnh trách nhiệm dẫn dắt cả một dân tộc, một đất nước có chín mươi triệu dân mà không am tường, không nắm bắt kịp xu thế thời đại, không dự đoán được thời cuộc, thì hậu quả sẽ ra sao?! 
Ông đưa ra nhận định tỉnh khô rằng, phải trăm năm nữa, Việt Nam chưa chắc đã có CNXH hoàn thiện! Ông đưa ra khái niệm “hoàn thiện”, nghe lại càng mơ hồ; thế nào là “hoàn thiện?” Ông có biết cái hình thù của CNXH hoàn thiện nó ra sao không? Cựu phó thủ tướng Trần Phương hỏi: “CNXH là cái gì? Là cái gì nữa? Ai trả lời? Không trả lời được”!!! Có phải theo ông đến khi đó, con người làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu chăng? Thật là hoang tưởng?!
Tôi xin trở lại ý, vì sao sau khi nghe ông TBT Nguyễn Phú Trọng nói, xây dựng CNXH còn lâu dài lắm, phải hàng trăm năm nữa mà chưa chắc đã có CNXH hoàn thiện; thì không những riêng tôi, người viết bài này, mà cả dư luận rộng rãi trong nhân dân, đều có phản ứng sửng sốt, choáng váng! Sự choáng váng, lo lắng của người dân, nên hiểu như thế nào cho đúng với thực tế đây?
Có phải vì họ yêu thích, ngưỡng mộ cái mô hình CNXH mà họ đang mong chờ nó sớm thành công, để được hưởng “phúc”; nên nay nghe nói còn dài thăm thẳm, trăm năm nữa chưa chắc đã có, làm cho họ chán nản, thất vọng chăng? Rất tiếc, hoàn toàn không phải hiểu theo nghĩa như thế. Mà là sự lo lắng đến choáng váng của họ là, xuất phát từ bài học thực tiễn của quá khứ và hiện tại, qua gần bảy mươi năm của chặng lịch sử đầy cay đắng, cả máu và nước mắt, mà họ đã từng can dự, trải nghiệm, in đậm trong hồi ức; nay lại nghe cuộc thử nghiệm lịch sử mới, dài hơn nữa, làm họ nghi ngại, lo lắng; lo lắng cho bản thân, cho tương lai con em họ, lo lắng cho cả tiền đồ dân tộc.
Có người hỏi, thử nghiệm gì mà lo vậy? Xin thưa rằng, những thử nghiệm của chặng đường dài trăm năm tới, thì chưa thể biết cụ thể, vì nó còn như một ẩn số. Còn những thử nghiệm chặng lịch sử gần bảy mươi năm đã qua, thì đầy rẫy đó thôi, kể sao cho xiết. Như mấy cuộc chiến tranh liên tiếp, là những thử nghiệm; trong này máu, như một loại hàng hóa “giá rẻ”. Rồi cải cách ruộng đất và hợp tác hóa nông nghiệp; cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh; tất cả đều làm theo ý chí và lý thuyết giáo điều, bất chấp quy luật; phá nát lực lượng sản xuất, gây nên bao tổn thất to lớn nội lực quốc gia; kéo lùi phát triển nền kinh tế, và để lại di chứng nặng nề về xã hội.
Như vậy, phải chăng những việc làm trên đây qua từng giai đoạn, trên nhiều lĩnh vực, lại không phải là những cuộc thử nghiệm tàn hại nhất và nghiêm trọng nhất, mà không những đối với thời chúng ta đang sống, con cháu chúng ta cũng phải gánh chịu hậu quả lâu dài này nữa, đó sao? Cũng chẳng cần dẫn chứng đâu xa, mà ngay trong những năm gần đây thôi; khi đứng trước tình hình nền kinh tế khủng hoảng, lại có biết bao nhiêu giải pháp nửa vời đưa ra, đều không có hiệu quả, phải trả giá; kéo theo kinh tế là sự khủng hoảng toàn diện, làm cả xã hội bức bối, ngột ngạt; mà nguyên nhân dẫn đến hậu quả nghiêm trọng này ai cũng biết, đó là sự lãnh đạo yếu kém của đảng và quản lý điều hành tồi của nhà nước. Thế mà, bộ máy cầm quyền vẫn tồn tại vững mạnh, như vô can, thế mới lạ! Chẳng lẽ tình hình nêu trên, không đủ chứng minh về sự thử nghiệm tai hại đó sao??? 
Thử nghiệm từ cả máu xương, đến cả cái hầu bao, nồi cơm của dân. Trong khoa học, để sản xuất ra một loại vắc-xin nào đó người ta phải dùng đến chuột làm thí nghiệm. Còn để tìm ra một mô hình, một đường lối phát triển; người ta sẵn sàng hy sinh nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của cả một dân tộc ư?! Thế giới có bao nhiêu mô hình, bao nhiêu kinh nghiệm hay về sự phát triển, sao chúng ta không học, cứ loay hoay, ôm giữ khư khư mãi cái mớ lý thuyết giáo điều, đã lỗi thời, bắt nhân dân phải tin và làm theo, để đất nước tiếp tục lụn bại, dân tộc phải chịu khổ đau, điêu đứng?! Như vậy, đã gần bảy mươi năm thử nghiệm chưa đủ sao? Nay lại tiếp tục định hướng thêm trăm năm có dư nữa, để có CNXH hoàn thiện sao? 
Mấy năm nay, từ lãnh đạo cấp quốc gia, đến bộ máy quản lý nhà nước và các doanh nghiệp, đi ra nước ngoài khá nhiều, như đi chợ; có khi cơ quan quản lý ngân sách méo mặt phải kêu lên về cái hầu bao ngân sách. Đáng lẽ “đi một ngày đàng, học một sàng khôn”; thế nhưng, hiếm thấy họ đem những điều hay học được, về áp dụng, làm lợi cho dân, cho nước?
Lấy một ví dụ như nước Hàn Quốc, đất không rộng, người không đông, ít tài nguyên thiên nhiên, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề; là một trong những nước nghèo nhất thế giới, lúc bấy giờ. Vậy mà sau khi chấm dứt chiến tranh 1950, chỉ trong thời gian 40 năm, (trừ mười năm đầu khôi phục sau chiến tranh); họ đã “lột xác”, vươn mình đứng dậy, làm nên những kỳ tích, cả thế giới phải khâm phục. Về kinh tế, Hàn Quốc là nước đứng hàng thứ ba Châu Á, và hàng thứ mười ba thế giới; có nguồn dự trữ ngoại tệ đứng hàng thứ sáu thế giới; có mức thu nhập bình quân đầu người, cao hơn mức trung bình liên minh Châu Âu; có một nền khoa học và công nghệ tiên tiến. Đặc biệt, cùng với thành công trong phát triển kinh tế, Hàn Quốc đã xây dựng được một xã hội dân chủ, giá trị con người được tôn trọng. 
Hoặc như CHLB Đức, sau khi thống nhất, Tây Đức phải gồng mình cõng trên lưng cả Đông Đức; vậy mà chỉ trong vòng hai mươi năm, họ đã sớm ổn định và có bước phát triển mới; hiện là một cường quốc kinh tế thế giới đáng nể trọng. Còn cái thể chế của CHXHCN Việt Nam ta thì sao? Đã bảy mươi năm rồi vẫn chưa ra môn ra khoai gì. Nay “câu giờ”, thêm trăm năm nữa có dư; và nếu lạc quan dè dặt, là gần hai trăm năm, khi ấy Việt Nam là cái gì, chưa ai biết?! Và thế giới lúc bấy giờ họ đang ở đâu? Hay họ đã di dân sang một hành tinh khác ở cho sướng, để bớt bị ô nhiễm của môi trường?! Nêu lên vài dẫn chứng và suy nghĩ trên đây, với hy vọng những người đang nắm trọng trách đất nước và vận mệnh dân tộc, hãy sớm thực sự thay đổi tư duy, nắm bắt kịp xu thế thời đại, để đưa đất nước thoát hiểm; cố gắng rút ngắn khoảng cách mà thế giới bỏ xa ta.
Tưởng chỉ viết đôi dòng về bức xúc, sau khi nghe phát biểu của ông TBT Nguyễn Phú Trọng thôi; không ngờ lại dông dài, ngoài ý muốn. Tại sao tôi lại có liên tưởng mạnh mẽ về cái mô hình “CNXH hoàn thiện” với “kho báu”, mà ông TBT đi đầu, cùng với đội quân tiên phong, dắt dẫn cả dân tộc Việt Nam đi tìm “kho báu” nào đó; với niềm tin và hy vọng nó sẽ là cứu cánh, đưa được đất nước đến bến bờ phồn vinh, nhân dân sẽ có ấm no hạnh phúc. Việc đi tìm kho báu thì đã có từ xưa nay; kể cả tìm thấy trong các truyện cổ tích, truyện thần thoại.
Những người đi tìm kho báu, ngoài được trang bị một số thông tin nào đó ban đầu, để có căn cứ làm chỗ dựa; họ thường là những con người cả tin vào vận may. Nói chính xác, họ sẵn sàng liều đánh cược trước sự may rủi; và cũng có kẻ, có thêm sức mạnh của lòng tham; nhưng nhìn chung, họ đều giống nhau là, chọn sự rủi may để hành động. Nếu như ví mô hình “CNXH hoàn thiện” là “kho báu”, thì trăm năm nữa, liệu có tìm thấy “kho báu” không nhỉ? Không ai trả lời nổi câu hỏi này, ngoài người đại diện tiêu biểu, sáng suốt duy nhất là, ông TBT Nguyễn Phú Trọng, đáng kính.

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP: LỜI KHUYÊN CHO TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG


Sửa đổi Hiến pháp: 
Lời khuyên cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng 
Kami
Theo Blog Quê Choa

Vấn đề Sửa đổi Hiến pháp hình như có một vấn đề gì nghe chừng không ổn, khi chính quyền đang cố gắng rốt ráo thúc đẩy vấn đề trọng đại bậc nhất vào thế sửa cho nó xong. Hẳn mọi người còn nhớ, cách đây gần một năm vào thời điểm cuối năm 2012 chính quyền hết mực hô hào, kêu gọi người dân tích cực đóng góp ý kiến vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 trên tinh thần phát huy dân chủ, huy động trí tuệ của mọi tầng lớp nhân dân. Vậy mà... 

Nhìn lại các diễn biến xung quanh việc Sửa đổi Hiến pháp ở giai đoạn thoái trào, đã cho thấy sự lúng túng, nếu không muốn nói là bế tắc không tìm thấy lối ra của chính quyền. Trong tình thế mâu thuẫn giữa các phe nhóm trong đảng đang ở thế tiến thoái lưỡng nan. Một bên là phe muốn sửa và một bên phe bằng mọi cách phá đám, đã khiến việc sửa Hiến pháp có muốn cũng không sửa nổi. Đó chính là lý do cho thấy,đến thời điểm này "toàn văn dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992" hầu như không có sự thay đổi đáng kể trong các vấn đề hệ trọng như: chế độ chính trị, tên nước, vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng cầm quyền, bản chất lực lượng vũ trang, chế độ sở hữu toàn dân… đều không thay đổi so với bản Hiến pháp năm 1992. Điều đó cho thấy vấn đề Sửa đổi Hiến pháp nếu càng để lâu thì việc càng bất lợi cho đảng và chính quyền vì việc Sửa đổi Hiến pháp hiện nay đã ở tình thế miếng "gân gà". Nuốt không trôi, nhả ra cũng không xong kiểu "Bỏ thì thương, vương thì tội".

Theo báo Tuổi trẻ tại phiên thảo luận ở tổ sáng 23-10 trong phần phát biểu của mình, ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại phát biểu ý kiến đi sâu vào Lời nói đầu của bản Dự thảo Hiến pháp và cho rằng “Dự thảo chưa vang vọng như lời hiệu triệu”. Điều mà lẽ ra ông Tổng Bí thư phải nói rằng "Lời nói đầu của bản Dự thảo Hiến pháp chưa vang vọng như lời hiệu triệu" thì mới đúng. Đặc biệt là người ta sửng sốt khi ông Tổng Bí thư thú nhận rằng "Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?" 

Bỏ qua những ý kiến cho rằng góp ý bổ xung vào Lời nói đầu bản Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp của người đứng đầu đảng CSVN đã tạo cho người ta cảm giác đó là lời phê của một ông giáo dạy văn nói về sai phạm ngôn từ trong một bài viết mang nội dung chính trị. Vì toàn bộ phát biểu ngắn gọn đó hầu như tập trung vào việc sửa từ ngữ, hình như nó không đúng tầm của một người giữ cương vị hàng đầu của một đảng chính trị duy nhất hợp pháp ở Việt nam lẽ ra phải lên tiếng. Điều đó cho thấy là ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với tư cách của một người đứng đầu đảng tự cho mình là lực lượng tiên phong đã hết ý để nói. Có lẽ vì như thế nên ông Tổng Bí thư đã cho rằng "Tôi thấy tất cả nội dung lần này đều đáp ứng yêu cầu đó, tôi cũng tán thành.". Xin được hỏi ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ông đã tán thành cái gì? Ông tán thành một bản Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp mà "toàn văn dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992" đó hầu như không có sự thay đổi đáng kể trong các vấn đề hệ trọng. Như: chế độ chính trị, tên nước, vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng cầm quyền, bản chất lực lượng vũ trang, chế độ sở hữu toàn dân… đều không thay đổi so với bản Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi năm 2001). Nếu sửa như thế thì bày vẽ việc sửa đổi Hiến pháp để làm gì cho tốn công, tốn của?

Đáng buồn là khi ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện quan điểm của mình về Sửa đổi Hiến pháp năm 1992, khi ông cho rằng "Với phương châm cái gì đã rõ, đã chín, được thực tiễn chứng minh là đúng và tạo được sự thống nhất cao thì chúng ta sửa. Còn nếu chưa rõ, chưa chín, chưa được kiểm nghiệm qua thực tiễn và ý kiến còn khác nhau thì chưa nên sửa. Tôi thấy tất cả nội dung lần này đều đáp ứng yêu cầu đó, tôi cũng tán thành.". Phát biểu này cũng phần nào lý giải thắc mắc vì sao người đứng đầu đảng CSVN lại cho rằng "Hiến pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng" trong buổi nói chuyện của ông với cử tri hai quận Tây Hồ và Hoàn Kiếm - Hà nội hôm thứ bảy 28.9.2013.

Ý kiến của ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên thảo luận ở tổ sáng 23.10.2013 vừa qua là cơ hội đánh giá uy tín của người đứng đầu đảng CSVN tại thời điểm này. Vì theo nguyên tắc chung của các đảng CS thì ý kiến của người đứng đầu luôn thể hiện ý chí, nguyện vọng và sẽ là nghị quyết của đảng. Bản Hiến pháp chính thức được Quốc hội thông qua có được sửa như ý kiến đóng góp của ông Nguyễn Phú Trọng sẽ có câu trả lời. Và cũng phần nào cho thấy lý do vì sao ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại chọn mục Lời nói đầu của bản Hiến pháp để góp ý. Có ý kiến cho rằng Lời nói đầu của bản Hiến pháp là phần mở đầu nên có tính tổng quát, chung chung không cụ thể và vô thưởng vô phạt là chỗ ông Tổng Bí thư có thể "nói hươu, nói vượn" mà không sợ phạm húy. Đồng thời nếu các ý kiến đó có được tiếp thu thì cũng dễ chỉnh sửa. Còn các chương, các điều cụ thể liên quan những vấn đề hệ trọng như: chế độ chính trị, tên nước, vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng cầm quyền, bản chất lực lượng vũ trang, chế độ sở hữu toàn dân…thì ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có thách cũng không dám nói. Cũng vì việc Sửa đổi Hiến pháp đang bế tắc, gỡ rối không xong.

Việc ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng "Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?", đã được nhiều người đánh giá là thể hiện thái độ bi quan và không tin tưởng vào đường lối của đảng CSVN. Vì dẫu sao cũng biết rằng chủ trương của Đảng CSVN theo đuổi là "Xây dựng một nước Việt nam dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng văn minh", đến nay cũng tròm trèm hơn 80 năm. Nay cộng thêm 87 năm còn lại của thế kỷ XXI nữa mà vẫn "...không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?" thì pháp biểu của ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là lời nói thẳng, nói thật của một người ở trong tình trạng hết lối thoát. Tuy nhiên, nếu tỉnh táo thì chắc chắn ông Nguyễn Phú Trọng sẽ thấy lối thoát chung của chế độ và của việc Sửa đổi Hiến pháp không khó như ông nghĩ. Tuy nhiên điều đó nó đòi hỏi sự chấp nhận việc hy sinh quyền lợi cá nhân của mỗi cá nhân lãnh đạo đảng CSVN đối với đất nước và dân tộc. 

1. Phải hiểu khái niệm Hiến pháp cho đúng 

Nếu hiểu Hiến pháp là một hệ thống quy định những nguyên tắc chính trị căn bản và thiết lập kiến trúc, thủ tục, quyền hạn và trách nhiệm của một chính quyền. Đồng thời Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất của một nhà nước, thể hiện ý chí và nguyện vọng của tuyệt đại đa số dân chúng. Người ta cho rằng Hiến pháp là một bản Khế ước xã hội cơ bản nhất, một bản hợp đồng trên đó các thành viên xã hội thống nhất các nguyên tắc để cùng chung sống với nhau và nó là nền tảng cho tất cả các thỏa ước (luật pháp) khác của cộng đồng. Thông qua Hiến pháp, con người sẽ mất một số quyền tự do để trở thành một công dân được sự che chở của xã hội, đại diện bởi luật pháp. Nói về Hiến pháp, Thomas Payne cho rằng "Hiến pháp là một văn bản không phải của chính quyền mà là của dân chúng tạo ra một chính quyền, và một chính quyền không có hiến pháp là một chính quyền không có luật".

Điều đó nếu đem so với các định nghĩa Cương lĩnh của một chính đảng là "Mục tiêu, đường lối và các bước tiến hành trong một thời kì nhất định, được chính thức quy định" và đảng chính trị là "Tập hợp của những người có chung một hệ tư tưởng hay một đường lối nhất định, có mục tiêu thực hiện một nhiệm vụ, lý tưởng chung và bảo vệ quyền lợi của một tầng lớp, một giai cấp đó". Sẽ thấy các chính đảng, dù bất cứ chính đảng nào quyền lợi cũng không thể lớn hơn một quốc gia và Hiến pháp không thể là "... văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng" như lời của ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Vì như vậy có nghĩa là Đảng cộng sản Việt Nam thể hiện nhận thức rằng mình đứng trên pháp luật của quốc gia. Do đó Hiến pháp của một quốc gia thì phải là Hiến pháp một cách đúng nghĩa, Cương lĩnh của một đảng cầm quyền chỉ là văn bản thể hiện nhiệm vụ, lý tưởng chung của một nhóm người và bảo vệ quyền lợi của một tầng lớp, một giai cấp đó. Không thể lầm lẫn và lẫn lộn giữa hai khái niệm đó như chúng ta thấy được thể hiện trong Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp. 

2. Phải đột phá từ vấn đề "Chủ nghĩa Xã hội" 

Đảng CSVN luôn tự nhận mình là đội tiên phong, là lực lượng ưu tú luôn đi đầu trong mọi hoạt động. Đã dám tự nhận mình là lực lượng tiên phong thì tại sao đảng CSVN không dám có những suy nghĩ mang tính đột phá, mới mẻ hơn kể cả học hỏi các tinh hoa của nhân loại. Vậy mà, với công việc Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 thì ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại vẫn cứ cho rằng "Với phương châm cái gì đã rõ, đã chín, được thực tiễn chứng minh là đúng và tạo được sự thống nhất cao thì chúng ta sửa. Còn nếu chưa rõ, chưa chín, chưa được kiểm nghiệm qua thực tiễn và ý kiến còn khác nhau thì chưa nên sửa. Tôi thấy tất cả nội dung lần này đều đáp ứng yêu cầu đó, tôi cũng tán thành.". Điều này cho thấy bản thân ông Tổng Bí thư đang tự phủ nhận vai trò của đảng CSVN và thể hiện tư duy giáo điều, bảo thủ.

Thế nào là chưa rõ, chưa chín, chưa được kiểm nghiệm qua thực tiễn và ý kiến còn khác nhau thì chưa nên sửa? Hay là còn muốn khi nào mọi lựa chọn phải là chân lý, kiểu "Trái đất luôn quay tròn" thì mới chịu sửa. Cụ thể là "vấn đề Chủ nghĩa Xã hội"

Đây là vấn đề trọng tâm, then chốt của mọi vấn đề và thực tiễn đã chứng minh rõ, đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn cách mạng Việt nam từ năm 1930 đến nay cho thấy hoàn toàn thất bại. Là tiền đề cho việc cải cách thể chế chính trị, chuyển từ ý thức hệ cộng sản sang ý thức hệ tự do, dân chủ và là việc cần phải tiến hành trước việc Sửa đổi Hiến pháp.

Nền tảng ý thức chính trị của chế độ hiện tại là khái niệm Chủ nghĩa xã hội. Khái niệm này bao gồm các tư tưởng chính trị ủng hộ một hệ thống kinh tế-xã hội mà trong đó các sở hữu và các tài sản là thuộc quyền điều khiển của toàn thể cộng đồng nhằm mục đích tiến đến sự công bằng trong xã hội và trong kinh tế cũng như tiến đến một sự hợp tác tốt hơn. Nhìn theo khía cạnh kinh tế thì chủ nghĩa xã hội có đặc tính là sự sở hữu của các phương tiện sản xuất đã được "cộng đồng hóa"trên cơ sở từ bỏ những ý tưởng của chủ nghĩa tư bản thị trường tự do, hạn chế sở hữu tư nhân và thúc đẩy công bằng xã hội.

Tuy vậy trong suốt giai đoạn từ 1917 đến 1991, khái niệm Chủ nghĩa Xã hội đa phần bị lạm dụng thuật ngữ, người ta sử dụng nó để xác định các quốc gia được cai trị bởi các đảng cộng sản. Ở đó Chủ nghĩa xã hội là một hệ thống trong đó các phương tiện sản xuất được xã hội hóa, và nền kinh tế của ý thức hệ Mác-xít đã được thiết lập trên cơ sở phân phối công bằng của cải và sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất được phá bỏ và thay bằng công hữu hóa.

Ở Việt nam và các nước XHCN cái gọi là Chủ nghĩa Xã hội đã thực hiện theo hình thức quốc hữu hoá đất đai, các phương tiện sản xuất và tất cả làm ăn tập thể trong các cơ sở công nghiệp quốc doanh, các hợp tác xã, nông truờng. Đây chính là lý do khiến Liên xô và các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ. Ở Việt nam năm 1986 đảng CSVN phải chấp nhận "cởi trói" hay "đổi mới" cũng chính là việc từ bỏ khái niệm Chủ nghĩa Xã hội của ý thức hệ Mác-xít. Và cải cách đã biến Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất 25 năm trước trở thành một nước có thu nhập trung bình (MIC) (thu nhập bình quân đầu người năm 2011 là 1.260 US$). Số người nghèo giảm từ 58% đầu những năm 1990 xuống còn khoảng 10% năm 2008.

Bỏ qua vấn đề chính trị còn đang luẩn quẩn trong vấn đề ý thức hệ cộng sản, thì phần còn lại của một quốc gia như kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục... tất cả đã phát triển một cách tự do và đã vượt ra khỏi sự kiểm soát của chính quyền. Nghiã là ý thức hệ cộng sản và khái niệm Chủ nghĩa xã hội đã và đang dần dần trở thành khúc ruột thừa của đời sống kinh tế -xã hội. Không những thế nó đang còn là vật cản, đã và đang níu kéo làm chậm đi sự phát triển của đất nước. Đây chính là trở ngại và cũng là vấn đế gây ra những vướng mắc khiến việc Sửa đổi Hiến pháp đã gặp sự bế tắc trong mớ bòng bong vô vàn các quan hệ hữu cơ. Mà sự bế tắc này chỉ có thể giải quyết thông qua việc cải cách chính trị toàn diện đồng thời với việc Sửa đổi Hiến pháp. Đó chính là giải pháp thay đổi toàn diện kể cả vấn đề nền tảng ý thức chính trị, chuyển từ ý thức hệ cộng sản sang ý thức hệ dân chủ tự do. Đó là vấn đề then chốt mang ý nghĩa quyết định.

Ngay cả ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng phải thừa nhận rằng "Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?". Hơn nữa, sự thất bại và phá sản của cái gọi là Chủ nghĩa Xã hội theo học thuyết Marx-Lenine trên toàn cầu,. Mà những cái tàn dư của nó chỉ còn sót lại ở Cuba, Bắc Triều tiên..., kể cả ở Việt nam và Trung quốc trên thực tế đã là Tư bản nhà nước thì cái Chủ nghĩa thối rữa ấy những người cộng sản cũng đã tự tay mình vứt vào sọt rác rồi.

Và một câu hỏi sẽ được đặt ra để ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trả lời, đó là "Thế những cái gì chưa rõ, chưa chín, được thực tiễn chứng minh là hoàn toàn sai và không tạo được sự thống nhất cao thì chúng ta sẽ phải xử lý thế nào? Sửa hay không sửa?". Nếu không sửa có nghĩa là cố ý duy trì những cái sai, những cái bất cập.

Được biết mục tiêu của đảng CSVN là xây dựng Việt nam thành một quốc gia "Dân giàu, nước mạnh. Xã hội công bằng và văn minh", đây là một mục tiêu tuy chưa hoàn chỉnh nhưng mang ý nghĩa tốt đẹp. Song để đạt được mục tiêu đó thì thực tế chứng minh, có nhiều con đường để đạt được với thời gian chỉ vài chục năm. Nhưng chưa có bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đến thời điểm này đạt được bằng cách thông qua con đường CNXH theo học thuyết Marx-Lenin. Điều bộc bạch của ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi cho rằng "Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?" cho thấy sự hoài nghi của ông Trọng là hoàn toàn có cơ sở.

Một người lãnh đạo thông minh, có kiến thức và có tư duy, một lòng vì nước vì dân thì chắc chắn họ đã biết họ phải làm gì rồi ông Nguyễn Phú Trọng ạ.

Ngày 04 tháng 11 năm 2013

© Kami

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

Lê Trấn Gia: BỨC THƯ GỬI TỔNG BÍ THƯ VÀ 175 ỦY VIÊN TW ĐẢNG CSVN

Thư của Lê Trấn Gia gửi Lãnh đạo Đảng CSVN

Hà Nội ngày 28 tháng 10, 2013

Kính gửi: Ông Tổng bí thư
Đồng kính gửi: 175 ông bà ủy viên ban chấp hành TƯ Đảng CS Việt Nam 

Chi bộ đảng chúng tôi bao gồm những người cựu chiến binh, cựu thanh niên xung phong, cựu cán bộ viên chức, trong số chúng tôi, có người đã từng tham gia cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Nhiều người trong chúng tôi đã để lại trên chiến trường năm xưa một phần xương máu của mình. Trong chi bộ của chúng tôi cũng có không ít người từng được nhân dân gọi là “quan chức cao cấp”. Chi bộ hưu trí của chúng tôi sinh hoạt định kỳ hàng tháng theo đúng chỉ đạo của đảng ủy cấp trên, và chúng tôi cũng tranh thủ các buổi sinh hoạt đảng để được trao đổi với nhau về con người, thời cuộc, về đất nước Việt Nam yêu dấu. 

Thưa các ông các bà, thừa nhận rằng trong rất nhiều năm, các đảng viên chúng tôi đã từng khá bằng lòng với cuộc sống của mình, đã nhìn nhận quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa của đất nước mình là một quá trình tất yếu. Trong một thời gian dài chúng tôi khá vui mừng với sự cải thiện rõ rệt trong đời sống vật chất và tinh thần, không những của các đảng viên trong chi bộ chúng tôi, mà nhìn chung trong phạm vi toàn xã hội. Về vật chất, thay vì ăn no mặc ấm là ăn ngon mặc đẹp, là tiện nghi sinh hoạt đầy đủ, hiện đại. Về tinh thần, đời sống tinh thần ngày càng được cải thiện, nhiều người dân, đã có thể thông qua các phương tiện hiện đại, tiếp cận tới các giá trị tinh thần đủ loại, không chỉ trong phạm vi đất nước, mà còn trong phạm vi trên toàn thế giới. Tầm nhìn được mở rộng, kiến thức được nâng cao…Phải thừa nhận rằng, so sánh với cuộc sống trong thời kỳ chiến tranh hay thời bao cấp, thì cuộc sống hiện nay đã có sự khác biệt rất lớn. Bộ mặt đất nước đã có nhiều thay đổi mạnh mẽ. Các đô thị và nhiều vùng nông thôn đã được đổi thay theo hướng hiện đại, văn minh v.v... 

Trong một thời gian dài, chúng tôi đều có nhận định chung là có thể lúc nọ lúc kia, trong bộ máy của Đảng nhà nước tuy cũng có những sai lầm, thiếu sót, nhưng thành quả đạt được là không thể chối cãi, và chúng tôi có thói quen cho đó là nhờ sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của đảng…Và dường như hầu hết chúng tôi đều thỏa mãn và đồng tình với cách tuyên truyền, huấn thị của TƯ đảng về việc triển khai đường lối của đảng vào cuộc sống. Đa số chúng tôi đều không có nhiều thắc mắc với tiến trình đổi mới của đất nước, đặt lòng tin rất nhiều về sự thành công của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Chúng tôi đã từng tự hào là đảng viên đảng cộng sản! 

Thưa các ông các bà, trong một vài năm gần đây, tình hình kinh tế, xã hội của đất nước có nhiều biến động theo chiều hướng tiêu cực. Với những nguồn thông tin khách quan và rộng lớn mà chúng tôi thu thập được trong nước và trên thế giới, thì chợt nhận ra rằng, chúng ta đã tự ru ngủ nhau trong một thời gian quá dài. Hệ quả là chúng tôi với tư cách đảng viên cộng sản, đã tự cho phép mình làm quen với các tệ nạn nhũng nhiễu, tham nhũng xảy ra trong xã hội. Cứ bất kỳ ở đâu cán bộ có quyền là chỗ đó có tiêu cực. Các khái niệm phong bì, phong bao, lót tay dường như là một sinh hoạt không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngay, trong việc xin cho, kể cả những việc xin cho đã được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật, pháp quy. Từ công an giao thông đến thuế vụ, môi trường, từ hải quan đến bệnh viện, đến trường học… hầu hết các nơi giải quyết chế độ chính sách, đâu đâu cũng phải “bồi dưỡng”, phải “bôi trơn”. Mọi người dân trong đó có các đảng viên chúng tôi dần quen với các hiện tượng này và đã trở thành những kẻ đồng lõa cho các hành vi hối lộ, tham nhũng. 

Nhưng thưa các quý vị, đến những năm gần đây, khi các hiện tượng tiêu cực tham nhũng đã trở thành những đại dịch, khi tình hình kinh tế, đạo đức xã hội có biểu hiện xuống cấp nghiêm trọng thì những người đảng viên chúng tôi mới dường như bừng tỉnh, tự hỏi chúng ta đang ở đâu? Vị trí nào trên thế giới? Chúng ta là ai? Và đang làm những gì?... 

Sự thật phũ phàng làm chúng tôi dần tỉnh ngộ khi biết rằng đất nước đang tụt hậu nhanh chóng về mọi mặt kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, …so với các nước khác trong khu vực. Sự tụt hậu này rõ ràng không thể đổ lỗi cho chiến tranh, và cũng không thể đổ lỗi cho ảnh hưởng tư duy bao cấp của ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa của các nước đàn anh như Liên Xô, Đông Âu. Họ đã bị sụp đổ gần 30 năm nay rồi. Chúng tôi thật sự đau xót khi không thể phủ nhận nguyên nhân của hiện tượng tụt hậu này chính là bắt nguồn ở những đảng viên chúng ta, không loại trừ những đảng viên đã về hưu như chúng tôi, những người tự coi là lực lượng tiên phong trong xã hội. Trước tiên, chúng tôi xin đưa ra những nhận định chủ quan của chúng tôi, về từng lĩnh vực quan trọng nhất trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước để chúng ta suy xét một cách khách quan nhưng thẳng thắn hiện trạng mà chúng ta đang đối mặt: 

1. Về kinh tế: Theo thông tin từ nguồn tin chính thức của những nhà nghiên cứu của Đảng và nhà nước thì kinh tế Việt Nam hiện nay đang ở mức độ phát triển ngang với Singapore những năm 60 thế kỷ trước, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore (theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới)…. Nền công nghiệp chủ yếu vẫn ở mức độ gia công, chế biến thô sơ, lấy công làm lãi là chính. Về nông nghiệp, khai khoáng, chủ yếu vẫn là xuất hàng thô, hàm lượng giá trị gia tăng rất thấp, năng suất lao động bình quân xã hội là thấp. Cơ cấu nền kinh tế mất thăng bằng, lệch lạc, không bền vững, khả năng cạnh tranh của nên kinh tế thấp. 

2. Đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng, các tệ nạn xã hội ngày càng phức tạp, tội phạm gia tăng, đạo đức ứng xử giữa con người với con người xuống cấp nghiêm trọng. Hình ảnh của người Việt Nam ngày càng xấu đi trước con mắt của bạn bè quốc tế, thậm chí trở thành vấn nạn của một số quốc gia khu vực như hiện tượng người Việt bỏ trốn, làm ăn phi pháp ở nước ngoài, người Việt ăn cắp, ăn trộm, làm nghề mại dâm phi pháp diễn ra tràn lan, đến mức độ nhiều cửa hàng nơi công cộng như ở Nhật, ở Hàn Quốc đã phải viết những biển cảnh báo bằng tiếng Việt! Điều này trở thành vết nhơ vô cùng đáng xấu hổ, không những đối với người đang sống như chúng ta mà còn làm ô uế đối với cả tổ tiên, cha anh, những người đã khuất. Văn hóa thì thiếu định hướng quy hoạch, phát triển theo kiểu xô bồ, ngẫu hứng, thua kém tụt hậu so với hầu hết các nước trong khu vực. 

Về an ninh trật tự an toàn xã hội thường xuyên xảy ra các vụ việc nổi cộm, khiếu kiện đông người, xung đột tranh chấp đất đai, thương nhân Trung Quốc thả sức vào lũng đoạn thị trường cài bẫy làm hại nền sản xuất, rối loạn đời sống của người dân, gây biết bao những hệ lụy, ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân, trật tự và an ninh xã hội ở khắp nơi khắp chốn. Các tổ chức tội phạm hoành hành nhiều nơi. Tham nhũng đã trở thành một vấn nạn ngày càng nguy hại đối với đất nước. Đã qua biết bao kỳ đại hội Đảng, biết bao kỳ họp ban chấp hành TƯ, biết bao nghị quyết của TƯ đảng, của chính phủ, hiện tượng tham nhũng không những không được đẩy lùi mà còn ngày càng phát triển và thấm sâu vào mọi ngóc ngách của xã hội, từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất. Hiện tượng tham nhũng đã tạo ra một lối sống khá đặc thù của đất nước trong nhũng năm gần đây và là nguyên nhân của rất nhiều hiện tượng tiêu cực khác. Nó hủy hoại mọi thứ, từ kinh tế, đến đạo đức, đến văn hóa, đến an ninh quốc phòng…Hiện tượng chạy chức chạy quyền cũng là hệ quả tất yếu của tham nhũng. Có tham nhũng mới có chạy chức chạy quyền và ngược lại. Để được thăng chức, lên chức cũng mất tiền, ngay cả để xin được những vị trí có thể bắt nạt được dân là mất tiền, từ chân nhân viên văn phòng phường xã, đến vị trí của cảnh sát giao thông đứng đường cho đến thuế vụ, hải quan, vị trí nào càng dễ bắt nạt dân thì càng mất nhiều tiền để có được xuất làm việc. Các hợp đồng lớn nhỏ, đặc biệt lấy nguồn từ kinh phí ngân sách đều bị phết phẩy phần trăm. Theo chúng tôi biết, các hợp đồng đầu tư công cho các công trình cơ sở hạ tầng ở cấp địa phương và TƯ đều phải cộng tiêu cực phí ở mức độ 30% trở lên. Mọi khoản mua sắm trang thiết bị máy móc đều bị kê giá. Và động lực từ khoản phết phẩy đã đẩy nhiều đầu tư công vào lãng phí tiêu cực, hiện tượng chạy ngân sách trở nên phổ biến. Kính thưa các quý vị việc này đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư, từ công trình lớn đến công trình nhỏ, đến năng xuất lao động, đến tài sản quốc gia … nhưng đặc biệt làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước và hủy hoại nhanh chóng tới kỷ cương, tới đạo đức xã hội và cả hệ thống chính trị. Hậu quả sẽ rất nặng nề và lâu dài, triệt tiêu mọi sinh lực, nguyên khí của đất nước. Thí dụ trong báo cáo của chính phủ trước quốc hội trong kỳ họp Quốc hội khóa 13 có nêu ra con số nợ xấu trong ngành ngân hàng là khoảng trên 200 nghìn tỷ, nhưng chúng tôi nghe ý kiến từ một quan chức “dày dặn kinh nghiệm” đang tham dự kỳ họp Quốc hội này đưa ra nhận định một cách tưng tửng rằng con số khổng lồ này hoàn toàn không đáng ngại, có gấp đôi như thế vẫn không đáng ngại! Ông ta nhận định: “Người ta có thể giải quyết nhanh gọn trong vòng một vài năm khoản nợ xấu này bằng cách các ông to bà lớn, các nhóm lợi ích chỉ cần dành một nửa số tiền tham nhũng mà họ thu hoạch được theo thông lệ thì chỉ sau 1 đến 3 năm toàn bộ nợ xấu của VN sẽ được xử lý hết, vì đa số nợ xấu là do nhóm lợi ích gây ra, bao gồm các tập đoàn nhà nước và các nhóm lợi ích tư nhân đang được các quan chức lớn của đảng và nhà nước đứng đằng sau hỗ trợ bảo kê. Ngay cả tình trạng đóng băng bất động sản và hiện tượng trì trệ trong một số ngành sản xuất, đối với các nhóm lợi ích, cũng chỉ là hiện tượng nhất thời. Họ hoàn toàn có thể xoay chuyển được, khi mà các vị quan chức cấp cao của Đảng và nhà nước chống lưng cho các nhóm lợi ích này bằng cách tiếp tục hỗ trợ họ tham gia vào việc sử dụng các khoản đầu tư công dưới hình thức nhận thầu, đấu thầu hình thức ….một khi mà chính phủ xoay sở được tiền !.” 

Mặc dù tiêu cực, tham nhũng lan tràn như vậy, nhúng chúng tôi vẫn muốn đánh giá thật công bằng các thành quả do chính sách của đảng và nhà nước mang lại. Xem cái gi tốt thì giữ lại, cái gì xấu phải loại bỏ. 

Song, lại một lần nữa, chúng tôi giật mình khi một thành viên trong chi bộ chúng tôi, vốn là cán bộ chủ chốt của ngành thống kê, đưa ra một con số là tổng số nợ công và tổng đầu nước ngoài trực tiếp và gián tiếp trong vòng khoảng 20 năm vừa qua như sau: 
- ODA không hoàn lại: 6,67 tỷ đô la Mỹ
- Vay ODA ưu đãi: 30,83 tỷ đô la Mỹ
- Các khoản vay ưu đãi từ nước ngoài: 21,27 tỷ đô la Mỹ 
- Các khoản vay được chính phủ bảo lãnh: 14 tỷ đô la Mỹ
- Trái phiếu địa phương: 0,7 tỷ đô la Mỹ
- Tổng dư nợ của doanh nghiệp nhà nước: 62 tỷ đô la Mỹ
- Tổng đầu tư nước ngoài FDI: 222 tỷ đô la Mỹ
- Đầu tư gián tiếp của nước ngoài: khoảng 30 tỷ đô la Mỹ 

Vậy chúng tôi thử hỏi các nhà kinh tế học rằng, với số tiền vay mượn và tiền vốn của nước ngoài khổng lồ như vậy, thì kết quả mà nhân dân và xã hội Việt Nam nhận được cho tới nay là thành tích đáng mừng hay chỉ là kết quả quá khiêm tốn. Phải chăng hiệu quả đầu tư của toàn xã hội là quá thấp? Chỉ số ICOR của VN so với các nước trong khu vực ra sao? Thua kém thế nào? Phải chăng một phần không nhỏ tiền đầu tư đã chảy vào túi bọn tham nhũng, vào lãng phí do sự kém cỏi vô trách nhiệm của giới lãnh đạo? Do vậy, có thể nhận định, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của chính phủ trong thời gian vừa qua, thực chất là đã làm tiêu hao và lãng phí một số lượng của cải vật chất và tiền bạc khổng lồ của nhân dân và của đất nước! Những kết quả được thể hiện ở việc nâng cao đời sống nhân dân, hay sự phát triển về cơ sở hạ tầng, hay sự biến đổi bộ mặt các đô thị và một số khu vực nông thôn, xóa đói giảm nghèo …, chỉ là hệ quả đương nhiên phải có khi một số lượng tiền đầu tư khổng lồ như nói ở trên được đưa vào xã hội và nền kinh tế! 
Với số tiền khổng lồ đã được đầu tư như vậy trong những năm qua, nhưng rõ ràng tình hình kinh tế đất nước hiện nay vẫn chỉ dừng lại ở mức phát triển rất khiêm tốn, còn xa mới đạt được như các nước khác trong khu vực.Vào những năm 80 của thế kỷ trước tuy nền kinh tế đất nước còn rất nghèo nàn lạc hậu nhưng nợ công của nước ta lúc bấy giờ cón rất thấp, có thể nói là chưa đáng kể. Nhưng ngày nay con số này đang tăng lên đến chóng mặt, nếu tính đúng tính đủ thì đã vượt GDP! Với thực tế đáng buồn này có thể buộc chúng ta phải thừa nhận rằng trong hơn 2 thập kỷ vừa qua, chúng ta đã cùng lúc tham ô tiền của của quá khứ và ăn cắp tiền của tương lai! Hỡi ôi! Chúng tôi rất mong muốn nhân định này là sai vì nó quá phũ phàng! Nhưng nếu đúng, chúng tôi và tất cả các đảng viên chân chính trên toàn cõi Việt Nam phải đủ dũng cảm để đối mặt với sự thực đau đớn này để biết đường mà hành động! Xin các nhà khoa học, các nhà kinh tế cần phải có đánh giá lại một cách tổng quan, đầy đủ và khách quan để xác định một cách trung thực nhất rằng từ ngày đất nước đổi mới đến nay chúng ta đã bỏ ra bao nhiêu tiền và đã thu lại được gì?. Có tương xứng hay không? Chúng ta phải kiểm toán lại toàn bộ nền kinh tế. Người dân Việt Nam không thể chấp nhận cho những người lãnh đạo kém đức, kém tài tiếp tục lợi dụng ánh hào quang của quá khứ và bắt con cháu chúng ta phải è lưng trả nợ cho các hành vi tham nhũng, lãng phí và dốt nát. 

Thưa các quý ông quý bà, chúng tôi muốn gửi tới quý ông quý bà những suy nghĩ chân thành và thẳng thắn nhất mà theo chúng tôi là nguyên nhân đã dẫn đến hiện tượng đau lòng và vô cùng nguy hiểm này:

Người ta nói thực tiễn là thước đo chân lý. Với những thực tế tụt hậu, xuống cấp nói trên, thì đảng cộng sản Việt Nam, và cụ thể là các thế hệ lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam trong hai thập niên vừa qua phải chịu trách nhiệm hoàn toàn. Không thể đổ lỗi cho khách quan. Tại sao ở các quốc gia khác, có những điều kiện về mặt địa lý, thiên nhiên kém ưu đãi hơn đất nước Việt Nam nhưng họ ngày càng vượt xa chúng ta. Vậy phải chăng những thành tích mà Đảng đã lãnh đạo đất nước trong hai thập kỷ qua đã đạt được là những “thành tích ngược”! Chúng tôi thật sự đau lòng thấy rằng đây là trách nhiệm của toàn Đảng, trong đó có chúng tôi. Sự kiêu ngạo, dốt nát, hiếu thắng, tư duy giáo điều và cả sự hèn nhát nữa là nguyên nhân cội rễ. Chúng ta luôn tự vỗ ngực là theo lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học Mác Lênin, nhưng trong thực tế, chính chúng ta là những kẻ duy ý chí nhất, chủ quan nhất, thiển cận nhất. Khi thực tiễn đã chối bỏ sự thành công của hệ tư tưởng chủ nghĩa xã hội tại Đông Âu và Liên Xô (cái nôi và thành trì của chủ nghĩa xã hội trước đây) thì rõ ràng những người cộng sản chân chính lẽ ra phải rút ra từ thực tế khách quan này những sai lầm, những bất cập trong học thuyết Mác Lênin và phải tự thay đổi mình nếu không nói là tự lột xác để đạt được mục tiêu tối thượng của chủ nghĩa xã hội là vì hạnh phúc của dân, vì sự phát triển của đất nước. Chúng ta vẫn ra rả hô khẩu hiệu “của dân, do dân, và vì dân”, nhưng thực tế đã chứng minh rằng lợi ích của Đảng ngày càng tách rời lợi ích của nhân dân, của dân tộc và của đất nước. Đảng càng chậm đổi mới về lý luận bao nhiêu thì ngày càng bộc lộ sự áp đặt chuyên quyền về mặt tư tưởng lên xã hội bấy nhiêu. Như vậy tất yếu Đảng phải xây dựng và duy trì một bộ máy nhà nước kìm kẹp sự phát triển của đất nước, và hạn chế sự phát huy dân chủ, sáng tạo của người dân. Chúng ta đã càng ngày càng vi phạm một cách trắng trợn, thô thiển quyền và lợi ích của người dân. Đứng trước tình hình ngặt nghèo của nền kinh tế trên bờ sụp đổ, đại hội 6 của đảng đã phải (lúc đó đất nước vẫn còn chịu ảnh hưởng của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu) thay đổi một số quan điểm rất cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, đó là chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang việc chấp nhận áp dụng một khái niệm cơ bản của nền kinh tế thị trường. Từ việc cổ súy quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đả phá quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, sang việc chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần. Các kỳ đại hội tiếp theo, khi mà phe XHCN tan vỡ, Đảng đã phải tiếp tục tháo gỡ rất nhiều khái niệm cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, như việc tuy chưa loại bỏ hoàn toàn khái niệm bóc lột của chủ nghĩa tư bản, nhưng Đảng đã bắt đầu chấp nhận và làm theo cách quản lý của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cả ở tầm vĩ mô cũng như vi mô, và hơn thế nữa,chúng ta còn học hỏi cách tổ chức xã hội theo hướng nhân văn của nhiều nước tư bản phát triển. Cụ thể, cho đến những năm 2000, thì đảng cộng sản Việt Nam đã cho phép đảng viên được làm kinh tế tư nhân (theo khai niệm cũ tức là cho phép “bóc lột”). Mặc dù đảng cộng sản vẫn cố gắng bấu víu vào một số khái niệm cuối cùng của học thuyết Mác Lênin để muốn chứng minh rằng con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội là đúng đắn bằng việc cổ xúy kinh tế nhà nước, mà cụ thể, theo nhiều người hiểu một cách thô thiển là ưu đãi các công ty, tập đoàn có vốn nhà nước, dành cho thành phần kinh tế này sự ủng hộ về mọi mặt: hành lang pháp lý, tiền vốn, sự độc quyền, thị trường…! Nhìn lại quá trình trải qua các đại hội Đảng, chúng ta đã rất vất vả tự trói vả tự cởi trói cho mình. Biết bao những cuộc hội thảo, tranh luận, và những cái giá phải trả trên thực tế, Đảng cộng sản VN về mặt tư tưởng và lý luận vẫn chuyển biến môt cách ì ạch, miễn cưỡng, hệ quả là trong suốt hai thập kỷ qua, không phải là Đảng tạo ra bước đi sáng tạo, đột phá để dẫn dắt đất nước đi lên, mà là thực tế đã kéo lê Đảng phải chạy theo! Cụ thể là chỉ khi trên thực tế đã phát sinh ra những tình huống, những đòi hỏi không thể làm khác được, buộc Đảng phải tự cởi trói tự loại bỏ đi những khái niệm, những nguyên tắc đã quá lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế và của các vấn đề chính trị, xã hội theo đúng quy luật của sự phát triển. Từ khi đảng cộng sản TQ đưa ra khẩu hiệu là “xây dựng chủ nghĩa xã hội theo kiểu TQ”, mà các nhà lý luận không ai có thể định nghĩa được kiểu TQ là kiểu gì, thì đảng ta cũng đưa ra một khái niệm “xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng chủ nghĩa xã hội”, một khái niệm rất mơ hồ, mà các nhà chính trị, các nhà kinh tế học, các chuyên gia, mỗi người giải thích theo một cách. Dường như khái niệm xã hội chủ nghĩa chỉ là động tác cố gắng vớt vát lại cái hơi hướng gọi là chủ nghĩa xã hội của chế độ. Chính vì cái lờ mờ và tùy tiện này, nên đất nước đã phải trả giá rất đắt. Nhiều vị lãnh đạo trong Đảng đã diễn giải “định hướng xã hội chủ nghĩa” tức là ưu ái các doanh nghiệp nhà nước, coi họ là “quả đấm thép”, là “xương sống của nền kinh tế”, và đương nhiên khi đã là quả đấm thép, là xương sống thì sẽ có những ưu ái khác biệt, khác hẳn các doanh nghiệp không phải của nhà nước, và đã tạo ra một môi trường theo kiểu “nuôi dưỡng kiêu binh”, một đội ngũ doanh nhân và doanh nghiệp được chiều chuộng và bị lạm dụng cho các mục tiêu cá nhân của những vị lãnh đạo của Đảng và nhà nước, chúng dần dần biến thành những nhóm lợi ích bao gồm lãnh đạo đảng và nhà nước – doanh nghiệp nhà nước - các doanh nghiệp tư nhân trong phe cánh, để chia chác tài nguyên của đất nước, chia chác những ưu đãi, những thị phần quan trọng, chia chác những nguồn tài chính của đất nước…v.v. Những xu hướng vô cùng nguy hiểm và xấu xa này là được che đậy bởi khẩu hiệu định hướng xã hội chủ nghĩa !!!

Lẽ ra, trong hoàn cảnh hệ thống chủ nghĩa xã hội trên thế giới sụp đổ, thì những người cộng sản VN nếu thực sự trung thành với lý tưởng của mình là vì dân vì nước thì phải tìm ra con đường mới để đưa đất nước tiến lên, đưa dân tộc trở nên giàu có. Nhưng rất tiếc trên thực tế thì “cái gọi là những người cộng sản” hoặc là do ấu trĩ, hoặc là do hư hỏng, đã cố tìm cách níu kéo những tư duy đã lỗi thời của quá khứ, và họ đã phản bội lại mục tiêu tối thượng của mình. Họ chỉ tìm cách ru ngủ mình, ru ngủ nhân dân bằng những khái niệm mơ hồ với những khẩu hiệu rỗng tuếch. Với thực tế này, Đảng cộng sản đã trở thành trở ngại của sự phát triển, của tiến bộ, là nơi nuôi dưỡng những ung nhọt. Chúng tôi thật sự choáng váng khi nhận biết được là các vị lãnh đạo của đảng, và đặc biệt là ông tổng bí thư, đã không nhận ra thực tế phũ phàng này mà lại tiếp tục ru ngủ mình và ru ngủ người khác bằng các bài thuyết giáo ngớ ngẩn dến mức kỳ cục. Xin hãy đọc lại bài phát biểu của TBT Nguyễn Phú Trọng trong chuyến đi thăm Cuba vừa qua. Chúng ta thấy sự lặp lại một cách lố bịch những tư tưởng giáo điều mà người ta chỉ sử dụng vào trước những năm 70 của thế kỷ trước. Chúng tôi không hiểu nổi tại sao người lãnh đạo cao nhất của đảng lại bất chấp mọi thực tế, bất chấp sự vận động của thực tế khách quan đến như vậy! Đội ngũ hàng nghìn những cán bộ tuyên huấn do ông Nguyễn Phú Trọng đứng đầu trong suốt mấy thập niên vừa qua đã làm gì, đã tạo được cái gì mới, để cho chủ nghĩa Mác Lênin có thể sống được với thực tế phát triển của nhân loại, ngoài việc lặp đi lặp lại như những con vẹt nghễnh ngãng với thời cuộc. Chẳng thế mà trong đợt góp ý sửa đổi hiến pháp năm 1992 vừa rồi, Đảng mà người đứng đầu là ông tổng bí thư đã sử dụng bộ máy tuyên truyền viên hùng hậu, cùng các phương tiện thông tin đại chúng trong toàn quốc để đưa ra đủ loại biện minh cho việc phải đưa vào hiến pháp nội dung “lực lượng vũ trang phải trung thành với đảng”. Thật kỳ lạ! Sự ép buộc này chỉ có thể lý giải bằng một cách duy nhất, là các vị lãnh đạo cao cấp của đảng đang sợ những đảng viên của chính mình (trong hàng ngũ sĩ quan và hạ sĩ quan thì 100% là đảng viên) hiện đang làm việc trong các lực lượng vũ trang chống lại họ! Thật là hài hước và châm biếm! Và nếu họ sợ như vậy, tại sao lại phải phơi bầy lên một đạo luật cơ bản của đất nước các vấn đề nội bộ đáng đau lòng của Đảng. Phải chăng không còn cách nào khác để giải quyết các vấn đề nội bộ trong đảng, thì phải phơi nó lên hiến pháp trước toàn dân và trước cộng đồng quốc tế?! Và liệu quy định như vậy trong hiến pháp thì lực lượng vũ trang hay các đảng viên trong lực lượng vũ trang có từ bỏ việc chống lại lãnh đạo đảng không?! Sự lú lẫn của ông tổng bí thư lên đến cực điểm khi dám phát biểu công khai là Hiến pháp được xếp vị trí thứ hai sau cương lĩnh đảng!!! Nhận định này cực kỳ phi chính trị, cực kỳ thiếu hiểu biết, hóa ra khẩu hiệu “của dân, do dân, vì dân và vì tổ quốc” là láo toét!

Thưa các quý vị, rõ ràng trên thực tế đã khẳng định tình trạng quy hoạch nhân sự của đảng đã bị hư hỏng nghiêm trọng từ rất lâu, bắt đầu từ việc quy hoạch các vị trí đứng đầu của đảng: Tổng bí thư, BCT, BCH TƯ. Chúng tôi thấy trong hội nghị TƯ 8 vừa rồi, các quý vị đã thành lập nhiều tiểu ban, trong đó có tiểu ban nhân sự để chuẩn bị cho đại hội 12. Cảm nhận của những đảng viên chúng tôi là lại bắt đầu một đợt chạy chức, chạy quyền rất náo nhiệt từ nay đến đại hội, mà BTC TƯ là sân khấu chính cho cuộc đua, giống như các kỳ đại hội trước đây.

Kính thưa các quý vị, đảng đã yếu kém như vậy thì làm sao chính phủ mà 100% là đảng viên và là ủy viên TƯ lại không tham nhũng lãng phí được. Chúng ta lấy thí dụ của ông Dương Chí Dũng, ông Phạm Thanh Bình: họ phải tìm cách tạo dựng ra nhu cầu giả cho việc mua sắm, đầu tư để xin tiền nhà nước mua tàu cũ, mua ụ nổi để kê giá, để chia chác. Chắc các quý vị cũng thừa hiểu những loại như Dương Chí Dũng đang nhung nhúc trong bộ máy đảng và nhà nước ta hiện nay. Chúng ta hãy nhìn lại cái gọi là cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Đảng trong suốt nhiều thập kỷ qua, và đặc biệt đã dâng lên thành cao trào được thể hiện trong các hội nghị TƯ 4, 5, 6 vừa qua. Thật khôi hài, ông TBT đã khởi động một chiến dịch có thể gọi là công khai và mạnh mẽ nhất chống tham nhũng. Nghị quyết TƯ 4, 5 được nhân dân và các đảng viên chúng tôi rất hy vọng vào sự kiên quyết của những bàn tay trong sạch của Đảng nhằm loại đi những ung bướu cấp tính trong bộ máy của Đảng va nhà nước, nhưng hội nghị TƯ 6, 7 và 8 đã cho một kết quả hoàn toàn ngược lại. Chúng tôi bảo nhau, nếu chi bộ chúng tôi mà có kiểu phê và tự phê giống như BCT và BCH TƯ đã làm trong hội nghị TƯ 6 thì chắc chắn đã bị đảng ủy cấp trên xếp vào chi bộ yếu kém và phải thay dổi lại ban lãnh đạo của chi bộ. Việc rõ ràng đến như vậy mà dường như TBT và nhiều vị ủy viên bộ chính trị trong BCH TƯ không cảm thấy xấu hổ, và vẫn giao giảng huấn thị toàn Đảng phải tổ chức phê và tự phê theo gương BCT! Chúng tôi xin phép được nói thẳng, khẩu hiệu phê và tự phê chỉ là khẩu hiệu đầu lưỡi, chỉ là sự lên gân hình thức trong một thời gian rất ngắn nhằm tự lừa dối mình và lừa dối nhân dân. Còn việc tự khen mình và khen lẫn nhau, kéo bè kéo cánh mới là bản chất, mới là sinh hoạt thường xuyên của Đảng, của ban lãnh đạo đảng va chính phủ hiện nay!!!

Thưa các quý vị, Đảng kém như vậy, chính phủ tham nhũng như vậy, thì làm sao có thể đảm bảo được độc lập cho đất nước, làm sao có thể giữ vững được an ninh quốc phòng. Hãy nhìn vào hiện tượng Đảng ngăn cản người dân đứng ra tổ chức tưởng niệm những liệt sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc là một ví dụ điển hình. Tại sao lại hèn nhát đến như vậy? Người dân Việt Nam không bao giờ muốn gây chiến, không ủng hộ chủ nghĩa dân tộc quá khích. Nhưng quyền được tưởng nhớ và tôn vinh những người con của đất nước đã hy sinh để bảo vệ tổ quốc là quyền tối thiểu của mỗi người dân cũng bị đe dọa tước mất, phải chăng đó là thông điệp của Đảng muốn gửi tới nhân dân rằng nếu Trung Quốc có xâm lược Việt Nam một lần nữa thì người dân hãy cúi đầu làm nô lệ, không được chiến đấu để bảo vệ tổ quốc nữa? Một hiện tượng nữa cũng phải nhắc tới để thấy rõ sự hèn nhát, kém cỏi của bộ máy lãnh đạo: trong dịp quốc tang đại tướng Võ Nguyên Giáp, việc ấn định ngày tổ chức lễ quốc tang là do lãnh đạo Đảng chủ động xác định, ấy vậy mà khi thủ tương Trung Quốc Lý Khắc Cường chưa kịp hạ cánh xuống sân bay Nội Bài thì chính quyền thành phố Hà Nội đã xua người đi kêu gọi nhân dân hạ cờ rủ xuống khi mà buổi lễ an táng vẫn chưa kết thúc. Tại sao lại phải hèn nhát đến như vậy? Thủ tướng Trung Quốc đến Việt Nam thì cũng phải biết tôn trọng người Việt Nam chứ. Nếu mà có tư duy kém cỏi, nhược tiểu như vậy thì mua tàu ngầm kilo, mua SU30, SS300, khu trục hạm Đinh Thiên Hoàng để làm gì? Muốn chống giặc ngoại xâm thì phải có lòng kiêu hãnh và khí phách chứ! Giặc Mỹ, giặc Pháp thua Việt Nam chỉ vì điều này. Nguyên lý sơ đẳng như vậy mà tại sao lãnh đạo đảng ngày nay không ý thức được? Các vị lớn tiếng nói đến việc xây dựng lòng tin chiến lược giữa các quốc gia, sao các vị không nghĩ tới việc xây dựng lòng tin với người dân của mình?

Thưa các quý vị, Đảng không được lấy lý do là vì sự ổn định chính trị của đất nước làm cái cớ để làm những việc xằng bậy, yếu kém và vô liêm sĩ như vậy! Ổn định chính trị là rất cần thiết đối với mọi quốc gia, nhưng giữ ổn định là để đưa đất nước tiến lên, chứ không phải để kìm hãm kéo lui đất nước về mọi mặt như hiện nay!

Chúng tôi rất chia sẽ với những câu kết của bút danh Bùi Minh Quốc khi viết về lễ quốc tang đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài Một vài suy nghĩ về "hiện tượng" những ngày quốc tang đại tướng Võ Nguyên Giáp rằng “Sẽ đến lúc sự giả dối, sự ngu dốt, sự hèn nhát và các toan tính bẩn thỉu sẽ bị quét sạch ra khỏi đất nước này.”

Thưa các ông các bà lãnh đạo đảng và nhà nước, các ông các bà có hiểu rằng nếu các ông các bà tiếp tục có thái độ thờ ơ với dân với nước như những ngày vừa qua thì chính người dân Việt Nam, trong đó có cả các đảng viên cộng sản như chúng tôi sẽ vùng lên, sẽ không để cho các ông các bà làm trò hề tổ chức đại hội đảng thêm một lần nữa, sẽ không có đại hội lần thứ 12 nữa đâu! Người dân Việt Nam sẽ không cho phép các ông các bà tiếp tục tham ô của quá khứ và ăn cắp của tương lai. Chúng tôi đã đều lớn tuổi, nhưng chúng tôi sẵn sàng hiến dâng phần đời còn lại của mình để giúp con cháu cùng hàng triệu người dân Viêt Nam anh hùng đứng lên quét sạch những loại rác rưởi của dân tộc, của đất nước! Trong tai chúng tôi bây giờ văng vẳng lời của bài hát diệt phát xít của Nguyễn Đình Thi “Diệt phát xít, diệt bầy chó đê hèn của chúng, tiến lên nền dân chủ cộng hòa. Đồng bào tuốt gươm vùng lên…” Các ông các bà có tin là một cuộc cách mạng giống như cuộc cách mạng tháng tám năm 1945 sẽ nổ ra rất sớm hay không?

Chúng tôi yêu cầu lãnh đạo Đảng phải tự thay đổi lập tức ngay từ bây giờ, thậm chí phải tự lột xác, thì mới còn hy vọng vớt vát lại phần nào niềm tin đối với nhân dân, mới có cơ hội để chuộc lỗi với các sai lầm đã mắc trong thời gian vừa qua, mới không phụ với sự hy sinh của hàng triệu con người đã ngã xuống cho đất nước, cho dân tộc vì lý tưởng của đảng là độc lập, thống nhất tổ quốc, là xây dựng một đất nước hùng cường, một dân tộc hiển vinh, một đời sống dân chủ, tự do hạnh phúc…. 

Hà Nội, 28 tháng 10 năm 2013 
Lê Trấn Gia 
BMQ gửi ngày 28-10-13

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

THẾ LÀ ĐỜI TỄU KHÔNG CÓ MAY MẮN TRÔNG THẤY THIÊN ĐƯỜNG XHCN RỒI!


TBT Nguyễn Phú Trọng: 
"Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa". 

Tuổi trẻ Online ghi lại ý kiến phát biểu thảo luận của Tổng bí thư tại Đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội.

"........Tiếp đó, dự thảo lời nói đầu viết: “Bằng ý chí và sức mạnh của toàn dân tộc, cùng với sự giúp đỡ quý báu của bạn bè và nhân dân thế giới, nhân dân ta đã giành chiến thắng vĩ đại trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới đất nước”.

“Bằng ý chí và sức mạnh của toàn dân tộc, cùng với sự giúp đỡ quý báu của bạn bè và nhân dân thế giới”, tôi thấy hai vế này không đồng đẳng với nhau. Chỉ cần viết là bằng ý chí và sức mạnh của toàn dân tộc, cùng với sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế thôi. Chứ nếu đã đề cao sự giúp đỡ “quý báu” ở vế sau thì vế trước cũng phải đề cao ý chí và sức mạnh “to lớn” hoặc “vô địch” của toàn dân tộc thì mới đồng đẳng với nhau. 

Cái ý “nhân dân ta đã giành chiến thắng vĩ đại trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế” thì đúng rồi. Nhưng ý sau “đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới đất nước” có mấy lỗi. 

Lỗi thứ nhất, đây là sự tiếp tục của giai đoạn trước trong cách mạng dân tộc dân chủ. Giai đoạn dân tộc dân chủ đã có xây dựng CNXH rồi khi từ 1960 tại Đại hội (Đảng) 3 chúng ta đã tuyên bố đưa miền Bắc đi lên CNXH chứ đâu phải chỉ tới công cuộc đổi mới mới xây dựng CNXH. 

Lỗi thứ hai, xếp xây dựng CNXH và đổi mới đất nước bằng nhau. Xây dựng CNXH thì lại mất cái vế bảo vệ Tổ quốc, rất là thiếu ý và lủng củng chỗ này. Có thể nói là trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc chứ không nên nói trong cuộc xây dựng CNXH và đổi mới. Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa. 

Cho nên nếu có sửa thì phải nói là “đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới đưa đất nước đi lên CNXH” sẽ chuẩn hơn".....

Nguồn: Tuổi Trẻ.

Ối giời ơi! Bác Trọng làm em nản quá! Thế thì đời em không có may mắn được trông thấy thiên đường xã hội chủ nghĩa rồi! hu..hu hu..
Thôi! Không mơ tới được thiên đường, thì chúng em cứ sống với cái địa ngục này vậy!

Đọc thêm: 
Bye bác Tổng, em trùm chăn đây

24 Tháng 10 2013 lúc 20:51

Thưa bác Tổng,
Ngày xưa còn bé, em nghe các bác cán bộ nói 40 năm nữa thì nước ta bằng Liên Xô bây giờ.

Lớn lên học chủ nghĩa Mác, em nghe các thầy nói, Liên Xô đã có những yếu tố cơ bản của chủ nghĩa cộng sản, có nghĩa là chủ nghĩa xã hội đã có rồi.

Sau đó số phận của thằng Liên Xô thế nào, bác đã biết. Không thể nói hết được lúc đó em hoang mang thế nào đâu.

Thế rồi đột nhiên hôm nay, em thấy báo Tuổi trẻ ghi lời phát biểu của bác tại Đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội rằng: 

"... xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa" thì thực sự em lo lắng quá.

Lúc còn trẻ, cứ xem khí thế hồi ấy, em nghĩ nước ta, cực nhọc lắm thì cũng chỉ hết thế kỷ hai mươi là có chủ nghĩa cộng sản rồi.

Vậy mà sang thế kỷ 21 đã hơn một thập kỷ, bác lại "dọa" đến hết thế kỷ này vưỡn chưa chắc có chủ nghĩa xã hội (chứ đừng mơ gì đến chủ nghĩa cộng sản) thì em không biết tin vào ai nữa. Điều đó có nghĩa là đời bác và em, đến đời con và đời cháu chúng ta cũng chưa thấy chủ nghĩa xã hội đâu. Vì hết thế kỷ này thì thằng cháu ngoại của em cũng đã ...90 tuổi (cháu của bác chắc còn già hơn, he he)

 

Cháu ông năm 2100 tròn 90 tuổi. Ráng chờ CNXH nha con.

Em oải lắm rồi. Thôi bye bác, em trùm chăn đây để các bác xây dựng chủ nghĩa xã hội cho đám chắt chút chít của chúng ta.

24/10/2013
N.T.T

 

Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

LOẠT BÀI CỦA LS. TRẦN VŨ HẢI NHÂN KỲ HỌP 6 QH KHÓA XIII - BÀI 1


Những bài viết của LS Trần Vũ Hải 
nhân Kỳ họp 6 Quốc hội Khóa 13 (Bài 1)

Giới thiệu của Diễn Đàn Xã hội Dân sự: Nhân kỳ họp rất quan trọng của Quốc hội, kéo dài hơn thường lệ (44 ngày), sẽ dứt khoát thông qua Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp 1992 và Luật Đất đai 2003, LS Trần Vũ Hải đã gửi tới Diễn đàn Xã hội Dân sự Bài viết số 1, trong loạt bài và thư phân tích các khía cạnh pháp lý của các văn bản mà Quốc hội sẽ thông qua lần này, cùng một số vấn đề liên quan khác. 

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với độc giả và chân thành cám ơn Luật sư Trần Vũ Hải. 
BT
————

Thư gửi Đại biểu Quốc hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (đề nghị ông Tổng Bí thư yêu cầu các Đại biểu Quốc hội là đảng viên khi thông qua Dự án sửa đổi Hiến pháp phải tuân theo Nghị quyết Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam về nội dung xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp).

Kính gửi:   Ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam

Đồng kính gửi: -  Ông Trương Tấn Sang – Ủy viên Bộ Chính trị,  Chủ tịch nước
Ông Nguyễn Sinh Hùng –  Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội
-  Ông Nguyễn Tấn Dũng – Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ

Tôi – Trần Vũ Hải, công dân Việt Nam, hành nghề luật sư tại 81 phố Chùa Láng, quận Đống Đa, Hà Nội và 66 Huỳnh Khương Ninh, quận 1, Tp Hồ Chí Minh, xin gửi tới các ông lời chào trân trọng.

Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII (khai mạc hôm nay) sẽ thông qua Dự án sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Với tư cách một người nghiên cứu về Hiến pháp và hành nghề luật sư, tôi đặc biệt quan tâm đến cơ chế bảo hiến được quy định trong Hiến pháp.

 Đảng Cộng sản Việt Nam (“ĐCSVN”) đã thông qua Nghị quyết Đại hội lần thứ X vào ngày 25/4/2006, trong đó có nội dung Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng  khóa IX tại Đại hội X này. Điểm 2 (tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa) mục XI của Báo cáo này có nêu: “Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Do trong Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) chưa quy định về cơ chế phán quyết này, nên phải được hiểu khi sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 sau Đại hội X, nội dung này phải được thực hiện.

Nghị quyết của Đại hội XI của ĐCSVN năm 2011 đã không hủy bỏ nội dung trên. Như vậy, nội dung này vẫn có giá trị đối với các đảng viên khi thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa.

Trước kỳ họp này, ông Nguyễn Hạnh Phúc – Chánh Văn phòng Quốc hội đã cho biết, có 02 phương án liên quan đến cơ chế bảo hiến: phương án 1 quy định việc tổ chức Hội đồng Hiến pháp (với chức năng kiến nghị là chính, không có chức năng phán quyết), phương án 2 giữ nguyên như hiện hành. 

Nếu đúng như vậy, theo chúng tôi cả 02 phương án này đều không phù hợp với nội dung trên của Nghị quyết X của ĐCSVN.  Theo nội dung đã dẫn của Nghị quyết X, thiết chế bảo hiến được xây dựng có quyền phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nói cách khác, thiết chế này sẽ xem xét những khiếu nại về vi hiến của những cơ quan quyền lực Nhà nước và xác định có việc vi hiến hay không, giải quyết vụ việc vi hiến như thế nào? Thiết chế này tương đương với Tòa bảo hiến ở nhiều nước.

Do có quan điểm cho rằng, Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất tại Việt Nam, nên không thể có thiết chế hủy bỏ quyết định của Quốc hội. Tức cho rằng thiết chế bảo hiến ở Việt Nam (nếu có) không có quyền hủy bỏ Luật, Nghị quyết của Quốc hội khi có những quy định vi hiến trong Luật, Nghị quyết, nên cơ chế Tòa án bảo hiến khó hiện thực tại Việt Nam.

Chúng tôi cho rằng, Hội đồng Hiến pháp có thể là một cơ chế phù hợp thực tế hiện nay tại Việt Nam. Tuy nhiên, Hội đồng Hiến pháp phải có chức năng phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tức có quyền xác định có vi hiến hay không và giải quyết vụ việc vi hiến, khi có khiếu nại  của công dân, tổ chức. Riêng đối với hoạt động lập pháp của Quốc hội, Hội đồng Hiến pháp có quyền xác định nội dung trong một đạo luật hoặc Nghị quyết của Quốc hội là vi hiến, nhưng không có quyền hủy bỏ đạo luật hoặc Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, Hội đồng Hiến pháp có quyền đình chỉ hiệu lực của đạo luật, Nghị quyết (hoặc đình chỉ hiệu lực một phần của đạo luật, Nghị quyết) có nội dung vi hiến. Quốc hội có trách nhiệm phải kịp thời sửa đổi nội dung vi hiến của đạo luật, Nghị quyết liên quan theo khuyến nghị của Hội đồng Hiến pháp. Xây dựng một thiết chế như trên trong Hiến pháp vẫn đảm bảo nội dung xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Vì vậy, chúng tôi kêu gọi ông Tổng Bí thư ĐCSVN yêu cầu các Đại biểu Quốc hội là đảng viên ĐCSVN phải tuân thủ nội dung trên của Nghị quyết X khi thông qua Dự án sửa đổi Hiến pháp 1992, một việc phải làm để đảm bảo Hiến pháp là một đạo luật có hiệu lực trực tiếp.

Trường hợp lãnh đạo ĐCSVN cho phép đảng viên không có nghĩa vụ phải tuân theo một nội dung quan trọng của Nghị quyết Đảng (mà nội dung đó lại tiến bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế), sẽ là một tiền lệ xấu cho việc giữ gìn kỷ luật Đảng, vốn là thế mạnh của một Đảng Cộng sản.

Xin cám ơn các ông đã quan tâm đến Thư này của tôi.

Trân trọng.
Hà Nội, ngày 21/10/2013
Công dân Trần Vũ Hải 
_______________