Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Chí Bảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Chí Bảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

Đào Tiến Thi: PHẢN BIỆN BÀI VIẾT CỦA GS. HOÀNG CHÍ BẢO


Đâu là “sự thật”, “công lý” và “trách nhiệm” qua bài viết của Giáo sư Hoàng Chí Bảo?

Đào Tiến Thi

Giáo sư Hoàng Chí Bảo (ảnh trên) vừa có bài Trọng sự thật và công lý để hành động có trách nhiệm nhằm bác bỏ những ý kiến (chủ yếu là của ông Lê Hiếu Đằng và ông Hồ Ngọc Nhuận) về việc thành lập Đảng Dân chủ xã hội ở Việt Nam.

Toàn bài của Giáo sư Hoàng, từ tiêu đề, đều toát lên tiếng nói của kẻ có quyền phán quyết và dạy dỗ. Ví dụ ngay đoạn đầu đã đóng đinh bằng hàng loạt nhận định mang tính tiên đề, không có chứng minh, phân tích, biện bác gì cả: “Ý Đảng – Lòng dân – Phép nước đã thống nhất và hòa quyện làm một, tạo thành sức mạnh thúc đẩy đổi mới, làm nên sức sống của đổi mới, thành tựu phát triển đất nước như hiện nay. Đổi mới là sự gặp gỡ tất yếu và tự nhiên giữa những hối thúc của đời sống thực tiễn với những sáng kiến, sáng tạo của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân từ cơ sở, cùng với quyết sách đúng đắn, kịp thời của Đảng”.

Giáo sư dựa vào đâu để nhận định: “Ý Đảng – Lòng dân – Phép nước đã thống nhất và hòa quyện làm một”? Và nếu thế không có gì phải bàn, phải làm nữa. Chẳng lẽ Giáo sư không hề biết chỉ trong mấy năm qua hàng loạt tập đoàn kinh tế nhà nước đổ vỡ, hàng nghìn dân oan bị tước đoạt ruộng đất, phải đi khiếu kiện năm này qua năm khác mà vẫn không có kết quả gì; hàng chục nghìn người phải ra nước ngoài làm thuê; hàng ngàn phụ nữ phải lấy chồng ngoại, thực chất là những cuộc bán mình; hàng trăm người yêu nước và đấu tranh cho chủ quyền dân tộc và lẽ công bằng bị kết tội tuỳ tiện hoặc thường xuyên bị sách nhiễu, bất chấp luật pháp. Cả xã hội gần bất lực trước nạn tham nhũng, lạm quyền và các loại tội phạm. Biển đảo thì ngày càng bị nhà cầm quyền Trung Cộng ngang nhiên xâm lấn, ngư dân luôn bị khủng bố mà không có một chiến lược, một quyết sách gì để ngăn chặn và hy vọng. Và còn bao nhiêu nan giải khác về xã hội, giáo dục, y tế,… Là một nhà khoa học, nhất là khoa học xây dựng Đảng, lẽ ra Giáo sư Hoàng phải cảnh báo cho Đảng để có sự điều chỉnh về đường lối chính sách; còn đối với những tiếng nói đối lập, phải đối thoại cởi mở trên cơ sở chân lý và đạo lý; nhưng qua bài trên, tôi thấy Giáo sư chỉ ra sức tô hồng hiện thực và kết tội những người khác ý kiến, như thế còn đâu là “sự thật”, còn đâu là “công lý” với “trách nhiệm” như tiêu đề của bài?

Giáo sư Hoàng khen ngợi thành tựu đổi mới của Đảng. Đồng ý. Nhưng là một bài tranh luận, Giáo sư phải bác bỏ từng luận điểm của đối phương. Khi ông Lê Hiếu Đằng nêu những cái phi lý, bất cập, tội lỗi của chính thể hiện nay, lẽ ra Giáo sư phải bác bỏ từng điểm một mới phải, chứ sao lại lấy cái hay để thay thế cho cái dở? Làm cho “Ông nói gà, bà nói vịt”, chẳng ăn nhập gì cả. Công là công, tội là tội, làm sao lấy công thay cho tội được?

Bây giờ tôi xin tập trung phân tích hai ý chính trong của Giáo sư Hoàng Chí Bảo:

- Ca ngợi công lao của Đảng, chủ yếu là giai đoạn từ phát động “đổi mới” đến nay.

- Coi sự độc quyền lãnh đạo của Đảng là hợp lý, hợp tình.

Về ý thứ nhất, khi Giáo sư Hoàng ca ngợi công lao của Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước (từ cuối 1986, khi chấp nhận kinh tế thị trường, kinh tế tư bản, tư nhân) không phải là sai nhưng coi đấy là tất cả do “thiên tài Đảng ta” thì thật không khách quan, không vô tư. Cuộc “đổi mới” này, nói cho công bằng, là cuộc gỡ bớt (bớt thôi chứ không hết) những cái ách phi lý đè nặng bấy nhiêu năm. So với trước đó (kinh tế tập thể, tập trung, cấm tiệt kinh tế tư nhân, tư bản) thì đúng là mới. So với Bắc Triều Tiên và Cu Ba, hai quốc gia kiên định giữ nguyên mô hình CNXH, thì bước đi của Đảng Cộng sản Việt Nam là rất mới, rất táo bạo. Nhưng so với Đảng Cộng sản Trung Quốc (tiến hành cải cách mở cửa từ năm 1978), thì ta cũng bình thường thôi (chậm hơn Trung Quốc gần một thập kỷ và tốc độ cũng chậm hơn nhiều). Còn so với sự đòi hỏi của thực tiễn, so với quy luật chung của cuộc sống, so với con đường của hầu hết các quốc gia trên thế giới đã đi thì sự “đổi mới” của ta chẳng có gì mới, thậm chí là quá chậm. Sự đổi mới ấy chẳng qua là quay về với cái cũ (ở Việt Nam thời Pháp thuộc đã có kinh tế tư bản không đến nỗi nhỏ). Kinh tế thị trường (tư bản) đã ra đời ở Âu – Mỹ, Nhật Bản hàng trăm năm trước. Và thị trường của họ ngày nay đã tiến tới sự hoàn thiện dưới sự điều hành, giám sát của nhà nước pháp quyền, của xã hội dân sự (trong đó đặc biệt là vai trò của nghiệp đoàn, của tự do ngôn luận, tự do báo chí), chứ không phải thị trường hoang dã, méo mó như Việt Nam hiện nay.

Tất nhiên là khi gỡ bớt những cái ách trên thì nhân dân phấn khởi, sức lao động và sức sáng tạo bao nhiêu năm bị kiềm toả bỗng nhiên được giải phóng. Lại thêm tư bản nước ngoài vào đầu tư, tất cả đã khiến kinh tế Việt Nam khởi sắc hẳn lên. Tức là kinh tế bước đầu được vận hành theo quy luật. Cứ nhìn vào hình ảnh người nông dân trên đồng ruộng khi vừa mới có chính sách chia ruộng những năm cuối thập niên tám mươi, đầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước so với giai đoạn hợp tác xã trước đó thì đủ biết. Thời hợp tác xã, người ta đệm cho cày nông choèn, rồi cày một đường lại bỏ “lỏi” nửa đường là chuyện thường. Việc bừa cũng tương tự như vậy. Nhưng đến lúc chia ruộng, bà con làm ruộng nhuyễn như nồi cháo nấu kĩ. Rồi bao nhiêu phân gio được chiu chắt, chăm bẵm,… do đó lúa tốt hẳn lên chứ không “chó chạy hở đuôi” như thời hợp tác xã. Trời còn mờ tối, bà con đã lục tục ra đồng, tối nhọ mặt vẫn chưa chịu về, khác hẳn thời hợp tác xã, mặt trời còn con sào mới gọi nhau xuống đồng, lại còn giải lao giữa giờ, trà thuốc chán chê, cho đến khi mặt trời sắp lặn mới xuống làm tượng trưng một chút nữa rồi về.

Viết đến đây tôi muốn muốn minh hoạ thêm bằng một ý của Mạc Ngôn (nhà văn Trung Quốc, giải Nobel 2012). Năm 1993, Mạc Ngôn qua thăm một thành phố vùng biên giới Nga – Trung. Ông hết sức ngạc nhiên khi thấy cùng thảo nguyên ấy, bên Nga đất đai hết sức phì nhiêu và rộng rãi so với Trung Quốc, nhưng dân Nga lại nghèo khổ hơn hẳn dân Trung Quốc (lúc ấy Trung Quốc đã cải cách được 15 năm, còn Nga vừa mới tan rã đế chế Xô Viết). Mạc Ngôn nhận định: “Người dân dưới bất kỳ chế độ xã hội nào đều là một quần thể cần lao, dũng cảm, giàu sức sáng tạo nhất. Chỉ cần nới lỏng một chút bàn tay xiết trên cổ họ, để họ có thể hít thở được, chỉ cần nới lỏng một chút cái sợi dây xiềng xích giữ tay và chân họ, để họ có thể lao động được, họ có thể sáng tạo ra cả một nền văn hoá rực rỡ và những của cải lớn lao[1].

Dẫu sao thì dân ta hiện nay cũng “vênh mặt” được với Bắc Triều Tiên và Cu Ba. Nhưng so với Nhật Bản, Hàn Quốc, những nước cho đến tận đầu thế kỷ XIX chỉ tương đương mình như, thì mình thật đau xót; còn so với những nước lân bang như Thái Lan, Singapore, cho đến tận đầu thế kỷ XIX, vẫn còn là “đàn em” của ta, thì thật hổ thẹn.

Và đúng là cuộc đổi mới đã giúp Đảng Cộng sản thoát hiểm như nhận định của Giáo sư Hoàng Chí Bảo. Nhưng cuộc thoát hiểm đó mang tính chất tình huống, tạm thời. Bởi vì chỉ đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị. Theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, kinh tế là cơ sở hạ tầng, quyết định kiến trúc thượng tầng, tức hình thái nhà nước;  và kiến trúc thượng tầng phải phù hợp với cơ sở hạ tầng. Lực lượng sản xuất phát triển đến độ như bây giờ thực sự đã mâu thuẫn gay gắt với kiến trúc thượng tầng. Kinh tế thị trường do không đi đôi với nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự đã dẫn đến những nhóm lợi ích, những sự cạnh tranh mang tính maphia,… Và đặc biệt là tình trạng tham nhũng vô phương cứu chữa. Càng duy trì tình trạng này sẽ càng tiếp tục khủng hoảng, cả kinh tế và chính trị. Chính nó đe doạ sự tồn vong của Đảng, chứ không phải “các thế lực thù địch”.

Về ý thứ hai, Giáo sư Hoàng nêu: “Dân ủy thác cho Đảng trọng trách. Sứ mệnh, địa vị và trọng trách của Đảng là sự lựa chọn của dân, là sự tin cậy mà dân dành cho Đảng…”. Thế nhưng giáo sư lại không biện luận, không chứng minh được điều này. Thử hỏi, dân uỷ thác cho Đảng bao giờ, dưới hình thức nào? Đã gọi là uỷ thác thì phải qua một hình thức “khế ước” như qua hiến pháp, qua các bộ luật, qua việc bầu cử tự do. Hiến pháp hiện hành có ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” (Điều 4) nhưng nhân dân chưa bao giờ được phúc quyết điều này. Tất cả các chức danh lãnh đạo của Đảng hoàn toàn do Đảng bầu, Đảng cử chứ dân không có quyền gì. Giáo sư lý giải thế nào hình ảnh một xã hội được gọi là dân chủ nhưng người đại diện cho mình, thực thi những quyền lợi của mình, quyết định số phận của mình, lại không phải do mình bầu lên?

Giáo sư viết tiếp: “Phản ứng và thái độ của cá nhân là quyền của mỗi người, nhưng quyền ấy phải thuận theo đạo lý và luật pháp”. Không hiểu đó là đạo lý gì và luật pháp nào? Ở dưới, Giáo sư có giải thích nhưng cũng chẳng sáng tỏ gì hơn: “Đó là lẽ phảiđạo lý ở đời và làm người mà Bác Hồ gọi là Thân dânChính tâm. Với những đảng viên của Đảng Cộng sản, đòi hỏi này càng cần phải tôn trọng nghiêm ngặt hơn bởi sự dẫn dắt của lý trí tỉnh táo, sáng suốtthái độ chính trị nghiêm túc, biết tự mình trung thành với lý tưởng và nguyên tắc, cùng với giữ trọn đạo làm người cách mạng” (nhấn mạnh của ĐTT). Thật quá nhiều ngôn từ to tát nhưng lại không nói được điều gì. Thử hỏi ông Lê Hiếu Đằng, ông Hồ Ngọc Nhuận,… vi phạm đạo lýlẽ phải ở chỗ nào? Không thân dân, không chính tâm, không tỉnh táo,… ở chỗ nào?

Lại nữa, Giáo sư viết: “Khi đã giác ngộ chân lý thì phải phục tùng chân lý”. Không hiểu Giáo sư nói chân lý nào đây? Sống dưới chế độ Sài Gòn, ông Lê Hiếu Đằng thấy không có tự do, độc lập; Đảng nêu cao tự do, độc lập, ông thấy đấy là chân lý nên đi theo. Nay ông Lê Hiếu Đằng thấy Đảng không coi trọng tự do, độc lập nữa, ông muốn thành lập một đảng khác để thực thi tự do, độc lập, thì đó cũng là chân lý. Chân lý là quá trình nhận thức, quá trình tìm kiếm không ngừng chứ đâu phải là cái gì bất biến.

Phần cuối, Giáo sư Hoàng vô tình hay hữu ý đã đánh tráo khái niệm khi ông bàn sang vấn đề đa đảng ở các nước tư bản (dân chủ): “Có một thực tế lịch sử hiển nhiên cũng cần được làm rõ, trong các nước tư bản chủ nghĩa, dù tồn tại đa đảng và các đảng đối lập, nhưng vẫn định hình một đảng cầm quyền. Chính trường ở đó thường xuyên diễn ra các cuộc tranh giành quyền lực giữa các đảng chính trị tư sản. Họ chỉ đa nguyên, đa đảng trên hình thức, còn trên thực tế đều tỏ rõ sự nhất nguyên, bởi đảng chính trị tư sản nào cũng không bao giờ xa rời mục đích bảo vệ cho quyền thống trị và sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản”.

Đúng là trong chính thể đa đảng của các nước dân chủ luôn diễn ra cuộc tranh giành và tất nhiên rốt cuộc có một đảng thắng và lên cầm quyền. Nhưng sự cầm quyền ấy khác hẳn sự độc quyền của đảng cộng sản ở các nước cộng sản. Trước hết sự cầm quyền của họ là do nhân dân quyết định (phải thắng phiếu trong bầu cử); thứ hai, khi cầm quyền, họ buộc phải thực thi pháp luật và thực thi những điều đã cam kết; nếu không làm được, sẽ bị nhân dân phế truất bằng nhiều cách khác nhau.

Chưa kể, đảng cầm quyền luôn đối mặt với đảng đối lập, với xã hội dân sự, với tự do ngôn luận và báo chí, do đó luôn luôn bị chỉ trích nếu có khuyết điểm. Vì vậy đảng cầm quyền khó có cơ hội chỉ vơ vén cho quyền lợi ích kỷ của mình. Tuy vậy, một đảng cầm quyền lâu ngày vẫn thường dẫn đến tha hoá. Do đó như ta thấy ở Mỹ và một số nước, mỗi đảng (cũng như tổng thống) giỏi lắm chỉ cầm quyền được hai nhiệm kỳ. Nhiệm kỳ hai thường là đuối sức, nhiều tổng thống buộc phải từ chức giữa nhiệm kỳ. Nền chính trị dân chủ của họ do đó luôn luôn được “thay máu”, có lẽ vì thế mà chế độ tư bản “giãy” mãi mà không “chết”!

Giáo sư Hoàng cũng lặp lại một điều mà các đồng nghiệp của ông ai cũng bám lấy: “Không phải cứ đa nguyên đa đảng là có thể xây dựng được xã hội dân chủ”. Đúng. Không phải cứ đa nguyên đa đảng là có thể xây dựng được xã hội dân chủ. Cũng như không phải cứ ăn chất đạm thì khoẻ mạnh, cứ dùng thuốc thì chữa được bệnh. Nhưng muốn khoẻ mạnh thì không thể từ chối ăn chất đạm, muốn chữa được bệnh thì không thể không dùng thuốc. Cho nên cái mệnh đề trên của Giáo sư Hoàng và một loạt giáo sư Mác – Lê-nin khác chả có gì đứng vững. Nhưng điều này thì có: Không phải cứ đa nguyên đa đảng là có thể xây dựng được xã hội dân chủ nhưng muốn xây dựng xã hội dân chủ, không thể không đa nguyên, đa đảng. Điều này thực tế đã chứng minh: chưa hề có nước nào độc đảng mà có dân chủ, nhưng nhiều nước đa nguyên đa đảng thì đã có dân chủ, ít nhất cũng dân chủ hơn các nước độc đảng. Tại sao ta không đi con đường mà thế giới đã đi, cứ nhất nhất đi con đường riêng chưa ai đi, và con đường riêng ấy luôn luôn phải loay hoay, chật vật? Và thỉnh thoảng, ở tình huống bế tắc quá thì lại làm cú “phá rào” để thoát hiểm?

Cuối cùng, Giáo sư Hoàng lại quay về với Điều 4 Hiến pháp để bảo vệ sự độc quyền của Đảng: “Điều 4 trong Hiến pháp đã khẳng định về vai trò lãnh đạo cầm quyền của Đảng. Đó là ý chí của dân, nguyện vọng của dân, đạt được sự đồng thuận rất lớn của xã hội. Đảng ta trong nhận thức và đánh giá của dân, có đầy đủ tính chính đáng pháp lý và sự xứng đáng về phẩm giá và uy tín của một Đảng lãnh đạo và cầm quyền”.

Sao Giáo sư lại dùng Điều 4 Hiến pháp thay cho lập luận? Lẽ ra Giáo sư phải làm ngược lại: dùng lập luận để biện giải, chứng minh cho sự đúng đắn của Điều 4. Dựa vào đâu mà Giáo sư bảo Điều 4 là “ý chí của dân”? Đã bao giờ Hiến pháp được phúc quyết chưa? Đã bao giờ Điều 4 được đem ra trưng cầu dân ý chưa?

Mấy năm trước, tôi thấy một số chuyên gia Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương lo lắng không biết nên “diễn giải” như thế nào về Đảng bây giờ. Trong tình hình hiện nay, vấn đề có lẽ càng cấp bách hơn. Người như Giáo sư Hoàng, lẽ ra có nhiệm vụ biện giải để làm sao sáng ngời tính chính danh của Đảng (chứ không phải càng nói càng hỏng). Hoặc là phải tham mưu cho Đảng, làm sao có đủ chính danh. Và nhất là làm sao “thay máu” để Đảng lành mạnh trở lại, chứ không phải nói lấy được những điều trên.

Một người “gác cổng” lâu năm cho Đảng về mặt lý luận lại có học hàm giáo sư, tôi thật buồn khi thấy bài của Giáo sư Hoàng chỉ ở tầm “dư luận viên” mà thôi. Thực tình tôi nghĩ không phải trình độ Giáo sư Hoàng Chí Bảo như vậy. Vì tôi đã từng nghe Giáo sư Hoàng giảng về Nghị quyết Trung ương IV khá hay. Lần giảng về NQ Trung ương IV đó, cách đây chưa lâu, Giáo sư đã phân tích nguyên nhân thoái hoá chính là từ trong Đảng (do tham nhũng, lộng quyền, dối trá,… mà ra chứ không phải do “thế lực thù địch” dùng thủ đoạn “diễn biến hoà bình” nào cả). Vậy bây giờ có lẽ do Giáo sư không nói thật, không căn cứ vào sự thật, cho nên gần như chẳng biện bác được gì ngoài những khẩu hiệu khô cứng. Thiết nghĩ bảo vệ Đảng như thế thật hoá ra hại Đảng. Như cụ Nguyễn Du đã viết: Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau.

Đ.T.T.



[1] Tạp văn Mạc Ngôn, Nhà xuất bản Văn học, 2005.

Trung Nghĩa: THƯA NGÀI! NGÀI NÓI KHÔNG KHÁC GÌ MỘT CON VẸT

Thưa ngài GSTS Hoàng Chí Bảo, 
ngài nói không khác gì một con vẹt
Trung Nghĩa

Ông Hoàng Chí Bảo
Thưa ngài Giáo sư Hoàng Chí Bảo!

Đúng như tôi dự đoán, trong luồng tư tưởng hoảng loạn về phương pháp nhồi sọ, tuyên truyền cho dân chúng thì sẽ phải xuất hiện một cây “đại thụ” về bằng cấp học hàm học vị, “uyên bác” về lý luận triết học Marx/lý tưởng XHCN lên tiếng, sau bài viết tạo ra những dư chấn dữ dội của một ông già bên giường bệnh- luật gia Lê Hiếu Đằng. Cây đại thụ đó không ai khác hơn là ngài giáo sư tiến sĩ triết học Hoàng Chí Bảo với bài viết thứ 5 có tên “Trọng sự thật và chân lý  để hành động có trách nhiệm[1] trong loạt bài “Dư luận phê phán ông Lê Hiếu Đằng”. Thế nhưng có lẽ nó quá khôi hài nên hôm nay, bài viết của ngài giáo sư phải để trong mục “làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình”; toàn bài viết, tư tưởng bao trùm là định hướng dư luận hơn là công kích cá nhân luật gia Lê Hiếu Đằng.

Ngay tựa bài viết ngài đã đề cập hai khái niệm là sự thậtchân lý, vậy theo ngài sự thật là gì, chân lý là gì?
Theo Wikipedia thì

- Sự thật: Cái có thật có trong thực tế, cái phản ánh đúng hiện thực khách quan.

- Chân lý: sự phản ánh chính xác sự vật khách quan và quy luật của chúng vào ý thức con người

Cả bài viết của ngài cũng không tôn trọng hai tiêu chí trên. Tôi tin rằng chính ngài cũng chưa nắm vững khái niệm mà ngài đưa ra; vì thế việc dùng một khái niệm- mà bản thân ngài chưa nắm rõ chính xác và nhuần nhuyễn trong việc sử dụng cho đúng hoàn cảnh- đem ra rao giảng cho người khác, đó là sự ngạo mạn và lố bịch.

Tôi sẽ không bàn về hai khái niệm đó nữa mà sẽ đi vào chứng minh những mảng khái niệm nó nằm trong “gan ruột của ngài”, là cái cần câu cơm, là cái ngài dùng nó để phô diễn, để lấy bằng tiến sĩ và hành nghề liên tục trong nhiều chục năm, giúp ngài lên học hàm giáo sư. Việc nói lại câu chữ và cách diễn đạt của ai đó mà không có chút tư duy nào trong đó người ta bảo rằng “nói như vẹt”. Nó không khác gì hình ảnh một con bò già, nhẫn nại nhai đi nhai lại cỏ khô, nôn ói ra rồi lại nhai và nuốt vào trong một ngăn của dạ dầy cỏ, khi không có thêm nguồn thức ăn mới, con bò già này lại nôn ói ra và lại tiếp tục nhai.

Triết học Marx luôn tung hê rằng lấy tư tưởng và nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng làm nền tảng nhưng để Marx đã vận dụng sai lầm trong tư tưởng của mình. Một vài điểm chí mạng mà bất kỳ ai có một khả năng tư duy bình thường cũng thấy cái sai bét nhè của học thuyết Marx. Mời ngài xem lại bài viết [2] mà tôi đã trình bày.

Tuy nhiên để cho dễ hiểu, dễ đánh giá tôi xin ngài hãy trả lời nhưng câu hỏi sau đây.

Học thuyết Marx cho rằng, chủ nghĩa tư bản bóc lột sức lao động của người công nhân khi chiếm đoạt giá trị thặng dư. Marx không hiểu hay cố tình không hiểu:

- Cái giá trị mà Marx gọi giá trị thặng dư đó chính là do quy luật cung cầu tạo nên (một sự khác biệt thường tồn tại là giá của một mặt hàng tại một thị trường A sẽ khác cũng mặt hàng đó tại thị trường B). Khi các nhà tư bản thực hiện việc buôn bán và họ có được sự khác biệt giữa hai thị trường. Ở một khía cạnh khác, lợi dụng ưu thế của sự khác biệt giữa thị trường lao động và thị trường giá cả cho bất kỳ mặt hàng nào đó mà nhà tư bản lên kế hoạch sản xuất. Nói một cách khác, giá trị thặng dư do chính nhà tư bản tạo ra. Thông qua việc tạo ra giá trị chênh lệch, họ cũng góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động.

Câu hỏi: hiện nay nhà nước đang khuyến khích cá cá nhân tập thể xuất khẩu các mặt hàng trong nước để tăng lợi nhuận, cả nhà nước cũng tham gia vào việc xuất nhập khẩu, vậy nhà nước VN đang khuyến khích và tham gia sự bóc lột tư bản hay sao?

- Marx thừa nhận tầng lớp tư bản là tầng lớp cách mạng nhất trong lịch sử, bởi họ thưởng xuyên cải tiến công cụ sản xuất, thế nhưng Marx lại không công nhận việc cải tiến công cụ lao động là hàng hóa hay phương tiện sinh ra giá trị thặng dư. Vì thế Marx cào bằng quân số lao động và lấy giá trị bình quân trong khi máy móc và những cải tiến (cũng là phương tiện sản xuất) lại không thuộc về người công nhân. Marx đã sai khi nói, người công nhân bán sức lao động. Họ không bán sức lao động mà bán khả năng làm việc, vì thế giá cả do hai bên thoả thuận, không thể cào bằng lương của một người chỉ có khả năng lao động chân tay với lương của một kỹ sư có khả năng làm việc bằng bộ óc.

Câu hỏi: theo kiểu tính toán của Marx, liệu ngài có nên nhận một mức thù lao/lương như một cán bộ không có bằng cấp nhưng có thâm niên lao động giống như ngài? Nếu ngài trả lời là không thì chính ngài đã phủ nhận học thuyết của Marx.

- Marx gọi giá trị thặng dư chính là khoản chênh lệnh giữa chi phí đầu vào và thu nhập đầu ra khi bán sản phẩm, với một nguyên tắc chung chi phí sẽ luôn thấp hơn khoản thu vào vì giá trị thặng dư phải luôn là con số dương có ý nghĩa.

Câu hỏi: hiện nay chế độ XH Việt Nam tốt đẹp, tại sao người nông dân lại bị lỗ khi trồng lúa? Nói rộng ra, thu nhập bình quân đầu người của VN tính tới cuối năm 2012 là 1600USD/người/năm, trong khi đó chi phí cho nhu cầu tối thiều (ăn, ở, khám chữa bệnh, nhu cầu giải trí,…) là khoảng 2400USD người/năm (trung bình khoảng 4 triệu/tháng). Vậy giá trị thặng dư đi đâu? Nói một cách khác, người dân ngày càng lỗ vốn sức lao động của mình, nếu không muốn bị thâm hụt thì chỉ còn một cách là sống dưới mức tối thiểu hoặc phải đi ăn cướp của người khác để không bị chết đói. Đó là chưa kể họ bị cướp đoạt đất canh tác bằng những chính sách do nhà nước này lập ra dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản.

Nếu không có giá trị thặng dư thì tất cả những lời phát biểu của ngài với những ngôn từ hay ho, đẹp đẽ như: sức mạnh thúc đẩy đổi mới, làm nên sức sống của đổi mới, thành tựu phát triển đất nước như hiện nay, “Công cuộc đổi mới của Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đáp ứng kịp thời những mong đợi của quần chúng nhân dân và nhận được sự ủng hộ, cổ vũ của đông đảo bạn bè, đối tác trên thế giới”, “chế độ sẽ vững và dân sẽ được hưởng Độc lập – Tự do và Hạnh phúc”,….hoàn toàn là dối trái và sai trái.

Sự phá sản và ngưng hoạt động của hàng chục nghìn doanh nghiệp cũng đủ cho thấy, nền kinh tế VN đang thoi thóp những hơi tàn sức kiệt của một cơ thể ốm đói lâu ngày. Dân không no ấm hạnh phúc, chứng tỏ cái thể chế chính trị này là kém cỏi, Đảng không đủ khả năng lãnh đạo nhân dân, con đườngxây dựng theo mô hình XHCN là sai trái, không đem lại cuộc sống ấm no cho người dân. Vậy thì những kết luận như “Ý Đảng – Lòng dân”, “quyết sách đúng đắn, kịp thời của Đảng”, “Công cuộc đổi mới của Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đáp ứng kịp thời những mong đợi của quần chúng nhân dân”, “Nhờ đổi mới với những quyết sách chiến lược của Đảng, qua cương lĩnh, chiến lược, đường lối đã và đang thực thi mà đất nước đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội”,….là dối trá và lừa đảo.

Trong bài viết, ngài đề cập tới một ý sai sự thật là “Nhân dân ủng hộ đổi mới, tin tưởng vào Đảng của mình…Nhân dân chưa bao giờ bầu cho đảng Cộng Sản, đảng Cộng Sản không phải của nhân dân, không bao giờ đại diện cho đa số tầng lớp nhân dân lao động VN vì đảng chỉ chiếm khoảng 4 triệu đảng viên trong số 92 triệu dân.

Chủ nghĩa Marx công nhận và vận dụng một quy luật nữa của chủ nghĩa duy vật biện chứng đó là “quy luật phủ định của phủ định”. Không có một thứ gì bất biến và cũng không có một đảng phái nào dám tuyên bố sẽ lãnh đạo mãi mãi dân tộc VN được. Sự phủ định nhau của các triều đại chính trị trong lịch sử VN đã thể hiện rõ điều đó

Nếu vận dụng vào hình thái kinh tế xã hội thì những mô hình xã hội ra đời sau đó luôn tốt hơn, văn mình hơn và ưu việt hơn mô hình chính trị xã hội trước đó. Trải qua lịch sử phát triển của nhân loại, con người trải qua 4 hình thái chính trị xã hội đã được thừa nhận:

-  Cộng sản nguyên thủy
-  Chiếm hữu nô lệ
-  Phong kiến
-  Tư bản chủ nghĩa

Marx cho rằng chế độ TBCN là xấu xa, không tốt đẹp nên Marx đưa ra chủ thuyết, bỏ qua giai đoạn TBCN, rồi “nặn” ra một thể chế xã hội tốt đẹp hơn đó là chủ nghĩa cộng sản (tài sản cộng lại, dùng chung với nhau, không còn giai cấp, không có bóc lột, mọi mâu thuẫn bị triệt tiêu).

Câu hỏi: bất kỳ một sự vật hiện tượng nào cũng có hai mặt là thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, vậy Chủ nghĩa cộng sản đã vi phạm nguyên tắc thứ nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng, có phải thế không thưa ngài giáo sư tiến sĩ, UV ban tư tưởng văn hóa trung ương?

Câu hỏi (tiếp theo): Nếu quay trở về chế độ chủ nghĩa cộng sản thì có phải chế độ cộng sản đã phủ định chế độ TBCN hay nói một cách khác, Marx đã sai lầm khi quay trở về điểm xuất phát rồi sao?

Có thể các ngài sẽ “chế biến” rất tài bằng cách thêm cái đuôi “khoa học” vào Chủ nghĩa cộng sản để trở thành CNCS khoa học; Theo ngài, chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa cộng sản khoa học khác nhau ra sao? Nó cũng giống như chỉ riêng ở xã hội Việt Nam mới có, học vị tiến sĩ và tiến sĩ khoa học vậy. Như thế

Câu hỏi (của tôi sẽ là): để có được nền tảng và của cải đầy đủ cho cái xã hội cộng sản khoa học kia vận hành thì làm sao để tích lũy cho đủ nhằm đáp ứng nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”?

Nếu các ngài bảo rằng việc tích lũy sẽ ở giai đoạn quá độ là XHCN, thế nhưng như phân tích ở trên, cái xã hội chủ nghĩa mà các ngài đang “từng bước tiến vững chắc” ấy, sức lao động còn đang bị lỗ vốn thì tích lũy làm sao?

Một chủ thuyết mơ hồ, viễn vông đã bị bao nhiêu nước rũ bỏ, kẻ nào bám vào nó, kẻ đó có tư duy ấu trĩ, còn những kẻ biết nó sai trái cố tình bám vào nhằm trục lợi cho phe nhóm và bản thân, thì đó chính là kẻ thù của nhân loại tiến bộ, là kẻ thù của dân tộc Việt Nam.

Trong bài viết của ngài, ngài đề cập tới ông Hồ Chí Minh. Ngài còn có hẳn những đoạn băng video clip trên Youtube để quảng bá “tài năng thuyết giảng” của ngài nữa. Tôi có thể nói rằng, cũng hiếm ban bệ, cơ quan nào giỏi nhào nặn ngôn ngữ, xào nấu khái niệm bằng ban tư tưởng văn hóa trung ương thông qua những vị giáo sư, tiến sĩ triết học mà ngài là một trong số đó. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi đến thuộc lòng khẩu hiệu “…chủ nghĩa Marx-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động”. Theo những gì tôi biết, cái câu thòng thêm vào “tư tưởng Hồ Chí Minh” nó mới có khoảng vào năm 1991, còn trước đó là không có. Đây chỉ cáh thức tuyên truyền mà thôi vì lý do sau đây:

- Ông Hồ Chí Minh chẳng có cái tư tưởng gì cả. Sinh thời chính ông Hồ đã thừa nhận, “tôi chẳng có tư tưởng gì cả, mọi thứ đã được Marx, Lê nin và Mao nói hết cả rồi”.

- Từ khoảng 1991, khi hô hào đổi mới, do mô hình XHCN đã sụp đổ tan tành tại Liên Xô và Đông Âu, nếu vẫn giương cao học thuyết Marx có lẽ sẽ lỗi thời; thêm vào đó cũng phải có một chút gì đó của là “đặc sản riêng của Việt Nam”, vì vậy các ngài đã nhét chữ vào mồm ông Hồ qua 9 tư tưởng sau (những tư tưởng này khi còn ngồi dưới ghế nhà trường XHCN chúng tôi đã được nhồi sọ hải đọc vanh vách).
1. Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
2. Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
3. Tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc. 
4. Tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân
5. Tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
6. Tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
7. Tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư
8. Tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.
9. Tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Xin ngài hãy đọc lại cho thật kỹ xem, đó có phải là tư tưởng không (ví dụ như tư tưởng 1). Tư tưởng 2, 3,4,5, 8 không phải ông Hồ là người đầu tiên lên tiếng. Việc nhào nặn chữ nghĩa nó chỉ xoay quanh một vấn đề “tiến hành chiến tranh nhân dân”, quan tâm tới nhân dân, giáo dục quốc phòng toàn dân. Điều này đã có từ ngàn xưa, từ thời bà Trưng Bà Triệu, đến thời nhà Trần thì Trần Hưng Đạo đã viết thành sách về chiến lược toàn dân đánh giặc. Sau khi thắng giặc, Vua Trần Nhân Tông định xây dựng sửa sang thành Thăng Long, nhưng Trần Hưng Đạo đã khuyên nhà vua Việc sửa lại thành trì không cần kíp lắm. Việc cần kíp triều đình cần phải làm ngay không thể chậm trễ được là việc úy lạo nhân dân. Hơn bốn năm, quân giặc hai lần tràn sang đánh phá, từ nơi núi rừng đến nơi đồng ruộng đều bị tàn phá hầu hết. Vậy mà dân chúng vẫn một lòng hướng về triều đình, xuất tài, xuất lực, đi lính, đóng thuế làm nên một lực lượng mạnh cho triều đình chống nhau với giặc. Nay nhà vua đã được trở về yên ổn, việc cần làm trước hết là chú ý đến ngay dân. Những nơi nào bị tàn phá, tùy tình trạng nặng nhẹ mà cứu tế. Nơi nào bị tàn phá quá nặng có thể miễn tô thuế mấy năm. Có như thế dân mới nức lòng càng quy hướng về triều đình hơn nữa. Người xưa đã nói: “Chúng chí thành thành”. Đó mới là cái thành cần sửa chữa ngay. Xin nhà vua xét kỹ“. Ngài có cần tôi nhắc lại bài viết có ở đâu không thưa ngài Giáo sư tiến sĩ, UV ban tư tưởng văn hóa trung ương Hoàng Chí Bảo? Chẳng những thế, đến thời Lê Lợi, thời Nguyễn Huệ các vị anh hùng dân tộc  đã học hỏi, vận dụng và dẫn dắt nhân dân ta đi tới thắng lợi to lớn, chẳng lẽ ngài đã quên lịch sử Việt Nam rồi sao?

Tư tưởng 7 và 9: không thể gọi là tư tưởng mà là nguyên tắc/tiêu chuẩn của người đảng viên. Chẳng những chỉ đảng viên mới có tiêu chuẩn đó mà bất cứ một người lãnh đạo nào cũng phải được đòi hỏ. Thế nhưng hiện nay, tham nhũng trong nội bộ đảng đã không còn che dấu nổi mà ngài chủ tịch Trương Tấn Sang gọi là một “bầy sâu”. Ngài nghĩ sao?
Cả một bài viết của ngài, toàn những câu chữ mà chúng tôi đã bị nhồi sọ, đã đọc không biết bao nhiêu lần từ những trang báo như Nhân Dân, QĐND, CAND….Ngài nói có khác gì một con vẹt!

Xin đừng lạm dụng từ Nhân Dân một cách vô lễ và láo xược. Những điều ngài viết chỉ là ngôn từ của ngài và đảng phái của ngài mà thôi.

Nếu không thể trả lời được những câu hỏi và thắc mắc ở trên, xin ngài hãy giữ một chút liêm sỉ cuối cùng của một kẻ làm người: hãy im lặng đừng mở miệng nói gì thêm điều gì nữa vì Nhân dân đã quá khổ sơ do bị đảng Cộng Sản lừa dối quá lâu rồi. Ngay cả cái học hàm và học vị của ngài, dân tình chúng tôi cũng đã quá biết nó được ra lò để các ngài ban bổng lộc cho nhau.

Nhân dân chúng tôi và lịch sử của dân tộc này sẽ phán xét các ngài.
T.N
______________

Tài liệu tham khảo


Nguồn: Ba Sàm