Hiển thị các bài đăng có nhãn Quê Choa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quê Choa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn: MỒNG 8 THÁNG 11, THỨ SÁU...

Mồng 8 tháng 11, thứ sáu...
Bùi Ngọc Tấn
 
Lời dẫn của Nhà văn Nguyễn Quang Lập: Nhà văn Bùi Ngọc Tấn cũng là một tù oan. Ông bị tóng tù 5 năm (1968-1973). 45 năm sau, tháng 7 vừa rồi gặp ông ở Sài Gòn, mình hỏi đến bây giờ anh đã biết vì sao anh bị tóng tù không? Anh cười hiền lành nói không. Án tù nhà văn còn khốn nạn hơn án tù của ông Chấn. Ông Chấn biết mình bị kết án thế nào để mà kêu oan còn nhà văn thì không.

Những ngày bị bắt, nhà văn Bùi Ngọc Tấn chỉ được nghe kể lại, giám đốc ty công an Hải Phòng hồi đó là ông Trần Đông nói: "Giam cho nó bớt chủ quan!", thế thôi, rất đơn giản. Cái gọi là ưu việt vạn lần hơn của bà Doan đơn giản như thế đó. 

Già rồi, tôi chẳng mảy may chú ý đến ý nghĩa của từng ngày, những ngày thời trai trẻ thường mong mỏi như 1 tháng 5, 19 tháng 8, 2 tháng 9. Những ngày lễ trọng của dân tộc. Giờ đây quá mệt mỏi, với thời gian chỉ có một ý nghĩ duy nhất: Sao nó đi nhanh thế. Đã 80 tuổi. Đã là một ông lão 80 già lụ khụ mặc dù từ đáy lòng không chịu công nhận cái thực tế phũ phàng tàn nhẫn ây.

Sáng nay trở dậy bóc lịch. Giật mình: 8 tháng 11. Lại cả thứ sáu nữa. Ba yếu tố trùng nhau. Thật hiếm hoi. Thứ sáu 8 tháng 11 năm 1968 tôi bị bắt. Đúng 45 năm. Không biết 45 năm có bao ngày thứ 6 trùng hợp cả ba yếu tố ấy nhỉ.

* Thứ sáu mồng 8 tháng 11 năm 1968 rét lắm. Không nóng như hôm nay. Đọc lệnh, khám nhà xong khoảng 10 giờ. Vào Trần Phú với cái bụng đói. Khoảng nửa giờ sau, từ xà lim ra nhận suất cơm đặt ngay dưới đất, nguội ngắt, nước uống trong bô sắt han rỉ, không sao nuốt được.

* 7 ngày trước, 1 thang 11, cũng thứ sáu, tình cờ mở tivi, nghe tin ông Trần Đông, nguyên giám đốc công an thành phố Hải Phòng, người hạ lệnh (khác với ký lệnh) bắt tôi, đã từ trần. Ông là thứ trưởng bộ Công an, suýt nữa lên bộ trưởng. Báo Nhân Dân đã đưa tin và ảnh ông dưới măng sét: “Đồng chí Trần Đông thăm trụ sở Bộ Biên Tập báo Nhân Dân.” Một kiểu đưa tin dọn đường dư luận. Ai cũng hiểu ông sẽ lên bộ trưởng. Nhưng rồi ông phải chuyển sang làm thứ trưởng bộ Tư Pháp.

Người ta nói rằng ông đã dám vuốt râu …Lê Đức Thọ! Thật may cho tôi cái cú vuốt râu ấy của ông. Chứ không đời tôi biết ra sao?

Ông đã qua đời. Dù không muốn, tôi cũng phải buộc lòng có mấy nhận xét về ông:

- Biết bắt tôi là sai, ông cho tôi đi tập trung cải tạo. Tạm công nhận là được đi vì bắt người dễ, tha người khó. Nhưng sao ông lại đuổi vợ tôi khỏi trường đại học? Khi ông Hoàng Hữu Nhân xếp việc làm cho tôi, sao ông lại kiên quyết chống lại? Rõ ràng ông định tận diệt tôi.

* Sáng nay, 8 tháng 11 lại là ngày Luật Pháp đầu tiên của nước ta, để mọi người thượng tôn pháp luật, tất cả cùng sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật. Cái khẩu hiệu Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật nàyông Trần Đông đã cho căng đỏ rực đường phố Hải Phòng từ mấy chục năm nay rồi. Tôi cũng đã biết nó là thế nào rồi. Trong tủ của tôi có hơn chục ki lô đơn, kêu đủ cả các Bộ (không có Bộ Binh Bộ Hộ Bộ Hinh đâu nhé). Lần gần nhất là trực tiếp gặp ông Viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân tối cao!!!!!! Và thuộc cả tên bà chủ nhiệm Ủy Ban Pháp Luật của Quốc Hội Lê Thị Thu Ba!!

Tôi không hiểu sao luật pháp không được thực thi mà có lắm bộ, Viện, ngành liên quan thế????

* Thương ông Nguyễn Thanh Chấn (Bắc Giang) tù oan 10 năm quá. Và mong được như ông. Nhưng mình chẳng có ai tự thú cả. Mình đã tự thú bằng tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000. Người ta bỏ tù tiếp bản tự thú của mình. Giá ông Trần Đông tự thú thì tốt. Nhưng ông ấy chết rồi.

* Ngày bị bắt 35 tuổi. Nay 80 tuổi kỷ niệm 45 năm ngày bị bắt. Chả thấy gì khác. Cố sống 5 năm nữa, đến năm 85, kỷ niệm tròn 50 năm ngày bị bắt, xem có gì mới không? Chắc không. Bởi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói hết thế kỷ 21 chưa xây dựng xong chủ nghĩa xã hội cơ mà.

* Ông Nguyễn Ngọc Giao (Pháp) bình về Truyện ngắn Người Chăn Kiến của mình khá quá: Cái vòng tròn ấy không giữ nổi mấy con kiến nhưng giam trọn một đời người. Không nhớ nguyên văn. Đại ý là như vậy.



CÓ PHẢI ÔNG NGUYỄN PHÚ TRỌNG DẪN DẮT CẢ DÂN TỘC ĐI TÌM KHO BÁU?

 

Có  phải ông Nguyễn  Phú  Trọng dẫn dắt cả dân tộc 
đi tìm kho báu?!

Hữu Quả  - Nhà báo đã nghỉ hưu
Vừa qua, sau nghe ông TBT Nguyễn Phú Trọng phát biểu về tương lai của CNXH, tại buổi thảo luận tổ Quốc Hội, làm 90 triệu dân sửng sốt, choáng váng!
Không choáng váng sao được, đã gần bảy mươi năm, kể từ khi thiết lập nền cộng hòa (VNDCCH), dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, nhân dân ta đã đổ biết bao núi xương sông máu, để dành và giữ cái nền cộng hòa này, mà hiện nay gọi là CHXHCN (theo mô hình Liên Xô).

Sự hy sinh to lớn của cả dân tộc, cho giai đoạn lịch sử này, không những không được đền đáp thỏa đáng; mà niềm hy vọng cứ dần tiêu tan, bởi những sai lầm cứ nối tiếp nhau; về cả đường lối, chủ trương, chính sách, và sự tha hóa của đội quân tiên phong; nay lại nghe ông TBT cứ nói khơi khơi rằng, xây dựng CNXH còn lâu dài lắm; rằng đến hết thế kỷ 21 này, không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam chưa?! Người dân không cần quan tâm mô hình, hay tên gọi CNXH, hay CNXH hoàn thiện là gì; mà cái dân cần ngay bây giờ, chứ không phải đợi trăm năm nữa; đó là làm sao cho đất nước thoát hiểm; ra khỏi khó khăn, cho nhân dân bớt khổ!

Cần hành động chứ không chỉ nghe nói huyên thuyên; sự thật bao giờ cũng mạnh hơn muôn lời hùng biện! Với cái giọng mơ hồ, nửa vời, pha chút màu sắc bí ẩn, cứ hư hư thực thực, làm cho người ta không biết ông TBT đang tung ra một thông điệp gì? Đây không phải là Hội đồng lý luận, với những bộ óc “siêu phàm”! Mà đây là diễn đàn đại diện của dân. Thật là khó hiểu!
Thôi, cứ thử tự đoán xem; có lẽ ông Nguyễn Phú Trọng nói, xây dựng CNXH còn lâu dài lắm, là nhằm răn dạy, nhắc nhở nhân dân cần có tư tưởng vững vàng, lập trường kiên định, sẵn sàng tiếp tục hy sinh, chịu đựng, chịu đựng hơn nữa; tiếp tục tin tưởng đi theo đảng trên con đường dài vô tận này chăng?! Nếu quả đúng như vậy, thì chẳng lẽ ông TBT cho rằng, gần bảy nươi năm qua, từ giữa cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 này, sự hy sinh của toàn dân tộc Việt Nam còn ít quá sao?!
Hay vì ông Trọng chưa hề một ngày có mặt ở chiến trường, trong những năm đất nước có chiến tranh, nên ông khó có sự cảm thông, chia sẻ về sự mất mát với nhân dân? Từ cuộc chiến tranh thứ nhất, đến cuộc chiến tranh thứ hai, thứ ba… Rồi gần bốn mươi năm hòa bình, thống nhất, bá tánh của ông, nào đã được yên ổn; lại tiếp tục gồng mình hy sinh, chịu đựng vượt qua, để tồn tại; và mỗi lần như thế, họ lại tự chấn an bằng điệp khúc: “khổ chừ sướng sau, khổ chừ sướng sau”. Thế mà nhân dân đã được sướng đâu cơ chứ?
Nền kinh tế, với căn bệnh “ác tính” kéo dài; người dân đang phải chạy lo ăn từng bữa, cùng với bệnh tật ốm đau, lo học hành cho con cái; nghĩa là cuộc sống với hàng trăm hàng nghìn cái lo, cái ẩn họa, sao có thể gọi an dân được? Các quyền tự do dân chủ cơ bản từ khi có bản Hiến pháp đầu tiên của nền cộng hòa, đến nay người dân vẫn chưa thực sự được hưởng. Đất nước độc lập, mà lãnh thổ vẫn chưa giữ được chủ quyền toàn vẹn; bị tụt hậu xa về sự phát triển, so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tất cả sự hy sinh mất mát, sự thua thiệt này, cuối cùng ai phải gánh chịu, ngoài nhân dân?! 
Nếu ông TBT có tình cảm thương dân, thương nước thực sự, thì hãy nhìn kỹ lại đi chặng đường lịch sử gần bảy mươi năm đã qua, với sự hy sinh của cả dân tộc to lớn biết nhường nào, e trời cũng phải cảm động! Từ nhận thức thực tiễn của bảy mươi năm này, ông TBT có thể hình dung, phán đoán, lượng định ra được sự hy sinh, chịu đựng của thần dân của ông cho chặng đường trăm năm có dư sắp tới nữa, như ông nói, để có được CNXH hoàn thiện không? Ngay qua lời nói của ông, cũng đã bộc lộ sự thiếu tự tin và mơ hồ rồi. Nếu không lượng định, hình dung, tính toán, dự đoán nổi tương lai, sao ông phải lãnh nhận trách nhiệm người đứng đầu dắt dẫn nhân dân đi tiếp trên một con đường như vô tận này? 
Ví như người điều khiển một con tàu, cũng phải thông thạo luồng lạch, đo dò độ nông sâu, các vật chướng ngại có nguy cơ gây tai nạn; có như thế mới đưa con tàu tránh được đá ngầm, đến đích an toàn. Huống gì một con người tự nhận lãnh trách nhiệm dẫn dắt cả một dân tộc, một đất nước có chín mươi triệu dân mà không am tường, không nắm bắt kịp xu thế thời đại, không dự đoán được thời cuộc, thì hậu quả sẽ ra sao?! 
Ông đưa ra nhận định tỉnh khô rằng, phải trăm năm nữa, Việt Nam chưa chắc đã có CNXH hoàn thiện! Ông đưa ra khái niệm “hoàn thiện”, nghe lại càng mơ hồ; thế nào là “hoàn thiện?” Ông có biết cái hình thù của CNXH hoàn thiện nó ra sao không? Cựu phó thủ tướng Trần Phương hỏi: “CNXH là cái gì? Là cái gì nữa? Ai trả lời? Không trả lời được”!!! Có phải theo ông đến khi đó, con người làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu chăng? Thật là hoang tưởng?!
Tôi xin trở lại ý, vì sao sau khi nghe ông TBT Nguyễn Phú Trọng nói, xây dựng CNXH còn lâu dài lắm, phải hàng trăm năm nữa mà chưa chắc đã có CNXH hoàn thiện; thì không những riêng tôi, người viết bài này, mà cả dư luận rộng rãi trong nhân dân, đều có phản ứng sửng sốt, choáng váng! Sự choáng váng, lo lắng của người dân, nên hiểu như thế nào cho đúng với thực tế đây?
Có phải vì họ yêu thích, ngưỡng mộ cái mô hình CNXH mà họ đang mong chờ nó sớm thành công, để được hưởng “phúc”; nên nay nghe nói còn dài thăm thẳm, trăm năm nữa chưa chắc đã có, làm cho họ chán nản, thất vọng chăng? Rất tiếc, hoàn toàn không phải hiểu theo nghĩa như thế. Mà là sự lo lắng đến choáng váng của họ là, xuất phát từ bài học thực tiễn của quá khứ và hiện tại, qua gần bảy mươi năm của chặng lịch sử đầy cay đắng, cả máu và nước mắt, mà họ đã từng can dự, trải nghiệm, in đậm trong hồi ức; nay lại nghe cuộc thử nghiệm lịch sử mới, dài hơn nữa, làm họ nghi ngại, lo lắng; lo lắng cho bản thân, cho tương lai con em họ, lo lắng cho cả tiền đồ dân tộc.
Có người hỏi, thử nghiệm gì mà lo vậy? Xin thưa rằng, những thử nghiệm của chặng đường dài trăm năm tới, thì chưa thể biết cụ thể, vì nó còn như một ẩn số. Còn những thử nghiệm chặng lịch sử gần bảy mươi năm đã qua, thì đầy rẫy đó thôi, kể sao cho xiết. Như mấy cuộc chiến tranh liên tiếp, là những thử nghiệm; trong này máu, như một loại hàng hóa “giá rẻ”. Rồi cải cách ruộng đất và hợp tác hóa nông nghiệp; cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh; tất cả đều làm theo ý chí và lý thuyết giáo điều, bất chấp quy luật; phá nát lực lượng sản xuất, gây nên bao tổn thất to lớn nội lực quốc gia; kéo lùi phát triển nền kinh tế, và để lại di chứng nặng nề về xã hội.
Như vậy, phải chăng những việc làm trên đây qua từng giai đoạn, trên nhiều lĩnh vực, lại không phải là những cuộc thử nghiệm tàn hại nhất và nghiêm trọng nhất, mà không những đối với thời chúng ta đang sống, con cháu chúng ta cũng phải gánh chịu hậu quả lâu dài này nữa, đó sao? Cũng chẳng cần dẫn chứng đâu xa, mà ngay trong những năm gần đây thôi; khi đứng trước tình hình nền kinh tế khủng hoảng, lại có biết bao nhiêu giải pháp nửa vời đưa ra, đều không có hiệu quả, phải trả giá; kéo theo kinh tế là sự khủng hoảng toàn diện, làm cả xã hội bức bối, ngột ngạt; mà nguyên nhân dẫn đến hậu quả nghiêm trọng này ai cũng biết, đó là sự lãnh đạo yếu kém của đảng và quản lý điều hành tồi của nhà nước. Thế mà, bộ máy cầm quyền vẫn tồn tại vững mạnh, như vô can, thế mới lạ! Chẳng lẽ tình hình nêu trên, không đủ chứng minh về sự thử nghiệm tai hại đó sao??? 
Thử nghiệm từ cả máu xương, đến cả cái hầu bao, nồi cơm của dân. Trong khoa học, để sản xuất ra một loại vắc-xin nào đó người ta phải dùng đến chuột làm thí nghiệm. Còn để tìm ra một mô hình, một đường lối phát triển; người ta sẵn sàng hy sinh nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của cả một dân tộc ư?! Thế giới có bao nhiêu mô hình, bao nhiêu kinh nghiệm hay về sự phát triển, sao chúng ta không học, cứ loay hoay, ôm giữ khư khư mãi cái mớ lý thuyết giáo điều, đã lỗi thời, bắt nhân dân phải tin và làm theo, để đất nước tiếp tục lụn bại, dân tộc phải chịu khổ đau, điêu đứng?! Như vậy, đã gần bảy mươi năm thử nghiệm chưa đủ sao? Nay lại tiếp tục định hướng thêm trăm năm có dư nữa, để có CNXH hoàn thiện sao? 
Mấy năm nay, từ lãnh đạo cấp quốc gia, đến bộ máy quản lý nhà nước và các doanh nghiệp, đi ra nước ngoài khá nhiều, như đi chợ; có khi cơ quan quản lý ngân sách méo mặt phải kêu lên về cái hầu bao ngân sách. Đáng lẽ “đi một ngày đàng, học một sàng khôn”; thế nhưng, hiếm thấy họ đem những điều hay học được, về áp dụng, làm lợi cho dân, cho nước?
Lấy một ví dụ như nước Hàn Quốc, đất không rộng, người không đông, ít tài nguyên thiên nhiên, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề; là một trong những nước nghèo nhất thế giới, lúc bấy giờ. Vậy mà sau khi chấm dứt chiến tranh 1950, chỉ trong thời gian 40 năm, (trừ mười năm đầu khôi phục sau chiến tranh); họ đã “lột xác”, vươn mình đứng dậy, làm nên những kỳ tích, cả thế giới phải khâm phục. Về kinh tế, Hàn Quốc là nước đứng hàng thứ ba Châu Á, và hàng thứ mười ba thế giới; có nguồn dự trữ ngoại tệ đứng hàng thứ sáu thế giới; có mức thu nhập bình quân đầu người, cao hơn mức trung bình liên minh Châu Âu; có một nền khoa học và công nghệ tiên tiến. Đặc biệt, cùng với thành công trong phát triển kinh tế, Hàn Quốc đã xây dựng được một xã hội dân chủ, giá trị con người được tôn trọng. 
Hoặc như CHLB Đức, sau khi thống nhất, Tây Đức phải gồng mình cõng trên lưng cả Đông Đức; vậy mà chỉ trong vòng hai mươi năm, họ đã sớm ổn định và có bước phát triển mới; hiện là một cường quốc kinh tế thế giới đáng nể trọng. Còn cái thể chế của CHXHCN Việt Nam ta thì sao? Đã bảy mươi năm rồi vẫn chưa ra môn ra khoai gì. Nay “câu giờ”, thêm trăm năm nữa có dư; và nếu lạc quan dè dặt, là gần hai trăm năm, khi ấy Việt Nam là cái gì, chưa ai biết?! Và thế giới lúc bấy giờ họ đang ở đâu? Hay họ đã di dân sang một hành tinh khác ở cho sướng, để bớt bị ô nhiễm của môi trường?! Nêu lên vài dẫn chứng và suy nghĩ trên đây, với hy vọng những người đang nắm trọng trách đất nước và vận mệnh dân tộc, hãy sớm thực sự thay đổi tư duy, nắm bắt kịp xu thế thời đại, để đưa đất nước thoát hiểm; cố gắng rút ngắn khoảng cách mà thế giới bỏ xa ta.
Tưởng chỉ viết đôi dòng về bức xúc, sau khi nghe phát biểu của ông TBT Nguyễn Phú Trọng thôi; không ngờ lại dông dài, ngoài ý muốn. Tại sao tôi lại có liên tưởng mạnh mẽ về cái mô hình “CNXH hoàn thiện” với “kho báu”, mà ông TBT đi đầu, cùng với đội quân tiên phong, dắt dẫn cả dân tộc Việt Nam đi tìm “kho báu” nào đó; với niềm tin và hy vọng nó sẽ là cứu cánh, đưa được đất nước đến bến bờ phồn vinh, nhân dân sẽ có ấm no hạnh phúc. Việc đi tìm kho báu thì đã có từ xưa nay; kể cả tìm thấy trong các truyện cổ tích, truyện thần thoại.
Những người đi tìm kho báu, ngoài được trang bị một số thông tin nào đó ban đầu, để có căn cứ làm chỗ dựa; họ thường là những con người cả tin vào vận may. Nói chính xác, họ sẵn sàng liều đánh cược trước sự may rủi; và cũng có kẻ, có thêm sức mạnh của lòng tham; nhưng nhìn chung, họ đều giống nhau là, chọn sự rủi may để hành động. Nếu như ví mô hình “CNXH hoàn thiện” là “kho báu”, thì trăm năm nữa, liệu có tìm thấy “kho báu” không nhỉ? Không ai trả lời nổi câu hỏi này, ngoài người đại diện tiêu biểu, sáng suốt duy nhất là, ông TBT Nguyễn Phú Trọng, đáng kính.

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP: LỜI KHUYÊN CHO TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG


Sửa đổi Hiến pháp: 
Lời khuyên cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng 
Kami
Theo Blog Quê Choa

Vấn đề Sửa đổi Hiến pháp hình như có một vấn đề gì nghe chừng không ổn, khi chính quyền đang cố gắng rốt ráo thúc đẩy vấn đề trọng đại bậc nhất vào thế sửa cho nó xong. Hẳn mọi người còn nhớ, cách đây gần một năm vào thời điểm cuối năm 2012 chính quyền hết mực hô hào, kêu gọi người dân tích cực đóng góp ý kiến vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 trên tinh thần phát huy dân chủ, huy động trí tuệ của mọi tầng lớp nhân dân. Vậy mà... 

Nhìn lại các diễn biến xung quanh việc Sửa đổi Hiến pháp ở giai đoạn thoái trào, đã cho thấy sự lúng túng, nếu không muốn nói là bế tắc không tìm thấy lối ra của chính quyền. Trong tình thế mâu thuẫn giữa các phe nhóm trong đảng đang ở thế tiến thoái lưỡng nan. Một bên là phe muốn sửa và một bên phe bằng mọi cách phá đám, đã khiến việc sửa Hiến pháp có muốn cũng không sửa nổi. Đó chính là lý do cho thấy,đến thời điểm này "toàn văn dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992" hầu như không có sự thay đổi đáng kể trong các vấn đề hệ trọng như: chế độ chính trị, tên nước, vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng cầm quyền, bản chất lực lượng vũ trang, chế độ sở hữu toàn dân… đều không thay đổi so với bản Hiến pháp năm 1992. Điều đó cho thấy vấn đề Sửa đổi Hiến pháp nếu càng để lâu thì việc càng bất lợi cho đảng và chính quyền vì việc Sửa đổi Hiến pháp hiện nay đã ở tình thế miếng "gân gà". Nuốt không trôi, nhả ra cũng không xong kiểu "Bỏ thì thương, vương thì tội".

Theo báo Tuổi trẻ tại phiên thảo luận ở tổ sáng 23-10 trong phần phát biểu của mình, ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại phát biểu ý kiến đi sâu vào Lời nói đầu của bản Dự thảo Hiến pháp và cho rằng “Dự thảo chưa vang vọng như lời hiệu triệu”. Điều mà lẽ ra ông Tổng Bí thư phải nói rằng "Lời nói đầu của bản Dự thảo Hiến pháp chưa vang vọng như lời hiệu triệu" thì mới đúng. Đặc biệt là người ta sửng sốt khi ông Tổng Bí thư thú nhận rằng "Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?" 

Bỏ qua những ý kiến cho rằng góp ý bổ xung vào Lời nói đầu bản Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp của người đứng đầu đảng CSVN đã tạo cho người ta cảm giác đó là lời phê của một ông giáo dạy văn nói về sai phạm ngôn từ trong một bài viết mang nội dung chính trị. Vì toàn bộ phát biểu ngắn gọn đó hầu như tập trung vào việc sửa từ ngữ, hình như nó không đúng tầm của một người giữ cương vị hàng đầu của một đảng chính trị duy nhất hợp pháp ở Việt nam lẽ ra phải lên tiếng. Điều đó cho thấy là ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với tư cách của một người đứng đầu đảng tự cho mình là lực lượng tiên phong đã hết ý để nói. Có lẽ vì như thế nên ông Tổng Bí thư đã cho rằng "Tôi thấy tất cả nội dung lần này đều đáp ứng yêu cầu đó, tôi cũng tán thành.". Xin được hỏi ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ông đã tán thành cái gì? Ông tán thành một bản Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp mà "toàn văn dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992" đó hầu như không có sự thay đổi đáng kể trong các vấn đề hệ trọng. Như: chế độ chính trị, tên nước, vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng cầm quyền, bản chất lực lượng vũ trang, chế độ sở hữu toàn dân… đều không thay đổi so với bản Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi năm 2001). Nếu sửa như thế thì bày vẽ việc sửa đổi Hiến pháp để làm gì cho tốn công, tốn của?

Đáng buồn là khi ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện quan điểm của mình về Sửa đổi Hiến pháp năm 1992, khi ông cho rằng "Với phương châm cái gì đã rõ, đã chín, được thực tiễn chứng minh là đúng và tạo được sự thống nhất cao thì chúng ta sửa. Còn nếu chưa rõ, chưa chín, chưa được kiểm nghiệm qua thực tiễn và ý kiến còn khác nhau thì chưa nên sửa. Tôi thấy tất cả nội dung lần này đều đáp ứng yêu cầu đó, tôi cũng tán thành.". Phát biểu này cũng phần nào lý giải thắc mắc vì sao người đứng đầu đảng CSVN lại cho rằng "Hiến pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng" trong buổi nói chuyện của ông với cử tri hai quận Tây Hồ và Hoàn Kiếm - Hà nội hôm thứ bảy 28.9.2013.

Ý kiến của ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên thảo luận ở tổ sáng 23.10.2013 vừa qua là cơ hội đánh giá uy tín của người đứng đầu đảng CSVN tại thời điểm này. Vì theo nguyên tắc chung của các đảng CS thì ý kiến của người đứng đầu luôn thể hiện ý chí, nguyện vọng và sẽ là nghị quyết của đảng. Bản Hiến pháp chính thức được Quốc hội thông qua có được sửa như ý kiến đóng góp của ông Nguyễn Phú Trọng sẽ có câu trả lời. Và cũng phần nào cho thấy lý do vì sao ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại chọn mục Lời nói đầu của bản Hiến pháp để góp ý. Có ý kiến cho rằng Lời nói đầu của bản Hiến pháp là phần mở đầu nên có tính tổng quát, chung chung không cụ thể và vô thưởng vô phạt là chỗ ông Tổng Bí thư có thể "nói hươu, nói vượn" mà không sợ phạm húy. Đồng thời nếu các ý kiến đó có được tiếp thu thì cũng dễ chỉnh sửa. Còn các chương, các điều cụ thể liên quan những vấn đề hệ trọng như: chế độ chính trị, tên nước, vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng cầm quyền, bản chất lực lượng vũ trang, chế độ sở hữu toàn dân…thì ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có thách cũng không dám nói. Cũng vì việc Sửa đổi Hiến pháp đang bế tắc, gỡ rối không xong.

Việc ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng "Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?", đã được nhiều người đánh giá là thể hiện thái độ bi quan và không tin tưởng vào đường lối của đảng CSVN. Vì dẫu sao cũng biết rằng chủ trương của Đảng CSVN theo đuổi là "Xây dựng một nước Việt nam dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng văn minh", đến nay cũng tròm trèm hơn 80 năm. Nay cộng thêm 87 năm còn lại của thế kỷ XXI nữa mà vẫn "...không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?" thì pháp biểu của ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là lời nói thẳng, nói thật của một người ở trong tình trạng hết lối thoát. Tuy nhiên, nếu tỉnh táo thì chắc chắn ông Nguyễn Phú Trọng sẽ thấy lối thoát chung của chế độ và của việc Sửa đổi Hiến pháp không khó như ông nghĩ. Tuy nhiên điều đó nó đòi hỏi sự chấp nhận việc hy sinh quyền lợi cá nhân của mỗi cá nhân lãnh đạo đảng CSVN đối với đất nước và dân tộc. 

1. Phải hiểu khái niệm Hiến pháp cho đúng 

Nếu hiểu Hiến pháp là một hệ thống quy định những nguyên tắc chính trị căn bản và thiết lập kiến trúc, thủ tục, quyền hạn và trách nhiệm của một chính quyền. Đồng thời Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất của một nhà nước, thể hiện ý chí và nguyện vọng của tuyệt đại đa số dân chúng. Người ta cho rằng Hiến pháp là một bản Khế ước xã hội cơ bản nhất, một bản hợp đồng trên đó các thành viên xã hội thống nhất các nguyên tắc để cùng chung sống với nhau và nó là nền tảng cho tất cả các thỏa ước (luật pháp) khác của cộng đồng. Thông qua Hiến pháp, con người sẽ mất một số quyền tự do để trở thành một công dân được sự che chở của xã hội, đại diện bởi luật pháp. Nói về Hiến pháp, Thomas Payne cho rằng "Hiến pháp là một văn bản không phải của chính quyền mà là của dân chúng tạo ra một chính quyền, và một chính quyền không có hiến pháp là một chính quyền không có luật".

Điều đó nếu đem so với các định nghĩa Cương lĩnh của một chính đảng là "Mục tiêu, đường lối và các bước tiến hành trong một thời kì nhất định, được chính thức quy định" và đảng chính trị là "Tập hợp của những người có chung một hệ tư tưởng hay một đường lối nhất định, có mục tiêu thực hiện một nhiệm vụ, lý tưởng chung và bảo vệ quyền lợi của một tầng lớp, một giai cấp đó". Sẽ thấy các chính đảng, dù bất cứ chính đảng nào quyền lợi cũng không thể lớn hơn một quốc gia và Hiến pháp không thể là "... văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng" như lời của ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Vì như vậy có nghĩa là Đảng cộng sản Việt Nam thể hiện nhận thức rằng mình đứng trên pháp luật của quốc gia. Do đó Hiến pháp của một quốc gia thì phải là Hiến pháp một cách đúng nghĩa, Cương lĩnh của một đảng cầm quyền chỉ là văn bản thể hiện nhiệm vụ, lý tưởng chung của một nhóm người và bảo vệ quyền lợi của một tầng lớp, một giai cấp đó. Không thể lầm lẫn và lẫn lộn giữa hai khái niệm đó như chúng ta thấy được thể hiện trong Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp. 

2. Phải đột phá từ vấn đề "Chủ nghĩa Xã hội" 

Đảng CSVN luôn tự nhận mình là đội tiên phong, là lực lượng ưu tú luôn đi đầu trong mọi hoạt động. Đã dám tự nhận mình là lực lượng tiên phong thì tại sao đảng CSVN không dám có những suy nghĩ mang tính đột phá, mới mẻ hơn kể cả học hỏi các tinh hoa của nhân loại. Vậy mà, với công việc Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 thì ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại vẫn cứ cho rằng "Với phương châm cái gì đã rõ, đã chín, được thực tiễn chứng minh là đúng và tạo được sự thống nhất cao thì chúng ta sửa. Còn nếu chưa rõ, chưa chín, chưa được kiểm nghiệm qua thực tiễn và ý kiến còn khác nhau thì chưa nên sửa. Tôi thấy tất cả nội dung lần này đều đáp ứng yêu cầu đó, tôi cũng tán thành.". Điều này cho thấy bản thân ông Tổng Bí thư đang tự phủ nhận vai trò của đảng CSVN và thể hiện tư duy giáo điều, bảo thủ.

Thế nào là chưa rõ, chưa chín, chưa được kiểm nghiệm qua thực tiễn và ý kiến còn khác nhau thì chưa nên sửa? Hay là còn muốn khi nào mọi lựa chọn phải là chân lý, kiểu "Trái đất luôn quay tròn" thì mới chịu sửa. Cụ thể là "vấn đề Chủ nghĩa Xã hội"

Đây là vấn đề trọng tâm, then chốt của mọi vấn đề và thực tiễn đã chứng minh rõ, đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn cách mạng Việt nam từ năm 1930 đến nay cho thấy hoàn toàn thất bại. Là tiền đề cho việc cải cách thể chế chính trị, chuyển từ ý thức hệ cộng sản sang ý thức hệ tự do, dân chủ và là việc cần phải tiến hành trước việc Sửa đổi Hiến pháp.

Nền tảng ý thức chính trị của chế độ hiện tại là khái niệm Chủ nghĩa xã hội. Khái niệm này bao gồm các tư tưởng chính trị ủng hộ một hệ thống kinh tế-xã hội mà trong đó các sở hữu và các tài sản là thuộc quyền điều khiển của toàn thể cộng đồng nhằm mục đích tiến đến sự công bằng trong xã hội và trong kinh tế cũng như tiến đến một sự hợp tác tốt hơn. Nhìn theo khía cạnh kinh tế thì chủ nghĩa xã hội có đặc tính là sự sở hữu của các phương tiện sản xuất đã được "cộng đồng hóa"trên cơ sở từ bỏ những ý tưởng của chủ nghĩa tư bản thị trường tự do, hạn chế sở hữu tư nhân và thúc đẩy công bằng xã hội.

Tuy vậy trong suốt giai đoạn từ 1917 đến 1991, khái niệm Chủ nghĩa Xã hội đa phần bị lạm dụng thuật ngữ, người ta sử dụng nó để xác định các quốc gia được cai trị bởi các đảng cộng sản. Ở đó Chủ nghĩa xã hội là một hệ thống trong đó các phương tiện sản xuất được xã hội hóa, và nền kinh tế của ý thức hệ Mác-xít đã được thiết lập trên cơ sở phân phối công bằng của cải và sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất được phá bỏ và thay bằng công hữu hóa.

Ở Việt nam và các nước XHCN cái gọi là Chủ nghĩa Xã hội đã thực hiện theo hình thức quốc hữu hoá đất đai, các phương tiện sản xuất và tất cả làm ăn tập thể trong các cơ sở công nghiệp quốc doanh, các hợp tác xã, nông truờng. Đây chính là lý do khiến Liên xô và các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ. Ở Việt nam năm 1986 đảng CSVN phải chấp nhận "cởi trói" hay "đổi mới" cũng chính là việc từ bỏ khái niệm Chủ nghĩa Xã hội của ý thức hệ Mác-xít. Và cải cách đã biến Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất 25 năm trước trở thành một nước có thu nhập trung bình (MIC) (thu nhập bình quân đầu người năm 2011 là 1.260 US$). Số người nghèo giảm từ 58% đầu những năm 1990 xuống còn khoảng 10% năm 2008.

Bỏ qua vấn đề chính trị còn đang luẩn quẩn trong vấn đề ý thức hệ cộng sản, thì phần còn lại của một quốc gia như kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục... tất cả đã phát triển một cách tự do và đã vượt ra khỏi sự kiểm soát của chính quyền. Nghiã là ý thức hệ cộng sản và khái niệm Chủ nghĩa xã hội đã và đang dần dần trở thành khúc ruột thừa của đời sống kinh tế -xã hội. Không những thế nó đang còn là vật cản, đã và đang níu kéo làm chậm đi sự phát triển của đất nước. Đây chính là trở ngại và cũng là vấn đế gây ra những vướng mắc khiến việc Sửa đổi Hiến pháp đã gặp sự bế tắc trong mớ bòng bong vô vàn các quan hệ hữu cơ. Mà sự bế tắc này chỉ có thể giải quyết thông qua việc cải cách chính trị toàn diện đồng thời với việc Sửa đổi Hiến pháp. Đó chính là giải pháp thay đổi toàn diện kể cả vấn đề nền tảng ý thức chính trị, chuyển từ ý thức hệ cộng sản sang ý thức hệ dân chủ tự do. Đó là vấn đề then chốt mang ý nghĩa quyết định.

Ngay cả ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng phải thừa nhận rằng "Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?". Hơn nữa, sự thất bại và phá sản của cái gọi là Chủ nghĩa Xã hội theo học thuyết Marx-Lenine trên toàn cầu,. Mà những cái tàn dư của nó chỉ còn sót lại ở Cuba, Bắc Triều tiên..., kể cả ở Việt nam và Trung quốc trên thực tế đã là Tư bản nhà nước thì cái Chủ nghĩa thối rữa ấy những người cộng sản cũng đã tự tay mình vứt vào sọt rác rồi.

Và một câu hỏi sẽ được đặt ra để ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trả lời, đó là "Thế những cái gì chưa rõ, chưa chín, được thực tiễn chứng minh là hoàn toàn sai và không tạo được sự thống nhất cao thì chúng ta sẽ phải xử lý thế nào? Sửa hay không sửa?". Nếu không sửa có nghĩa là cố ý duy trì những cái sai, những cái bất cập.

Được biết mục tiêu của đảng CSVN là xây dựng Việt nam thành một quốc gia "Dân giàu, nước mạnh. Xã hội công bằng và văn minh", đây là một mục tiêu tuy chưa hoàn chỉnh nhưng mang ý nghĩa tốt đẹp. Song để đạt được mục tiêu đó thì thực tế chứng minh, có nhiều con đường để đạt được với thời gian chỉ vài chục năm. Nhưng chưa có bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đến thời điểm này đạt được bằng cách thông qua con đường CNXH theo học thuyết Marx-Lenin. Điều bộc bạch của ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi cho rằng "Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?" cho thấy sự hoài nghi của ông Trọng là hoàn toàn có cơ sở.

Một người lãnh đạo thông minh, có kiến thức và có tư duy, một lòng vì nước vì dân thì chắc chắn họ đã biết họ phải làm gì rồi ông Nguyễn Phú Trọng ạ.

Ngày 04 tháng 11 năm 2013

© Kami

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013

KỲ ANH - MỘT YẾU ĐỊA, HÃY CẢNH GIÁC !

Kỳ Anh – Một yếu địa, hãy cảnh giác! 
Hữu Quả* 

Kỳ Anh là huyện nằm về phía đông nam của tỉnh Hà Tĩnh; vốn là một huyện nghèo, nơi từng ví “chó ăn đá, gà ăn sỏi”; sản xuất và đời sống luôn gặp nhiều khó khăn khắc nghiệt. Những năm gần đây, Kỳ Anh hình thành vùng kinh tế cảng Vũng Áng, và hoạt động kinh doanh du lịch; tương lai sẽ là một khu kinh tế tổng hợp, đa ngành đa nghề, tầm cỡ quốc gia. Nếu nhìn thuần túy góc độ phát triển kinh tế, là một vùng có triển vọng đáng vui mừng cho huyện Kỳ Anh và tỉnh Hà Tĩnh. Song, nếu nhìn ở góc độ quản lý xã hội và an ninh quốc phòng, thì đây là vấn đề rất đáng lo ngại, cần phải được cảnh báo sớm! 

Từ khi Kỳ Anh hình thành vùng kinh tế cảng nước sâu Vũng Áng, giá đất ở đây tăng vọt; vùng quê yên tĩnh, đã nhộn nhịp hẳn lên. Người dân bán đất (thực chất mất đất), tuy trong tay có một khoản tiền, nhưng chưa biết kinh doanh buôn bán gì; trong khi đó, nhiều thanh niên là con em họ, dùng tiền bán đất, bị bọn người xấu ở xa mới đến, rủ rê, lôi kéo, ăn chơi sa đọa, hư hỏng, trên một dốc trượt không có phanh hãm; tệ nạn xã hội ở đây phát sinh phức tạp, với tốc độ trông thấy.

Cũng từ khi huyện Kỳ Anh hình thành khu kinh tế Vũng Áng và hoạt động kinh doanh du lịch, là lúc người Trung Quốc ào ạt tràn vào vùng đất này; mua đất, xây nhà, lập phố; chẳng biết bằng cách nào, hợp pháp hay không hợp pháp?! Việc này chỉ có chính quyền và các cơ quan chức năng địa phương mới trả lời được! Chỉ nhìn hiện tượng bên ngoài cũng thấy, họ vào đất nước có chủ quyền, mà tưởng như vô chủ vậy. Ai cũng lấy làm lạ và lo lắng; lo gần, lo xa cho quê hương, đất nước, nhưng biết hỏi ai?! Biết tin ai mà hỏi, mà phản ảnh, mà đề xuất?!

Tôi vừa đọc một bài viết đăng trên mạng, với tiêu đề: “Một Hà Tĩnh đầy ắp người Trung Quốc”. Tác giả bài báo kể lại rằng, một người dân chính gốc huyện Kỳ Anh, được yêu cầu dấu tên, buồn bã nói; dân Kỳ Anh của họ đã thực sự đánh mất mình rồi; họ không còn là người chủ, là dân bản xứ nữa; mà thay vào đó, là cảm giác bị thua thiệt, trước sự giàu có và hách dịch của dân nhập cư – người Trung Quốc. Đặc biệt, tuy mới đến đất Kỳ Anh, sống chưa bao lâu, nhưng các nhóm người Trung Quốc ở đây, đã tổ chức thành đội ngũ băng nhóm, và ông trùm trông khá dữ dằn. Họ sẵn sàng xử bất cứ người Việt nào động đến băng nhóm của họ. Hầu như họ đã nắm hoàn toàn quyền lực và thế lực ở đất Kỳ Anh này rồi, nên dù các ban ngành an ninh, công an vẫn hoạt động; nhưng hình như họ chẳng coi ra gì, bởi thế lực và tiền bạc của họ khá mạnh. Ông này lại nói thêm rằng, hiện tại, huyện Kỳ Anh giống như “một tiểu khu đặc biệt của người Trung Quốc”; ở đây mọi thứ quyền lợi và quyền lực, đều vào tay họ; thậm chí có nhiều cán bộ, công chức ở huyện Kỳ Anh, cũng tỏ ra lép vế với người Trung Quốc. Người kể chuyện cho rằng, chẳng bao lâu nữa, người Trung Quốc ở đây nghiễm nhiên trở thành ông chủ đích thực của người Kỳ Anh. Một bà mẹ và một ông bố khác, cũng lo ngại, xin được dấu tên, cho biết thêm; trước khi người Trung Quốc có mặt ở huyện Kỳ Anh, thanh niên ở đây thuần hiền, nay 70% nghiện ngập, hư hỏng. Bà mẹ và ông bố dấu tên, đã nói lên nghi ngờ về sự tác động rất nguy hiểm của người Trung Quốc, với ý đồ không tốt. Lại có một bà mẹ khác, kể lại cái chết của con trai mình, là một thanh niên, bị bọn xấu người Trung Quốc lôi kéo, đã sa vào con đường nghiện ngập, nợ nần, bế tắc, đã đâm đầu vào đoàn tàu tự sát, để lại bức thư tuyệt mệnh nói rõ thực trạng trên; rồi bà tự an ủi rằng, mong qua cái chết của con bà, sẽ cảnh tỉnh được nhiều cháu thanh niên khác.

Qua đọc bài “Hà Tĩnh đầy ắp người Trung Quốc”, tôi có suy nghĩ rằng, phải chăng vùng đất Kỳ Anh đã thực sự trở thành “khu tô giới” của người Trung Quốc?! Trong khu đất họ mua, hoặc thuê dài hạn này, họ làm chủ, không ai được vào; họ làm những gì, địa phương có biết không? Có báo cáo lên Trung ương về thực trạng này, và có được chỉ đạo xử lý gì không? Hay đây là một sự “ thỏa thuận ngầm”, từ trên xuống dưới; hay là một sự bất lực, không kiểm soát nổi; hoặc vì trục lợi, mà chính quyền và các cơ quan chức trách địa phương tự thả nổi, làm lơ?! Viết đến đây, tôi nhớ vừa được đọc trên mạng bài của lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, người hiểu Trung Quốc đến từng chân tơ kẽ tóc, có tiêu đề “Chả lẽ mất nước từng phần…?!” Mở đầu bài, tướng Vĩnh viết: Tôi “giật mình” khi đọc một đoạn tin ngày 23/10/2013, dưới dòng tít “Một Hà Tĩnh đầy ắp người Trung Quốc!” Tôi không có tầm nhìn xa trông rộng, từng trải, hiểu biết sâu sắc vấn đề này, như lão tướng đáng kính; nhưng không hiểu vì sao, tôi cũng có tâm trạng, có cảm giác “giật mình”, ngay khi vừa tiếp xúc thông tin nói trên, về thực trạng người Trung Quốc có mặt và hoạt động tại huyện Kỳ Anh và tỉnh Hà Tĩnh. Ngoài băn khoăn, lo lắng mất đất, mất chủ quyền; bị lũng đoạn kinh tế, mất thị trường, mất công ăn việc làm; gây phức tạp cho công tác quản lý trị an; làm băng hoại văn hóa, đạo đức, đối với lớp thanh niên trẻ, tương lai của đất nước;… Tôi còn có nỗi lo, huyện Kỳ Anh như là “MỘT YẾU ĐỊA”, có can hệ đến lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Đây chỉ là suy nghĩ của riêng cá nhân tôi, không dựa vào tài liệu tham khảo, hoặc trợ giúp nào; nếu có gì chưa sát thực, mong được các chuyên gia quân sự chỉ bảo thêm.

Như mọi người đều biết, Kỳ Anh là huyện có địa hình khá đặc biệt về mặt quân sự: nằm ngay trên quốc lộ 1A, gần biển phía đông, gần núi phía tây, diện tích đồng bằng hẹp; phía bắc giáp huyện Cẩm Xuyên, phía đông giáp biển, phía tây và phía nam, giáp tỉnh Quảng Bình, cách nhau bởi Đèo Ngang; nơi đây có dãy núi nổi tiếng, tên gọi là Hoành Sơn, mà tiền nhân đã từng chỉ ra rất đúng cho các chiến lược gia: “Hoành Sơn nhất đái / Vạn đại dung thân.” Tôi không phải là nhà quân sự, nhưng xin mạn phép đưa ra một nhận xét; với địa thế này, nếu xảy ra chiến tranh, nơi đây vừa có khả năng phòng thủ lý tưởng, vừa cũng dễ bị chia cắt chiến lược, rất hiểm! Trong thời kỳ chiến tranh phá hoại, Kỳ Anh là huyện bị đánh phá nặng nề, ác liệt nhất, cũng từ đặc điểm địa hình địa thế này. Trên trời, máy bay của không quân rải đủ các loại bom; và ngoài biển, thì pháo tầm xa của hải quân dồn dập dội vào. Theo một số nguồn tin tình báo lúc bấy giờ, trong thời gian Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, trong này có tính toán đến cả khả năng có thể đổ bộ bằng cả đường không và đường biển vào “yếu địa” này, để ngăn chặn đường tiếp tế, chi viện cho chiến trường miền Nam, mà Kỳ Anh được coi như là “một yếu huyệt”, để thực hiện tính toán này. Song, khả năng này do nhiều nguyên nhân, không trở thành hiện thực. Chúng ta đều biết, quốc lộ 1A đi qua huyện Kỳ Anh ngày ấy, là thế độc đạo; nên trong chiến tranh, một bên quyết giữ để thông đường; và một bên quyết phá, để ngăn chặn, là đối kháng gay gắt ở cường độ cao. Ngày nay, ngoài quốc lộ 1A, còn có đường xuyên Việt phía tây, và nhiều đường ngang khác, có thuận lợi hơn. Tuy vậy, ngoài lĩnh vực kinh tế, Kỳ Anh vẫn là “MỘT YẾU ĐỊA”, có vị trí rất quan trọng đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ đất nước.

Từ một phóng viên chiến tranh, lăn lộn nhiều ở mảnh đất Kỳ Anh ác liệt này, trong những năm chiến tranh phá hoại; nên tôi hiểu rõ “YẾU ĐỊA” này, thuộc như lòng bàn tay. Phải chăng, từ thực tiễn này, đã giúp tôi có một phản xạ nhạy cảm “giật mình”, lo lắng, khi nghe tin  “mấy ông bạn 16 chữ vàng và 4 tốt”, tràn ngập lãnh thổ Hà Tĩnh và địa bàn Kỳ Anh. Tỉnh Hà Tĩnh và huyện Kỳ Anh, vốn là địa phương nghèo, kéo dài nhiều năm; nay bước đầu mới có tín hiệu tìm lối ra cho sự phát triển, là đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, xin mạo muội góp ý rằng, chớ coi phát triển kinh tế bằng bất cứ giá nào; mà phải gắn phát triển kinh tế với xây dựng, củng cố an ninh quốc phòng, để khỏi hậu quả phải trả giá đắt! Trước hết, tỉnh và huyện, cần có biện pháp xử lý ngay và có hiệu quả, tình trạng nhập cư trái phép của người Trung Quốc, mà dư luận đã băn khoăn, lo lắng. Cần tỉnh táo, tỉnh táo hơn nữa! Cần cảnh giác, cảnh giác hơn nữa! Kiên quyết giữ vững chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, mới có cơ may phát triển bền vững, và đảm bảo số phận cho từng người dân, có trách nhiệm với mảnh đất quê hương thân yêu này./.
Nguồn: Quê Choa

Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

Thư giãn cuối tuần: THƯA CỤ, CỤ CÒN LÀ MỘT BẬC THẦY VỀ P.R

Cụ Vũ Khiêu - Giáo sư - Anh hùng Lao động (2 lần) 
đến viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp.


Giáo sư Vũ Khiêu ghi sổ tang: 

"Anh Văn ơi! Anh mất đi là một tổn thất lớn của đất nước, là nỗi đau xót của 90 triệu đồng bào toàn quốc và cũng là nỗi tiếc thương của hàng triệu con người hâm mộ Anh trên toàn trái đất.

Hôm nay toàn quốc khóc anh như đã khóc Bác Hồ. Còn tôi khóc anh nhiều hơn nữa. Anh là lãnh tụ của toàn dân, là hồn thiêng sông núi. Đối với tôi, anh còn là tài sản vô giá của đời tôi. Tôi khóc anh mấy ngày hôm nay, đứt từng khúc ruột. Tôi nhìn lên tường, đọc lại những lời anh viết tặng tôi năm tôi 90 tuổi: "Mừng anh Vũ Khiêu, một nhà triết học cách mạng, một chiến sĩ văn hóa anh hùng, năm nay thọ 90 xuân”. 

Sinh ra tôi là cha mẹ, hiểu biết tôi lại là anh. Tấm lòng tri ngộ ấy tôi biết lấy gì báo đáp? Mấy hôm nay tôi ngồi khóc viết mấy lời trên, từ đỉnh trời cao anh có thấu hiểu lòng tôi?”. 

Thưa cụ Vũ Khiêu, cụ không chỉ là một nhà tuyên huấn đại tài, cụ còn là một bậc thầy về P.R. Bái phục cụ! 

Dân Choa: 
Giật mình khi thấy cụ Vũ Khiêu khóc tướng Giáp 

Trong tang lễ tướng Giáp mình cố tình tìm xem các ông lãnh đạo thế hệ sau biểu thị cảm xúc như thế nào với tướng Giáp. Đặc biệt là ông Đỗ Mười, tướng Lê Đức Anh, tướng Nguyễn Chí Vịnh và ông Nguyễn Bắc Son. Ông Đỗ Mười có tham dự, sức yếu nên có hai người dìu kèm. Ông Vịnh thì hình như cũng có gào khóc thảm thiết ở 30 Hoàng Diệu.

Ông Son chắc lẫn trong đám chung nên chả thấy. Riêng tướng Lê Đức Anh thì không thấy xuất hiện, cũng chả thấy báo chí nhắc đến một dòng dù là từng Bộ trưởng quốc phòng sau ông Giáp, ông Văn Tiến Dũng.

Ngạc nhiên hơn là thấy cụ giáo sư già Vũ Khiêu khóc thảm thiết bằng văn chương..

Đọc lời cụ này nghe sao và cảm động thế. Tài thật. Đúng là quỷ khốc thần sầu.

Lại có đoạn rất chi là riêng tư, nghe như kiểu có cái gì đó còn lấn cấn chưa mãn nguyện:

"Sinh ra tôi là cha mẹ, hiểu biết tôi lại là anh. Tấm lòng tri ngộ ấy tôi biết lấy gì báo đáp? Mấy hôm nay tôi ngồi khóc viết mấy lời trên, từ đỉnh trời cao anh có thấu hiểu lòng tôi?”

Nhưng nghe cụ khóc quá đỗi nên mình đâm ra ngờ vực. Mới ngày nào cụ soạn bài hùng văn dâng lên Quốc tổ ở Phú Thọ (Tại đây!), bài do bác Tiến Thọ tốt giọng rổn rảng đọc. Bài này kính cáo với tổ tiên về các sự kiện lịch sử của Dân tộc Việt. Điện Biên Phủ đúng ba từ mà chẳng hề nhắc đến tên tướng Giáp.

Điều này đã làm cho giới trí thức hết sức giận dữ.

Ngay người nước ngoài, một ông đạo diễn người Nhật từng làm phim về Điện Biên Phủ thốt lên:

" Nói về Điện Biên Phủ mà không nhắc đến tướng Giáp là vẽ rồng không có mắt"
Nguồn: Quê Choa

Nhà văn Phạm Đình Trọng:
Vũ Khiêu là sự đối lập với Võ Nguyên Giáp. 
Võ Nguyên Giáp: Tài cao, Công nhiều, Danh quá ít
Vũ Khiêu: Tài thấp, Công ít, Danh quá nhiều.


Thứ Năm, 17 tháng 10, 2013

NHÂN VIỆC LẬP VIỆN KHỔNG TỬ Ở VN, BÀN VỀ "GIAO THOA" VĂN HÓA

Nhân việc thành lập Viện Khổng Tử  
ở Việt Nam, bàn về "giao thoa" văn hóa
Trần Quốc Quân 
Theo FB của TQQ 
.
Viện Khổng Tử đã được thiết lập ở 40 quốc gia
Không ai phủ nhận nền văn hóa Trung Hoa là vĩ đại, là có sức lan tỏa lớn và có rất nhiều điều đáng phải học tập. Nhưng trong nền văn minh nhân loại không chỉ có văn hóa Trung Hoa mà bên cạnh đó còn có nhiều nền văn hóa khác cũng không kém vĩ đại như văn hóa Ấn Độ, văn hóa Lưỡng Hà, văn hóa Hy – La và thời hiện đại là văn hóa Pháp, văn hóa Mỹ…Tất cả các các nền văn hóa ấy phải được trân trọng, phải được coi là di sản chung của nhân loại, phải được giữ gìn và phát triển.


Không quá chủ quan, tôi tự nhận là người yêu văn hóa Trung Hoa. Bằng chứng ư? Tôi đã đọc (thậm chí gần như nhớ) các tác phẩm đại thụ của nền văn học Trung Hoa cổ đại, trung đại và cận đại như Đông Chu liệt quốc, Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử, Tây du kí, Hồng Lâu Mộng…Tôi thuộc sử Tàu không thua sử Việt. Ngày bé tôi thích được đi cắt tóc ngay cả khi tóc còn ngắn, chưa đến kì, chỉ bởi vì hiệu cắt tóc có bộ truyện tranh Tam quốc diễn nghĩa mà thằng bé là tôi mê mệt. Thời sinh viên tôi say sưa truyền tay nhau đọc tất cả bộ chưởng Kim Dung. Cho đến bây giờ cũng như về sau, tôi vẫn không hết ngưỡng mộ nền văn hóa Trung Hoa. Dân tộc Nhật Bản vốn rất tự hào về nền văn hóa của mình cũng phải công nhận nền văn hóa của họ được thừa hưởng nhiều tinh hoa của nền văn hóa Trung Hoa (nhất là từ đời nhà Đường, Trung Quốc).

Tôi ghét chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cực lực phản đối tư tưởng Sô Vanh và không bao giờ cổ vũ cho tinh thần đối đầu dân tộc. Nhưng tôi có quan điểm riêng về xung đột văn hóa. Ngưỡng mộ văn hóa Trung Hoa không có nghĩa là sùng bái nền văn hóa ấy.

Trong lịch sử, ít có dân tộc nào trên thế giới bành trướng trên mọi phương diện thành công bằng chính sách đồng hóa văn hóa như dân tộc Đại Hán. Theo sử sách, thủy tổ của dân tộc Hán trước đây chỉ cư trú tại vùng Hoa Hạ, lưu vực sông Hoàng Hà trên một diện tích chỉ bằng nước ta hiện nay mà dân tộc Hán gọi một cách ngạo mạn là Trung Nguyên (nghĩa là đất trung tâm). Trải qua hơn 5 nghìn năm phát triển của lịch sử, dân tộc ấy dần thôn tính các dân tộc khác vừa bằng vũ lực, vừa bằng truyền bá và đồng hóa văn hóa để đến bây giờ dân tộc ấy trở thành một dân tộc thống nhất đông dân nhất thế giới, có tới hơn 1 tỷ dân trải trên lãnh thổ rộng hơn 9,5 triệu kilomet vuông. Trong lịch sử, thế mạnh nhất của dân tộc Hán không phải là chiến tranh mà là văn hóa. Bằng chứng là gần 2 nghìn năm nay, dân tộc ấy phải xây nên một Vạn Lý Trường Thành dài hơn 6 nghìn kilomet để ngăn chặn sự lấn chiếm của dân tộc Hung Nô trong nhóm mà người Hán gọi khinh miệt là man di mọi rợ. Bằng chứng là gần một nghìn năm nay Trung Quốc bị ba quốc gia nhỏ hơn, yếu hơn xâm chiếm và nô dịch là Mông Cổ (gần một trăm năm), Mãn Châu ( gần bốn trăm năm) và Nhật Bản. Nhưng trong lịch sử cổ đại và trung đại, hầu hết các dân tộc nô dịch được Trung Quốc đã phải trả một giá rất đắt, đó là mất nước, đó là xóa sổ dân tộc, đó là bị thôn tính cả nền văn hóa và bị đồng hóa hoàn toàn.

Nằm bên cạnh một nền văn hóa Trung Hoa vĩ đại vừa là một diễm phúc lớn vừa là bất hạnh lớn, vừa là cơ may vừa là thách thức đối với dân tộc Việt Nam. Trải qua 1 nghìn năm Bắc Thuộc, Việt Nam giành và giữ được nền độc lập hơn 1 nghìn năm nay và không trở thành một bộ phận của Trung Quốc, không trở thành nạn nhân hòa tan vào dân tộc Đại Hán chính là nhờ sức sống của văn hóa Việt, là nhờ bản sắc riêng có của văn hóa Việt. Vừa tiếp nhận tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác, dân tộc Việt Nam luôn phải giữ gìn và phát huy được những bản sắc riêng có về văn hóa của dân tộc mình. Đánh mất văn hóa đồng nghĩa với đánh mất dân tộc. Trong thời đại bùng nổ thông tin, văn hóa ngày càng trở thành vũ khí mềm và quyền lực mềm lợi hại.

Đừng bao giờ quên lời cảnh tỉnh của nhà báo Phu Xích „ Nhân loại, hãy cảnh giác!”.

Dân tộc Việt Nam hãy cảnh giác!
Nguồn: Quê Choa



Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

Nguyễn Quang Lập: ĐÔI LỜI VỚI BÁC QUÝ DOÃN

Đôi lời với bác Quý Doãn 
Nguyễn Quang Lập

Những người dân làng An Xá đang khóc thương cụ Võ
Sáng nay vừa mở mắt đã thấy lời bác Quý Doãn trên VTC News (tại đây): “Đừng nghĩ cho làng xóm bởi bác là mênh mông vũ trụ rồi, là người của nhân loại rồi. Bất cứ vùng đất nào đều là quê hương. Cần chọn vùng đất nào để người dân đi qua đều ghé thăm được.”....“Bác về Quảng Bình là quý rồi. Bất cứ vùng đất nào ở Quảng Bình đều là quê hương, đừng phân biệt huyện này huyện khác. Vì sao ở chỗ này mà không là chỗ kia…” 

Thật bất ngờ và thật buồn là bác Quý Doãn cũng nghĩ vậy.

Thưa bác Doãn, vẫn biết cụ Võ là " là mênh mông vũ trụ rồi, là người của nhân loại rồi ", vẫn biết " vùng đất nào ở Quảng Bình đều là quê hương" nhưng một khi đã đưa cụ về quê hương thì phải đưa cụ về đúng nơi cụ đã sinh ra, nơi ông bà tổ tiên, bà con cô bác của cụ đã và đang sinh sống. Đó mới đích thị là quê hương. Việt Nam là quê hương, Quảng Bình là quê hương nhưng quê hương đích thị của cụ Võ nơi chôn rau cắt rốn của cụ, ấy là làng An Xá xã Lộc Thủy huyện Lệ Thủy. Mỗi khi cụ Võ về quê không phải cụ về đến chân Đèo Ngang, tới Vũng Chùa rồi quay lui mà cụ phải về tận làng An Xá, ấy mới gọi là về quê. Đứa con nít cũng biết rõ điều đó.

Nghe bác Quý Doãn nói:"Cần chọn vùng đất nào để người dân đi qua đều ghé thăm được"  lại càng ngạc nhiên hơn.

Tui không tin bác Quý Doãn lại nghĩ về Vũng Chùa - Quảng Đông lại thuận tiện hơn về  An Xá- Lộc Thủy, nghe bác nói chợt cười phì, đúng là ông quan chính trị, quen mồm nói lấy được.  

Không biết bác Quý Doãn đã đến Vũng Chùa chưa. Đó là vùng đất cằn, không dân. Đảo Yến không dân, Móng Rồng không dân. Tui không biết còn ai có gan đem cha mình ra an táng vùng đất đá lạnh lẽo hoang sơ đó nữa hay không? Thật đáng sợ. ( Hỏi nhỏ bác Quý Doãn: nếu cha bác là"là mênh mông vũ trụ rồi, là người của nhân loại rồi" thì bác có cam tâm an táng cha bác nơi hoang sơ lạnh lẽo đó hay không?) Sẽ có người bảo đã có cách làm cho Vũng Chùa đông vui như đô hội. Dạ dạ em biết rồi, khoảng vài chục nghìn tỉ sẽ đô hội ngay, cơ hội cho bao nhiêu kẻ trúng thầu, sướng chưa!

Bác Quý Doãn biết tui là dân Quảng Trạch. Xét về riêng tư tui rất mừng nếu cụ Võ an nghỉ ở quê tui. Chỉ mất nửa giờ ô tô là tui có thể đến thắp hương cho cụ rồi, mặc kệ họ hàng nhà cụ Võ, những người dân chỉ kiếm được một ngày hơn chục nghìn, ở cách xa bảy chục cây số, muốn thắp hương cho cụ phải bỏ ra cả ngày trời cả đi lẫn về. Đó là không kể nếu an táng ở đảo Yến thì bà con phải đi đò ra thắp hương nếu không muốn đi theo tour du lịch của ông con nhà cụ Võ. Chắc bác biết quá rõ điều đó.

Tất nhiên ý nguyện của cụ Võ và gia đình cụ là trước tiên và trên hết, dân chúng phải hết sức tôn trọng. Nhưng như bác nói cụ Võ "là mênh mông vũ trụ rồi, là người của nhân loại rồi " thì nguyện vọng ấy cũng phải thể theo nguyện vọng của dân. Cụ Võ suốt đời vì dân, làm gì cũng nghĩ vì dân, há lẽ khi đã quyết về quê an nghỉ cụ lại quyết an nghỉ ở Vũng Chùa, rồi bảo đâu cũng là quê hương, thôi thì tao nằm đây cũng được?

Thực lòng tui không tin an táng ở Vũng Chùa- Quảng Đông- Quảng Trạch là ý chỉ của cụ Võ. Người già thường vẫn hay nghĩ về nguồn cội, cớ gì cụ Võ đã quyết về an nghỉ ở quê lại chọn nơi an nghỉ cách ngõ nhà mình gần bảy chục cây số, bất chấp nguyện vọng của bà con cô bác, hò hàng nội ngoại  của cụ và hàng vạn dân Lộc Thủy- Lê Thủy quê hương của cụ?

Có thể khi về thăm khu du lịch sinh thái của ông con trai, thấy phong cảnh sơn thủy hữu tình, sướng lên cụ nói khi tao chết đưa tao về đây nghe. Đó chỉ là câu nói vui, quyết không phải là ý chỉ. Cũng như khi cụ về làng Đường Lâm, đứng trước mộ Ngô Quyền cụ cũng đã nói ý nguyện của cụ muốn được an táng nơi đây, cạnh lăng Ngô Quyền thì chẳng ai coi đó là nguyện vọng thật, đấy chỉ là sự bộc bạch tình yêu lòng kính trọng của cụ đối với tiền nhân mà thôi.

Vinh vào những lời nói của cụ Võ để làm theo ý thích của mình quả thật đáng trách, còn như bịa ra nguyện vọng của cụ Võ để trục lợi thì thật vô đạo và bất hiếu, có phải không thưa bác?

Chiều qua đọc báo Tuổi trẻ ( tại đây) thấy thông báo chọn nơi an táng cụ Võ là Vũng Chùa- Quảng Đông- Quảng trạch, có câu:"Đây cũng là địa điểm lúc còn sống Đại tướng đã đồng ý với gia đình để Đại tướng yên nghỉ vĩnh hằng" tui đã ngửa mặt cười to ba tiếng.  Sáng nay đọc VTC News thấy bác nói:"Bất cứ vùng đất nào đều là quê hương " lại ngửa mặt khóc to ba tiếng rồi vội vàng thưa với bác đôi dòng. Có gì không phải bác bỏ quá cho.


Nguồn: Quê Choa.



Blog Tễu: 
10h00 ngày 8.10.2013:
Tin mới nhất về nơi chôn cất Đại tướng 
Địa điểm chôn cất đại tướng vẫn là khu vực Vũng Chùa - Đảo Yến. Tuy nhiên, nơi chôn cất không phải là ngoài đảo, mà là một bán đảo, có đường ô tô ra được. Đây là ý nguyện của Đại tướng lúc sinh thời.

Lời bình của GS Trần Hữu Dũng về bài viết của ông Đỗ Quý Doãn:
Trong lúc cả nước đau buồn, Đỗ Quý Doãn bảo cán bộ "động viên làm công tác tư tưởng": Nguyên Thứ trưởng Đỗ Quý Doãn nói về nơi an táng Đại tướng (VTC 7-10-13) -- "Theo Nguyên thứ trưởng Đỗ Quý Doãn .. lãnh đạo địa phương cần phải động viên làm công tác tư tưởng cho bà con nhân dân" (Nếu gia đình tôi đang lo tang lễ mà có cán bộ nào đến "làm công tác tư tưởng" thì tôi sẽ tát cho vài cái rồi tống ra cửa ngay! Ông này làm quan chức lâu quá nên không còn nói được ngôn ngữ của con người hay sao?) (Vietsudies).

Đại tướng muốn an nghỉ ngàn thu bên cạnh song thân của Người:
Thư ký của Đại tướng cho biết:

...Rồi đại tá cho biết, vào năm 2004 và 2007, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã hai lần để lại ý kiến là khi qua đời muốn được về an nghỉ tại quê nhà Quảng Bình. 

“Trước đây tôi cũng đã có một vài dịp đi cùng Đại tướng về xem đất mà Đại tướng đã chuẩn bị cho mình, tôi nhớ đó là  khu vực vùng núi Quảng Bình, cạnh nơi yên nghỉ của phụ thân Đại tướng Giáp” – thư ký Huyên nói. 
Nguồn: Lao Động


Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

ÔI TRỜI ! CHÂN TƯỚNG ÔNG VIỆT KIỀU MỸ VIẾT BÀI TRÊN BÁO NHÂN DÂN

Ông Việt kiều Amari TX là TS. Hoàng Văn Lễ
- Nguyên Tổng biên tập Tạp chí Sổ tay Xây dựng Đảng?!?!
Tâm Sự Y Giáo
.
Báo Nhân Dân, trong bài thuộc chuyên mục Bình luận và Phê phán ngày 22-8-2013 cho biết tác giả của bài này là Amari TX, một người Mỹ gốc Việt. Được biết tác giả này có nhiều bài đã được đăng trên báo giấy cũng như báo điện tử ở Việt Nam, và là chủ của trang blog amaritx.wordpress.com, mà từ trang blog này, báo Nhân Dân đã đăng lại để có bài nói trên. Trên trang blog này, không khó để nhận ra giọng văn chính luận của một người chuyên làm công tác chính trị tư tưởng, từ ý tưởng, hành văn, câu cú cho đến cách sử dụng các thuật ngữ thuộc chuyên môn nghiệp vụ tuyên huấn. Điều đó làm cho mình băn khoăn : Ông Amari TX này là ai mà viết hay thế, hùng hồn thế ? Sao ông ta là công dân Mỹ mà lại có cách hành văn của một nhà lý luận ở Việt Nam, một người marxist kiên trung đến thế ?

Hôm nay mình tình cờ đọc bài trên báo Sài Gòn Giải Phóng của TS. Hoàng Văn Lễ, thì thấy có những ý, những câu giống hệt như của tác giả Amari TX.

Chẳng hạn, TS. Hoàng Văn Lễ viết :

Nếu nghiên cứu kỹ hơn, chắc “Đằng ấy” biết rằng: Một chế độ đa đảng chưa hẳn đã là chế độ đa nguyên về chính trị. Trung Quốc hiện nay có 9 đảng chính trị thì 8 đảng thừa nhận Đảng Cộng sản Trung Quốc là người duy nhất lãnh đạo nước Trung Hoa, lấy chung mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là chế độ đa đảng mà nhất nguyên về chính trị. Ở Mỹ, tuy có 2 đảng nhưng có đúng là chế độ đa nguyên về chính trị không? Bởi 2 đảng này chỉ đối lập nhau trên một số phương diện không cơ bản còn xét về bản chất giai cấp - xã hội, 2 đảng này là đồng nhất, có mục tiêu căn bản giống nhau: củng cố và phát triển thể chế chính trị đầy bất công ở Mỹ. Ở Anh và Nhật Bản, hiến pháp lại thừa nhận vai trò của nhà vua, họ là những nhà nước quân chủ lập hiến. Không ai có thể đòi hỏi các quốc gia ấy xóa bỏ thể chế riêng có của họ. Ở nước Nga thời hậu Xô-viết, người ta cũng thành lập chế độ cộng hòa tổng thống theo cách thức của người Nga chứ không theo cách thức của người Anh để tái thiết lập chế độ Sa hoàng… 

Thưa anh Lê Hiếu Đằng, hẳn anh cũng biết rằng, một chế độ nhất nguyên hay đa nguyên về chính trị là do một loạt nhân tố quy định, trong đó tương quan lực lượng xác lập vị trí vai trò lãnh đạo, cầm quyền của đảng, những thành tựu mà nhân dân đạt được trong thực tiễn phát triển xã hội dưới sự lãnh đạo của đảng đó. Việt Nam trong thời kỳ lịch sử cận – hiện đại, xác lập vai trò duy nhất cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Còn Amari TX thì viết :

Xin nói để ông và các ‘chiến hữu’ của ông biết : một chế độ đa đảng chưa hẳn đã là một chế độ đa nguyên về chính trị. Chẳng hạn ở Mỹ hiện nay, tuy đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa thay nhau cầm quyền, nhưng nếu xem đó là chế độ đa nguyên về chính trị thì chưa hẳn đúng. Bởi lẽ, hai đảng chỉ đối lập nhau trên một số phương diện không cơ bản ; xét về mặt bản chất giai cấp – xã hội, hai đảng là đồng nhất, có mục tiêu căn bản giống nhau là củng cố và phát triển thể chế tư bản chủ nghĩa ở Mỹ... Ở các nước khác cũng tương tự như vậy, cho dù nước Mỹ khác nước Anh, nước Anh lại không giống nước Pháp, nước Ý. Ở Anh và Nhật Bản, hiến pháp lại thừa nhận vai trò của nhà vua, họ là những nhà nước quân chủ lập hiến. Không ai ngớ ngẩn, rỗi hơi, vô lối đòi hỏi các quốc gia ấy xóa bỏ chế độ quân chủ lập hiến để hiến định chế độ cộng hòa, cộng hòa tổng thống hay cộng hòa dân chủ nhân dân...

Một chế độ nhất nguyên hay đa nguyên, về chính trị do một loạt nhân tố quy định, trong đó, đáng quan tâm nhất là : tương quan lực lượng giữa các giai cấp, bối cảnh xác lập vị trí lãnh đạo, vai trò cầm quyền của đảng, những thành tựu mà nhân dân đạt được trong thực tiễn phát triển xã hội dưới sự lãnh đạo của đảng đó. Vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trong thời kỳ lịch sử cận – hiện đại, có thể thấy ở nước ta, bối cảnh xác lập vị trí duy nhất lãnh đạo xã hội, xác lập vai trò duy nhất cầm quyền của ĐCS Việt Nam như sau : Đây là nhân tố hoàn toàn khách quan, độc lập với ý chí của mọi chủ thể hoạt động chính trị. Vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam là một tất yếu khách quan của tiến trình lịch sử dân tộc, không phải do ai áp đặt lên xã hội.

Và đây là bảng đối chiếu:
TS Hoàng Văn Lễ
Amari TX
Nếu nghiên cứu kỹ hơn, chắc “Đằng ấy” biết rằng: Một chế độ đa đảng chưa hẳn đã là chế độ đa nguyên về chính trị. Trung Quốc hiện nay có 9 đảng chính trị thì 8 đảng thừa nhận Đảng Cộng sản Trung Quốc là người duy nhất lãnh đạo nước Trung Hoa, lấy chung mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là chế độ đa đảng mà nhất nguyên về chính trị. Ở Mỹ, tuy có 2 đảng nhưng có đúng là chế độ đa nguyên về chính trị không? Bởi 2 đảng này chỉ đối lập nhau trên một số phương diện không cơ bản còn xét về bản chất giai cấp - xã hội, 2 đảng này là đồng nhất, có mục tiêu căn bản giống nhau: củng cố và phát triển thể chế chính trị đầy bất công ở Mỹ.
Ở Anh và Nhật Bản, hiến pháp lại thừa nhận vai trò của nhà vua, họ là những nhà nước quân chủ lập hiến. Không ai có thể đòi hỏi các quốc gia ấy xóa bỏ thể chế riêng có của họ.


Thưa anh Lê Hiếu Đằng, hẳn anh cũng biết rằng, một chế độ nhất nguyên hay đa nguyên về chính trị là do một loạt nhân tố quy định, trong đó tương quan lực lượng xác lập vị trí vai trò lãnh đạo, cầm quyền của đảng, những thành tựu mà nhân dân đạt được trong thực tiễn phát triển xã hội dưới sự lãnh đạo của đảng đó.
Việt Nam trong thời kỳ lịch sử cận – hiện đại, xác lập vai trò duy nhất cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Xin nói để ông và các ‘chiến hữu’ của ông biết : một chế độ đa đảng chưa hẳn đã là một chế độ đa nguyên về chính trị.




Chẳng hạn ở Mỹ hiện nay, tuy đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa thay nhau cầm quyền, nhưng nếu xem đó là chế độ đa nguyên về chính trị thì chưa hẳn đúng. Bởi lẽ, hai đảng chỉ đối lập nhau trên một số phương diện không cơ bản ; xét về mặt bản chất giai cấp – xã hội, hai đảng là đồng nhất, có mục tiêu căn bản giống nhau là củng cố và phát triển thể chế tư bản chủ nghĩa ở Mỹ... Ở các nước khác cũng tương tự như vậy, cho dù nước Mỹ khác nước Anh, nước Anh lại không giống nước Pháp, nước Ý. Ở Anh và Nhật Bản, hiến pháp lại thừa nhận vai trò của nhà vua, họ là những nhà nước quân chủ lập hiến. Không ai ngớ ngẩn, rỗi hơi, vô lối đòi hỏi các quốc gia ấy xóa bỏ chế độ quân chủ lập hiến để hiến định chế độ cộng hòa, cộng hòa tổng thống hay cộng hòa dân chủ nhân dân...
Một chế độ nhất nguyên hay đa nguyên, về chính trị do một loạt nhân tố quy định, trong đó, đáng quan tâm nhất là : tương quan lực lượng giữa các giai cấp, bối cảnh xác lập vị trí lãnh đạo, vai trò cầm quyền của đảng, những thành tựu mà nhân dân đạt được trong thực tiễn phát triển xã hội dưới sự lãnh đạo của đảng đó. Vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trong thời kỳ lịch sử cận – hiện đại, có thể thấy ở nước ta, bối cảnh xác lập vị trí duy nhất lãnh đạo xã hội, xác lập vai trò duy nhất cầm quyền của ĐCS Việt Nam như sau : ...


Được biết, bài của TS. Hoàng Văn Lễ (cựu Tổng biên tập Tạp chí Xây dựng Đảng) được báo SGGP đăng lúc 7h20 ngày 26-8-2013, nghĩa là sau bài của Amari TX trên báo Nhân Dân 4 ngày, và cũng sau bài của Amari TX trên blog amaritx.wordpress.com 4 ngày.

Nếu TS. Hoàng Văn Lễ và Amari TX là hai người khác nhau, thì có thể kết luận mà không phải chần chừ gì nữa : TS. Hoàng Văn Lễ đã trắng trợn đạo văn của Amari TX !

Tuy nhiên, điều này rất khó xảy ra giữa các tác già của hai tờ báo lớn là Nhân Dân và Sài Gòn Giải Phóng, đều là những cơ quan ngôn luận rất lớn của Đảng. Bởi nếu như thế thì chẳng còn ra cái thể thống gì nữa.

Vì vậy, có lẽ chỉ còn một khả năng duy nhất : Amari TX chính là TS Hoàng Văn Lễ, cựu Tổng Biên tập Tạp chí Xây dựng Đảng !

Và nếu điều này xảy ra, thì chỉ có thể gọi đây là một SỰ LỪA DỐI KINH HOÀNG!

Nguồn: Quê Choa