Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

Trung Nghĩa: THƯA NGÀI! NGÀI NÓI KHÔNG KHÁC GÌ MỘT CON VẸT

Thưa ngài GSTS Hoàng Chí Bảo, 
ngài nói không khác gì một con vẹt
Trung Nghĩa

Ông Hoàng Chí Bảo
Thưa ngài Giáo sư Hoàng Chí Bảo!

Đúng như tôi dự đoán, trong luồng tư tưởng hoảng loạn về phương pháp nhồi sọ, tuyên truyền cho dân chúng thì sẽ phải xuất hiện một cây “đại thụ” về bằng cấp học hàm học vị, “uyên bác” về lý luận triết học Marx/lý tưởng XHCN lên tiếng, sau bài viết tạo ra những dư chấn dữ dội của một ông già bên giường bệnh- luật gia Lê Hiếu Đằng. Cây đại thụ đó không ai khác hơn là ngài giáo sư tiến sĩ triết học Hoàng Chí Bảo với bài viết thứ 5 có tên “Trọng sự thật và chân lý  để hành động có trách nhiệm[1] trong loạt bài “Dư luận phê phán ông Lê Hiếu Đằng”. Thế nhưng có lẽ nó quá khôi hài nên hôm nay, bài viết của ngài giáo sư phải để trong mục “làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình”; toàn bài viết, tư tưởng bao trùm là định hướng dư luận hơn là công kích cá nhân luật gia Lê Hiếu Đằng.

Ngay tựa bài viết ngài đã đề cập hai khái niệm là sự thậtchân lý, vậy theo ngài sự thật là gì, chân lý là gì?
Theo Wikipedia thì

- Sự thật: Cái có thật có trong thực tế, cái phản ánh đúng hiện thực khách quan.

- Chân lý: sự phản ánh chính xác sự vật khách quan và quy luật của chúng vào ý thức con người

Cả bài viết của ngài cũng không tôn trọng hai tiêu chí trên. Tôi tin rằng chính ngài cũng chưa nắm vững khái niệm mà ngài đưa ra; vì thế việc dùng một khái niệm- mà bản thân ngài chưa nắm rõ chính xác và nhuần nhuyễn trong việc sử dụng cho đúng hoàn cảnh- đem ra rao giảng cho người khác, đó là sự ngạo mạn và lố bịch.

Tôi sẽ không bàn về hai khái niệm đó nữa mà sẽ đi vào chứng minh những mảng khái niệm nó nằm trong “gan ruột của ngài”, là cái cần câu cơm, là cái ngài dùng nó để phô diễn, để lấy bằng tiến sĩ và hành nghề liên tục trong nhiều chục năm, giúp ngài lên học hàm giáo sư. Việc nói lại câu chữ và cách diễn đạt của ai đó mà không có chút tư duy nào trong đó người ta bảo rằng “nói như vẹt”. Nó không khác gì hình ảnh một con bò già, nhẫn nại nhai đi nhai lại cỏ khô, nôn ói ra rồi lại nhai và nuốt vào trong một ngăn của dạ dầy cỏ, khi không có thêm nguồn thức ăn mới, con bò già này lại nôn ói ra và lại tiếp tục nhai.

Triết học Marx luôn tung hê rằng lấy tư tưởng và nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng làm nền tảng nhưng để Marx đã vận dụng sai lầm trong tư tưởng của mình. Một vài điểm chí mạng mà bất kỳ ai có một khả năng tư duy bình thường cũng thấy cái sai bét nhè của học thuyết Marx. Mời ngài xem lại bài viết [2] mà tôi đã trình bày.

Tuy nhiên để cho dễ hiểu, dễ đánh giá tôi xin ngài hãy trả lời nhưng câu hỏi sau đây.

Học thuyết Marx cho rằng, chủ nghĩa tư bản bóc lột sức lao động của người công nhân khi chiếm đoạt giá trị thặng dư. Marx không hiểu hay cố tình không hiểu:

- Cái giá trị mà Marx gọi giá trị thặng dư đó chính là do quy luật cung cầu tạo nên (một sự khác biệt thường tồn tại là giá của một mặt hàng tại một thị trường A sẽ khác cũng mặt hàng đó tại thị trường B). Khi các nhà tư bản thực hiện việc buôn bán và họ có được sự khác biệt giữa hai thị trường. Ở một khía cạnh khác, lợi dụng ưu thế của sự khác biệt giữa thị trường lao động và thị trường giá cả cho bất kỳ mặt hàng nào đó mà nhà tư bản lên kế hoạch sản xuất. Nói một cách khác, giá trị thặng dư do chính nhà tư bản tạo ra. Thông qua việc tạo ra giá trị chênh lệch, họ cũng góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động.

Câu hỏi: hiện nay nhà nước đang khuyến khích cá cá nhân tập thể xuất khẩu các mặt hàng trong nước để tăng lợi nhuận, cả nhà nước cũng tham gia vào việc xuất nhập khẩu, vậy nhà nước VN đang khuyến khích và tham gia sự bóc lột tư bản hay sao?

- Marx thừa nhận tầng lớp tư bản là tầng lớp cách mạng nhất trong lịch sử, bởi họ thưởng xuyên cải tiến công cụ sản xuất, thế nhưng Marx lại không công nhận việc cải tiến công cụ lao động là hàng hóa hay phương tiện sinh ra giá trị thặng dư. Vì thế Marx cào bằng quân số lao động và lấy giá trị bình quân trong khi máy móc và những cải tiến (cũng là phương tiện sản xuất) lại không thuộc về người công nhân. Marx đã sai khi nói, người công nhân bán sức lao động. Họ không bán sức lao động mà bán khả năng làm việc, vì thế giá cả do hai bên thoả thuận, không thể cào bằng lương của một người chỉ có khả năng lao động chân tay với lương của một kỹ sư có khả năng làm việc bằng bộ óc.

Câu hỏi: theo kiểu tính toán của Marx, liệu ngài có nên nhận một mức thù lao/lương như một cán bộ không có bằng cấp nhưng có thâm niên lao động giống như ngài? Nếu ngài trả lời là không thì chính ngài đã phủ nhận học thuyết của Marx.

- Marx gọi giá trị thặng dư chính là khoản chênh lệnh giữa chi phí đầu vào và thu nhập đầu ra khi bán sản phẩm, với một nguyên tắc chung chi phí sẽ luôn thấp hơn khoản thu vào vì giá trị thặng dư phải luôn là con số dương có ý nghĩa.

Câu hỏi: hiện nay chế độ XH Việt Nam tốt đẹp, tại sao người nông dân lại bị lỗ khi trồng lúa? Nói rộng ra, thu nhập bình quân đầu người của VN tính tới cuối năm 2012 là 1600USD/người/năm, trong khi đó chi phí cho nhu cầu tối thiều (ăn, ở, khám chữa bệnh, nhu cầu giải trí,…) là khoảng 2400USD người/năm (trung bình khoảng 4 triệu/tháng). Vậy giá trị thặng dư đi đâu? Nói một cách khác, người dân ngày càng lỗ vốn sức lao động của mình, nếu không muốn bị thâm hụt thì chỉ còn một cách là sống dưới mức tối thiểu hoặc phải đi ăn cướp của người khác để không bị chết đói. Đó là chưa kể họ bị cướp đoạt đất canh tác bằng những chính sách do nhà nước này lập ra dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản.

Nếu không có giá trị thặng dư thì tất cả những lời phát biểu của ngài với những ngôn từ hay ho, đẹp đẽ như: sức mạnh thúc đẩy đổi mới, làm nên sức sống của đổi mới, thành tựu phát triển đất nước như hiện nay, “Công cuộc đổi mới của Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đáp ứng kịp thời những mong đợi của quần chúng nhân dân và nhận được sự ủng hộ, cổ vũ của đông đảo bạn bè, đối tác trên thế giới”, “chế độ sẽ vững và dân sẽ được hưởng Độc lập – Tự do và Hạnh phúc”,….hoàn toàn là dối trái và sai trái.

Sự phá sản và ngưng hoạt động của hàng chục nghìn doanh nghiệp cũng đủ cho thấy, nền kinh tế VN đang thoi thóp những hơi tàn sức kiệt của một cơ thể ốm đói lâu ngày. Dân không no ấm hạnh phúc, chứng tỏ cái thể chế chính trị này là kém cỏi, Đảng không đủ khả năng lãnh đạo nhân dân, con đườngxây dựng theo mô hình XHCN là sai trái, không đem lại cuộc sống ấm no cho người dân. Vậy thì những kết luận như “Ý Đảng – Lòng dân”, “quyết sách đúng đắn, kịp thời của Đảng”, “Công cuộc đổi mới của Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đáp ứng kịp thời những mong đợi của quần chúng nhân dân”, “Nhờ đổi mới với những quyết sách chiến lược của Đảng, qua cương lĩnh, chiến lược, đường lối đã và đang thực thi mà đất nước đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội”,….là dối trá và lừa đảo.

Trong bài viết, ngài đề cập tới một ý sai sự thật là “Nhân dân ủng hộ đổi mới, tin tưởng vào Đảng của mình…Nhân dân chưa bao giờ bầu cho đảng Cộng Sản, đảng Cộng Sản không phải của nhân dân, không bao giờ đại diện cho đa số tầng lớp nhân dân lao động VN vì đảng chỉ chiếm khoảng 4 triệu đảng viên trong số 92 triệu dân.

Chủ nghĩa Marx công nhận và vận dụng một quy luật nữa của chủ nghĩa duy vật biện chứng đó là “quy luật phủ định của phủ định”. Không có một thứ gì bất biến và cũng không có một đảng phái nào dám tuyên bố sẽ lãnh đạo mãi mãi dân tộc VN được. Sự phủ định nhau của các triều đại chính trị trong lịch sử VN đã thể hiện rõ điều đó

Nếu vận dụng vào hình thái kinh tế xã hội thì những mô hình xã hội ra đời sau đó luôn tốt hơn, văn mình hơn và ưu việt hơn mô hình chính trị xã hội trước đó. Trải qua lịch sử phát triển của nhân loại, con người trải qua 4 hình thái chính trị xã hội đã được thừa nhận:

-  Cộng sản nguyên thủy
-  Chiếm hữu nô lệ
-  Phong kiến
-  Tư bản chủ nghĩa

Marx cho rằng chế độ TBCN là xấu xa, không tốt đẹp nên Marx đưa ra chủ thuyết, bỏ qua giai đoạn TBCN, rồi “nặn” ra một thể chế xã hội tốt đẹp hơn đó là chủ nghĩa cộng sản (tài sản cộng lại, dùng chung với nhau, không còn giai cấp, không có bóc lột, mọi mâu thuẫn bị triệt tiêu).

Câu hỏi: bất kỳ một sự vật hiện tượng nào cũng có hai mặt là thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, vậy Chủ nghĩa cộng sản đã vi phạm nguyên tắc thứ nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng, có phải thế không thưa ngài giáo sư tiến sĩ, UV ban tư tưởng văn hóa trung ương?

Câu hỏi (tiếp theo): Nếu quay trở về chế độ chủ nghĩa cộng sản thì có phải chế độ cộng sản đã phủ định chế độ TBCN hay nói một cách khác, Marx đã sai lầm khi quay trở về điểm xuất phát rồi sao?

Có thể các ngài sẽ “chế biến” rất tài bằng cách thêm cái đuôi “khoa học” vào Chủ nghĩa cộng sản để trở thành CNCS khoa học; Theo ngài, chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa cộng sản khoa học khác nhau ra sao? Nó cũng giống như chỉ riêng ở xã hội Việt Nam mới có, học vị tiến sĩ và tiến sĩ khoa học vậy. Như thế

Câu hỏi (của tôi sẽ là): để có được nền tảng và của cải đầy đủ cho cái xã hội cộng sản khoa học kia vận hành thì làm sao để tích lũy cho đủ nhằm đáp ứng nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”?

Nếu các ngài bảo rằng việc tích lũy sẽ ở giai đoạn quá độ là XHCN, thế nhưng như phân tích ở trên, cái xã hội chủ nghĩa mà các ngài đang “từng bước tiến vững chắc” ấy, sức lao động còn đang bị lỗ vốn thì tích lũy làm sao?

Một chủ thuyết mơ hồ, viễn vông đã bị bao nhiêu nước rũ bỏ, kẻ nào bám vào nó, kẻ đó có tư duy ấu trĩ, còn những kẻ biết nó sai trái cố tình bám vào nhằm trục lợi cho phe nhóm và bản thân, thì đó chính là kẻ thù của nhân loại tiến bộ, là kẻ thù của dân tộc Việt Nam.

Trong bài viết của ngài, ngài đề cập tới ông Hồ Chí Minh. Ngài còn có hẳn những đoạn băng video clip trên Youtube để quảng bá “tài năng thuyết giảng” của ngài nữa. Tôi có thể nói rằng, cũng hiếm ban bệ, cơ quan nào giỏi nhào nặn ngôn ngữ, xào nấu khái niệm bằng ban tư tưởng văn hóa trung ương thông qua những vị giáo sư, tiến sĩ triết học mà ngài là một trong số đó. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi đến thuộc lòng khẩu hiệu “…chủ nghĩa Marx-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động”. Theo những gì tôi biết, cái câu thòng thêm vào “tư tưởng Hồ Chí Minh” nó mới có khoảng vào năm 1991, còn trước đó là không có. Đây chỉ cáh thức tuyên truyền mà thôi vì lý do sau đây:

- Ông Hồ Chí Minh chẳng có cái tư tưởng gì cả. Sinh thời chính ông Hồ đã thừa nhận, “tôi chẳng có tư tưởng gì cả, mọi thứ đã được Marx, Lê nin và Mao nói hết cả rồi”.

- Từ khoảng 1991, khi hô hào đổi mới, do mô hình XHCN đã sụp đổ tan tành tại Liên Xô và Đông Âu, nếu vẫn giương cao học thuyết Marx có lẽ sẽ lỗi thời; thêm vào đó cũng phải có một chút gì đó của là “đặc sản riêng của Việt Nam”, vì vậy các ngài đã nhét chữ vào mồm ông Hồ qua 9 tư tưởng sau (những tư tưởng này khi còn ngồi dưới ghế nhà trường XHCN chúng tôi đã được nhồi sọ hải đọc vanh vách).
1. Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
2. Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
3. Tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc. 
4. Tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân
5. Tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
6. Tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
7. Tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư
8. Tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.
9. Tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Xin ngài hãy đọc lại cho thật kỹ xem, đó có phải là tư tưởng không (ví dụ như tư tưởng 1). Tư tưởng 2, 3,4,5, 8 không phải ông Hồ là người đầu tiên lên tiếng. Việc nhào nặn chữ nghĩa nó chỉ xoay quanh một vấn đề “tiến hành chiến tranh nhân dân”, quan tâm tới nhân dân, giáo dục quốc phòng toàn dân. Điều này đã có từ ngàn xưa, từ thời bà Trưng Bà Triệu, đến thời nhà Trần thì Trần Hưng Đạo đã viết thành sách về chiến lược toàn dân đánh giặc. Sau khi thắng giặc, Vua Trần Nhân Tông định xây dựng sửa sang thành Thăng Long, nhưng Trần Hưng Đạo đã khuyên nhà vua Việc sửa lại thành trì không cần kíp lắm. Việc cần kíp triều đình cần phải làm ngay không thể chậm trễ được là việc úy lạo nhân dân. Hơn bốn năm, quân giặc hai lần tràn sang đánh phá, từ nơi núi rừng đến nơi đồng ruộng đều bị tàn phá hầu hết. Vậy mà dân chúng vẫn một lòng hướng về triều đình, xuất tài, xuất lực, đi lính, đóng thuế làm nên một lực lượng mạnh cho triều đình chống nhau với giặc. Nay nhà vua đã được trở về yên ổn, việc cần làm trước hết là chú ý đến ngay dân. Những nơi nào bị tàn phá, tùy tình trạng nặng nhẹ mà cứu tế. Nơi nào bị tàn phá quá nặng có thể miễn tô thuế mấy năm. Có như thế dân mới nức lòng càng quy hướng về triều đình hơn nữa. Người xưa đã nói: “Chúng chí thành thành”. Đó mới là cái thành cần sửa chữa ngay. Xin nhà vua xét kỹ“. Ngài có cần tôi nhắc lại bài viết có ở đâu không thưa ngài Giáo sư tiến sĩ, UV ban tư tưởng văn hóa trung ương Hoàng Chí Bảo? Chẳng những thế, đến thời Lê Lợi, thời Nguyễn Huệ các vị anh hùng dân tộc  đã học hỏi, vận dụng và dẫn dắt nhân dân ta đi tới thắng lợi to lớn, chẳng lẽ ngài đã quên lịch sử Việt Nam rồi sao?

Tư tưởng 7 và 9: không thể gọi là tư tưởng mà là nguyên tắc/tiêu chuẩn của người đảng viên. Chẳng những chỉ đảng viên mới có tiêu chuẩn đó mà bất cứ một người lãnh đạo nào cũng phải được đòi hỏ. Thế nhưng hiện nay, tham nhũng trong nội bộ đảng đã không còn che dấu nổi mà ngài chủ tịch Trương Tấn Sang gọi là một “bầy sâu”. Ngài nghĩ sao?
Cả một bài viết của ngài, toàn những câu chữ mà chúng tôi đã bị nhồi sọ, đã đọc không biết bao nhiêu lần từ những trang báo như Nhân Dân, QĐND, CAND….Ngài nói có khác gì một con vẹt!

Xin đừng lạm dụng từ Nhân Dân một cách vô lễ và láo xược. Những điều ngài viết chỉ là ngôn từ của ngài và đảng phái của ngài mà thôi.

Nếu không thể trả lời được những câu hỏi và thắc mắc ở trên, xin ngài hãy giữ một chút liêm sỉ cuối cùng của một kẻ làm người: hãy im lặng đừng mở miệng nói gì thêm điều gì nữa vì Nhân dân đã quá khổ sơ do bị đảng Cộng Sản lừa dối quá lâu rồi. Ngay cả cái học hàm và học vị của ngài, dân tình chúng tôi cũng đã quá biết nó được ra lò để các ngài ban bổng lộc cho nhau.

Nhân dân chúng tôi và lịch sử của dân tộc này sẽ phán xét các ngài.
T.N
______________

Tài liệu tham khảo


Nguồn: Ba Sàm

Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2013

SỰ QUẪN CÙNG VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN CỦA BA TỜ BÁO LỚN

Sự quẫn cùng về phương pháp định hướng dư luận của ba tờ báo lớn: Nhân dân, Quân đội Nhân Dân và Đại Đoàn Kết

Trung Nghĩa

Từ khi có internet ra đời khoảng hơn 10 năm nay và hệ quả tất yếu kéo theo của nó là ra đời các trang mạng xã hội như web/blog các nhân, Facebook/Twitter,…. Công nghệ này là một tiến bộ vượt bậc của con người với bao nhiêu tiện ích nổi bật mà nhân loại được tận hưởng: thế giới phẳng mở ra, sự quảng bá và nổi tiếng vượt biên giới, thông tin khoa học công bố tính trên đơn vị từng giây, sự kết nối âm thanh, hình ảnh nhanh hơn tia chớp giữa những con người ở hai nửa địa cầu, mua bán hàng qua mạng, thậm chí một cuộc họp/hội nghị diễn ra trên một thế giới mạng.

Tiện lợi đấy nhưng sẽ là thảm họa cho thể chế độc tài muốn bít kín thông tin, muốn ngu dân để cai trị. Vì vậy mà sự tuyên truyền theo hướng một chiều theo truyền thống  đã phần nào giảm tác dụng.

Với một người chỉ cần có chút kiến thức căn bản về internet, họ có thể lục tung mọi thông tin trên mạng, tìm đọc bất cứ tin tức nào họ quan tâm.

Hôm nay, tôi lại một lần nữa phì cười trong nhiều chua chát vì cách định hướng dư luận và sự đồng loạt vào cuộc của ba tờ báo lớn: Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân và Đại Đoàn Kết để “đánh hội đồng” một nhân vật – Luật gia Lê Hiếu Đằng, một đảng viên kỳ cựu 45 năm tuổi đảng, một người từng xuống đường biểu tình phản đối chế độ VN cộng hòa- đưa ra lời kêu gọi thoái đảng cộng sản và cho ra một đảng Dân chủ Xã hội ở Việt Nam, tiến tới xây dựng một xã hội dân chủ đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập. Lời kêu gọi của ông đã gây ra sự tranh luận sôi nổi, gần như là đột biến về số lượng người quan tâm tới tình hình kinh tế- chính trị- xã hội của đất nước, thu hút hàng nghìn người ngoài biên giới VN bày tỏ quan điểm.

Nếu ai quan tâm tới VN gần đây, không còn có thể né tránh được nữa, VN đang ở đáy chảo của mọi thứ khủng hỏang từ kinh tế, môi trường, giáo dục, văn hoá tư tưởng, chính trị … Khi mọi thứ đã ở mức tồi tệ nhất thì việc thay đổi sự lựa chọn bao giờ cũng là biện pháp tối ưu, bởi vì người ta biết chắc chắn một điều rằng thay đổi (dù chưa biết tốt hơn là ít hay nhiều) nhưng sẽ khác cái hiện có.

Đó là lý giải cho việc đại đa số người dân quan tâm tới lời kêu gọi, họ bàn luận, họ trao đổi, … Và rồi họ đồng tình.

Tuy nhiên, với cương vị là “lãnh đạo toàn diện dân tộc VN” theo điều 4 Hiến pháp, nếu xu hướng trên tất yếu xảy ra thì quyền lực và tầm ảnh hưởng của Đảng CS sẽ bị tác động. Để chống lại luồng tư tưởng này, ban tư tưởng văn hoá và các tờ báo đã vào cuộc.

Tuy nhiên cho tới thời điểm này, tất cả những bài viết cùng nhắm vào ý kiến của luật sư Lê Hiếu Đằng, bản thân tôi cảm nhận, hình như cả ba tờ báo lớn kể trên- chuyên về mảng tuyên truyền tư tưởng nhằm lôi kéo quần chúng nhân dân về phía mình- họ đã tung hết tất cả các vũ khí có thể phô diễn, dùng tất cả những bí kíp, bửu bối nhưng hiệu quả quá yếu kém. Càng viết người dân càng thấy cái dở, cái ngụy biện đến vô lý của họ. Nó chỉ ra sự cùng quẫn về phương pháp tuyên truyền, giống như một người bệnh đã hoàn toàn bất lực nhưng vẫn cố gào lên để gây chú ý bằng những tiếng thở thều thào, hổn hển.

Tôi xin chứng minh ngay cho lời nhận xét của mình.

Thứ nhất: Đối với tờ báo QĐND

Đây là tờ báo xung kích, mở màn đầu tiên bằng bài viết của tác giả Trọng Đức: Đôi lời với tác giả “Viết bên giường bịnh” ra ngày 18/08/2013 [1], bài báo đã nhận được rất nhiều phản hồi, phản đối mà chưa hề có một tác giả /bài báo nào đồng tình (theo quan sát của tôi). Bản thân tôi cũng có một bài phản hồi cho bài viết này [2] Thế nhưng, người đọc cũng quá quen với cái kiểu viết bài đả kích ai đó, tung lên mạng rồi bỏ chạy mất mặt của cách làm báo yếu kém và thiếu chuyên nghiệp của trang QĐND.

Hai ngày sau, tờ báo này cho ra hẳn một chuyên mục “Dư luận phê phán tác giả Lê Hiếu Đằng”, với lối quy chụp và công kích thiếu công bằng cá nhân ông Đằng. Những lời nhận xét này được đăng hai kỳ liên tiếp ngày 20 và 21/08/2013 qua hai bài [3 &4]. Chẳng quá lời nếu tôi nhận xét, đó là mảng lấy ý kiến dư luận một cách lệch lạc, thiên vị và vô đạo đức của một kiểu làm báo tuyên truyền. Bản thân tôi cũng đã có một bài viết để chỉ rõ những cái vô lý của tác giả cũng những những thiên kiến của những cá nhân được họ phỏng vấn [5]. Và như thường lệ họ cũng chẳng có hồi đáp.

Hôm nay, tờ báo QĐND lại giở một chiêu trò mới với một vẻ mặt “hiền lành hơn, nhã nhặn hơn” là chỉ thông qua bài báo của một tác giả ở hải ngoại có tên Amari TX – một người Mỹ gốc Việt [6].

Cả một bài viết tác giả Mỹ gốc Việt không hề nhắc dù chỉ một lần cái tên Lê Hiếu Đằng; chỉ nói bóng gió về nhân vật mà người Mỹ gốc Việt này phản hồi khi mô tả như sau: một “nhà bất đồng chính kiến” “phần tử cơ hội”, bất mãn đang ra sức tung hứng như “ngọn cờ” để chống phá Ðảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước CHXHCN Việt Nam. “ông là một trong những người đầu tiên ký vào “Kiến nghị 72″; là một trong những người đi đầu trong “phong trào biểu tình”.

Nếu chỉ căn cứ vào những cụm từ được mô tả ở trên, tôi có cảm giác ông/bà người Mỹ gốc Việt này đang nói về ông Hồ Ngọc Nhuận hay Tiến sĩ Nguyễn Quang A cũng nên, vì cả hai người này đều có đầy đủ những “phẩm chất” nêu trên. Sao báo QĐND lại bảo rằng bài viết này là của ông /bà người Mỹ gốc Việt viết về luật sư Lê Hiếu Đằng?

Đọc toàn bài viết, với cá nhân tôi, đây là một bài viết phản biện “nhẹ nhàng”, cách nói chung chung cũng không quá gay gắt vì chẳng có chứng cớ và không chỉ đích danh ai hết. Nhưng hình như những thông tin mà ông/bà người Mỹ gốc Việt này đưa ra lại khiến tôi hình dung rằng ông/bà này là người Việt gốc Việt hay là người Việt gốc Mỹ hay gốc Pháp (những người từng tham chiến chiến ở Việt Nam) vì tác giả nhắc tới lịch sử cận/hiện đại của VN, nhắc tới giai đoạn 1954 của VN trong kháng chiến chống Pháp, rồi sau đó là chống Mỹ với những ngôn từ, cách hành văn mà tôi tin không phải của một người Mỹ gốc Việt. Nếu tìm vào trang chủ của ông /bà người Mỹ gốc Việt này thì dòng chữ “tiếng nói người Việt Hải Ngoại” bên tay phải ở trên cùng. Còn phía tay trái lại là thông điệp “tổ quốc là trên hết”, xin hỏi ông bà “tổ quốc” của ông bà hiện nay là tổ quốc nào nếu không phải là nước Mỹ? Bên dưới lại có một phát ngôn của ông Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, sau đó là toàn bộ tư tưởng chính kiến của tác giả xuyên suốt qua các bài viết cũng nhưng bài sưu tầm. Điều khác nữa mà lại càng được củng cố thêm khi ông/bà người Mỹ gốc Việt này giải thích về đa nguyên chính trị như sau:

“Xin nói để ông và các “chiến hữu” của ông biết: một chế độ đa đảng chưa hẳn đã là chế độ đa nguyên về chính trị. Chẳng hạn, ở Mỹ hiện nay, tuy đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa thay nhau cầm quyền, nhưng nếu xem đó là chế độ đa nguyên về chính trị thì chưa hẳn đúng. Bởi lẽ, hai đảng chỉ đối lập nhau trên một số phương diện không cơ bản; xét về bản chất giai cấp – xã hội, hai đảng là đồng nhất, có mục tiêu căn bản giống nhau là củng cố và phát triển thể chế tư bản chủ nghĩa ở Mỹ…” 

Lạ chưa? Một người tự nhận là người Mỹ, tức là công dân Mỹ (ít nhất phải tham gia bầu cử ở Mỹ rồi) mà lại phát ngôn đến nực cười.

Theo Wikipedia thì “Đa nguyên theo nghĩa tổng quát là sự xác nhận và chấp nhận tính đa dạng”. Khái niệm này thường được dùng theo nhiều cách khác nhau trong nhiều vấn đề khác nhau. Trong chính trị, sự xác nhận tính phong phú về các mối quan tâm và niềm tin của toàn thể công dân là một trong số các đặc tính quan trọng của nền dân chủ hiện đại. Nói một cách khác, dân chủ đã bao hàm cả tính đa nguyên và đa đảng trong đó.

Ở Mỹ có hai đảng thay nhau lãnh đạo đất nước, trước khi có cuộc tranh cử tổng thống, trong nội bộ từng đảng cũng phải có sự tranh cử, đơn giản như ông Obama và bà Clinton cùng thuộc đảng Dân Chủ, nhưng họ phải cạnh tranh nhau để xem ai sẽ đại diện cho đảng của họ tranh cử tổng thống trong nhiệm kỳ hồi năm 2008. Tính đa nguyên này nó thể hiện rõ nhất ở chỗ, cùng là xu hướng phát triển đất nước nhưng có người chú trọng đối ngoại, có người xem trọng đối nội, kích cầu tiêu dùng. Hoặc cùng là chính sách đối ngoại nhưng có người chọn đối tác chiến lược là khối EU, có người nghiêng về tiềm năng của những con rồng mới nổi ở Châu Á/khối Asean,….Từ sự đa dạng đó, người dân sẽ lựa chọn ai thông qua bài phát biểu của họ trong cuộc vận động tranh cử.

Tác giả người Mỹ gốc Việt còn lập luận “Ở Anh và Nhật Bản, hiến pháp lại thừa nhận vai trò của nhà vua, họ là những nhà nước quân chủ lập hiến”. Nói như thế là không đầy đủ, ở các nước quân chủ lập hiến, nhà vua/nữ hoàng chỉ có vai trò tinh thần, còn quyền lực vẫn nằm trong tay quốc hội và chính phủ, do người dân bầu ra.

Bạn bè tôi người Mỹ gốc Việt có đến hàng chục, họ cũng có blog/web nhưng hình như cái ông Amari TX người Mỹ gốc Việt này có suy nghĩ, lập luận và cách hành văn không giống ai.

Bài viết “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh” ông Lê Hiếu Đằng viết và gửi qua trang mạng xã hội (Bauxit VN), đây là trang ít nhiều bị chính quyền VN xếp vào loại “thù địch”, không chịu sự quản lý về tư tưởng của ban tư tưởng văn hóa trung ương; một điều đáng nói ở đây là, một tờ báo lớn, rất lớn của nhà nước VN là tờ QĐND khi muốn công kích phản đối ý kiến của một công dân là ông Lê Hiếu Đằng, lại dùng một trang báo mạng xã hội của một tác giả nặc danh, được giới thiệu ở bên Mỹ để phản bác lại? Chẳng lẽ báo QĐND đã hết cách để phản biện? Hóa ra báo chí chính thống quá quan tâm tới thông tin vỉa hè “thù địch” nhưng phải dùng tới thông tin vỉ hè “không thù địch” của mạng xã hội để phản bác ai đó họ muốn. Thế thì làm sao chính quyền lại chặn tường lửa các trang mạng xã hội được trong khi chính giới nhà báo chính thống cũng mò vào đọc và phải sử dụng bài viết của họ?

Thứ hai: Đối với tờ báo Nhân Dân

Tờ Nhân Dân hôm nay mới vào cuộc bằng một bài công kích ý kiến của luật gia Lê Hiếu Đằng với một tác giả có tên Phạm Trung với bài viết “Màn tung hứng vụng về” [6].

Với cá nhân tôi, chính bài viết này mới là một bài viết vụng về, chỉ đưa ra quy chụp mà không đưa dẫn chứng để chứng minh kết luận của Phạm Trung. Toàn bài viết tác giả Phạm Trung cũng không chỉ ra ai là người tung, ai là người hứng. Tác giả đề cập tới đạo đức người làm báo, nhưng hãy xem ở những luận điểm sau để phải hỏi ngược lại: Tác giả Phạm Trung đã có đạo đức của người làm báo hay chưa?

1. Tác giả “phản biện lại luật gia Lê Hiếu Đằng thông qua bài viết “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh” nhưng lại không trích dẫn bài viết đó ở đâu, trên trang nào, ra ngày tháng năm nào.

 2. Tác giả lập lờ chuyện Luật gia Lê Hiếu Đằng lên án thái độ “hiền lành” của lãnh đạo Việt Nam, rồi sau đó phán: “… trong khi chính ông cũng dẫn ra nào Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, gò Đống Đa và thừa biết tiền nhân của chúng ta đã ứng xử khôn khéo, thông minh thế nào trước khi có những trận đánh trời long đất lở, lập chiến công hiển hách ghi dấu son trong lịch sử dân tộc như vậy”. Lời khuyên chân thành cho Phạm Trung rằng, hãy về đọc lại cho kỹ lịch sử về những diễn biến của các cuộc chiến đấu đó, chỉ xin nhắc lại những tình tiết rất ngắn gọn để nhà báo/bút danh Phạm Trung nhớ:

- Sau khi giết chết Dương Đình Nghệ, do bị cô lập, Kiều Công Tiễn vội vã cầu cứu nhà Nam Hán, Ngô Quyền lập tức tập hợp lực lượng, kéo quân ra Bắc, giết chết Kiều Công Tiễn rồi chuẩn bị quyết chiến với quân Nam Hán. Thắng lợi của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng năm 938 đã đặt dấu chấm hết cho mọi âm mưu xâm lược Tĩnh Hải Quân của nhà Nam Hán, đồng thời cũng kết thúc thời kì Bắc thuộc của Việt Nam [7]; hoàn toàn không có kiểu “ngoại giao chiến lược mềm dẻo” bằng đủ thứ công hàm, ký kết, văn bản với Trung cộng tới hơn nữa thế kỷ qua.

- Về người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ: Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, cầu viện hoàng đế nhà Thanh là Càn Long. Cuối năm 1788, Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân Thanh hộ tống Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa “phù Lê”, vào chiếm đóng Thăng Long.

Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Huệ xuất quân tiến ra Bắc Hà. Để lấy danh nghĩa chính thống, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung.

Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15 tháng 1 năm 1789), tức là chỉ sau 28 ngày, đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp. Sau khi xem xét tình hình, Quang Trung hẹn ba quân ngày mồng 7 Tết sẽ quét sạch quân Thanh, sau khi dẹp giặc thì cho quân đón tết tại Thăng Long [8].

Với những dẫn chứng trên thì kết luận của ông Đằng về lối ngoại giao của chính quyền VN là “thái độ hiền lành” là lối nói giảm nhẹ, còn nói rõ ràng và thẳng thắn là thái độ khiếp nhược, đớn hèn; nó không phải là tinh thần chống giặc ngoại xâm ngàn đời của cha ông ta trong lịch sử 4 nghìn năm dựng nước và giữ nước.

Thứ ba: Đối với tờ báo Đại Đoàn Kết

Tờ báo này lại có một cách thức phản biện khá “đặc sắc” qua bài viết “Khi người bệnh sám hối” của tác giả có tên Hà Trọng Nghĩa [9], người tự giới thiệu “Người viết bài này chưa có dịp gặp ông Lê Hiếu Đằng, nhưng đã vài ba lần gặp ông Trần Bạch Đằng”, đem cái sự giống nhau là cả hai ông cùng tên là Đằng để hy vọng “Trước, vẫn tưởng “hai ông Đằng” nhiều nét tương đồng”. Buồn cười thật, chẳng có cái mối quan hệ gì về tính cách với tên gọi cả nhất là Lê Hiếu Đằng là tên thật, còn Trần Bạch Đằng là bút danh, để rồi khi tác giả Hà Trọng Nghĩa phát hiện ra hai ông Đằng này “không giống nhau” thì tỏ ra “thất vọng”.

Nhà báo Trần Bạch Đằng là một nhà báo nổi tiếng với những phóng sự và sự lăn xả cho nghề, ông sinh ngày 15 tháng 7 năm 1926 — 16 tháng 4 năm 2007, tức là vào thời điểm này ông đã mất cách đây 6 năm 4 tháng. Tôi đã nhiều lần đọc những bài viết của ông, cảm nhận cá nhân đó là nhà báo có tài. Có thể là một cơ duyên chăng khi tôi cũng đã đọc loạt bài Trần Bạch Đằng: cuộc đời và ký ức (5 kỳ) với số đầu tiên ra ngày 03/08/2006 trên báo tuổi trẻ online. Ngoài ra, tôi đã từng đọc quyển sách Đổi mới – Đi lên từ thực tế (NXB Trẻ, 2000), trong đó, nếu ai đã từng đọc sẽ tin rằng ông không hoàn toàn là viết theo định hướng. Ông đã có những bài viết thực sự là chỗ dựa công luận cho người dân oan ức và họ cũng thường tìm tới ông, gửi thư cho ông.

Tác giả nói rằng, đã vài ba lần gặp ông Trần Bạch Đằng, rồi “Trong một lần trò chuyện, ông Trần Bạch Đằng nêu câu hỏi: Nếu không có Đảng Cộng sản thì đất nước mình giờ ra sao? Rồi ông như tự nói với mình: Thì nước ta không giành được độc lập, Bắc – Trung – Nam không phải là con một nhà”.

Ai là người kiểm chứng thông tin trên?

Tôi lần tìm về cái tên nhà báo Hà Trọng Nghĩa trên google, thì ra tác giả này là giảng viên thỉnh giảng thuộc khoa Báo chí Truyền Thông, trường Đại Học Khoa Học Huế, đồng thời là phóng viên báo Đại Đoàn kết. Vừa là nhà báo, vừa là thầy giáo chắc tác giả này hiểu rõ phương pháp sư phạm và phương pháp tác nghiệp báo chí.

Để thuyết phục người nghe, việc tác giả phỏng vấn ngay ông Lê Hiếu Đằng, hay cho rằng bản thân mình đã từng gặp gỡ nhà báo Trần Bạch Đằng những lúc ông nằm trên giường bệnh như thế sao tác giả không có ngay hình ảnh khi đó mà lại mượn hình ảnh của người khác? Sao nhà báo Hà Trọng Nghĩa không có ngay bài báo sau khi gặp ông Trần Bạch Đằng mà phải đợi tới hơn 6 năm sau mới ghi ra những lời tâm huyết của ông mà chỉ có tác giả được nghe? Liệu đó là sự vô tình?

Người Việt có câu “người sắp chết hay nói thật”, tại sao lời trăng chối sắp chết của nhà báo Trần Bạch Đằng thì được cho là “tâm huyết” là “tốt đẹp, xây dựng” còn lời “sám hối” của luật sư Lê Hiếu Đằng lại là  tiêu cực, gán ghép một cách đầy ác ý cho rằng ông Lê Hiếu Đằng muốn “đánh bóng mình”. Nó tàn nhẫn hay bất lương hơn ở chỗ tác giả Hà Trọng Nghĩa đã gán cho luật sư Lê Hiếu Đằng là “tham vọng chính trị” bằng những câu ám chỉ cay độc khi nêu ra ví dụ về mùa xuân Ả Rập rồi phán xét những kẻ tham vọng chính trị kia là nguyên nhân gây ra sự chết chóc, nhà tan cửa nát. Và rằng “để mưu cầu một điều gì đó to tát hơn cho bản thân” mà ông Lê Hiếu Đằng “hy sinh quyền lợi của nhân dân”.

Chưa ai chết trước khi chết!!!

Nếu tác giả Hà Trọng Nghĩa sắp rơi vào cõi chết, liệu tác giả có nghĩ tới những việc làm như “đánh bóng tên tuổi”, rồi vì quyền lợi cá nhân” không?

Sáu năm là một quãng thời gian không phải quá dài nhưng đủ dài để cho bao nhiêu thay đổi có thể xảy ra, trong đó có cả nhận thức. Tác giả Hà Trọng Nghĩa có nghĩ rằng, với một con người vì dân, dám đấu tranh chống lại tham nhũng và hối lộ, lên tiếng cho đổi mới thì biết đâu vào thời khắc này ai có thể dám chắc rằng nếu còn sống nhà báo Trần Bạch Đằng không có khả năng là người kêu gọi đa đảng?

Hà Trọng Nghĩa có thể nói, có thể viết bất cứ điều gì, quy chụp cho luật sư Lê Hiếu Đằng rồi quăng lên báo chí, nhất là tờ báo Đại Đoàn Kết. Thế nhưng sự tin tưởng và phán xét sẽ thuộc về nhân dân. Đừng vì một lý do hay mệnh lệnh nào đó mà có hành động trái đạo, nhất là dựng dậy một người đã chết, mượn hình ảnh hay nhét chữ vào mồm họ để hạ bệ một người sắp chết.

Đó chỉ là hành động của kẻ vô liêm sỉ, không phải là hành xử của một kẻ làm thầy.

T.N.
Tài liệu tham khảo
[7]http://vi.wikipedia.org/wiki/Ngô_Quyền
[8] http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguyễn_Huệ
[9] http://www.baomoi.com/Khi-nguoi-benh-sam-hoi/121/11772519.epi

 Nguồn: Ba Sàm

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

TRUNG NGHĨA: PHẢN BIỆN BÀI VIẾT TRÊN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Phản biện lại bài viết 
"ĐÔI ĐIỀU VỚI TÁC GIẢ BÀI “VIẾT TRÊN GIƯỜNG BỊNH”
Trung Nghĩa

Phản hồi cho ông/bà Trọng Đức, tác giả của bài viết được đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân điện tử ra ngày chủ nhật 18/08/2013 trong mục chính luận với thông cáo “Làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình”. *

Tôi đã nhiều năm không đọc báo QĐND. Hôm nay thông qua diễn đàn mạng tôi được biết đến bài báo của tác giả Trọng Đức (có lẽ là một bút danh) mà khi đọc bài viết tôi không khỏi bức xúc. Tôi cũng tự đặt ra một bút danh cho mình để phản hồi cho bài viết này vì bản tính tôi là nhút nhát, sợ bị “nổi tiếng”. Tác giả bàn về những luận chứng nhằm phủ nhận người khác nhưng có vẻ như tác giả quá yếu kém khi đưa ra một ví dụ lệch lạc, không hiểu những luận cứ chủ thuyết của Marx, giải thích một cách lèo lái, gượng ép để phủ nhận những ý kiến của ông Lê Hiếu Đằng.

Tôi chỉ xin đi vào từng mảng lập luận mà tác giả Trọng Đức đề cập:

Thứ nhất: Tác giả Trọng Đức nhắc tới một chi tiết “ông Lê Hiếu Đằng có nhắc đến “một kỷ niệm khó quên”. Đó là việc khi ông đang bị chính quyền Thừa Thiên – Huế (dưới chế độ cũ) “cầm tù”, nhờ có lá đơn của bố ông nên ông được “cho ra tù” để đi thi”.

Ông Đằng cho rằng “Tôi không biết với chế độ được gọi là “ưu việt” hiện nay có người tù nào đã được cho ra đi thi như chúng tôi hay không?”

Để rồi sau đó Trọng Đức phủ nhận cái ý kiến của một người từng sống ở hai chế độ, từng đấu tranh để xây dựng nên nền móng chính quyền của nhà nước XHCN này bằng cách nêu ra một trường hợp về chàng trai Phan Hợi (sinh năm 1983, quê ở Sơn Quang, Hương Sơn, Hà Tĩnh) thi đỗ đại học sau khi ra tù để phủ nhận ý kiến của ông Đằng rằng chế độ hiện nay không bằng chế độ Việt Nam Cộng hòa trước kia.

Nó buồn cười ở hai điểm:

- Ông Lê Hiếu Đằng khi đó là một tù nhân chính trị, còn chàng trai Phan Hợi lại là một tù nhân hình sự phạm tội vì ăn cắp và chiếm đoạt tài sản của cá nhân hay tổ chức khác có chủ ý.

- Ông Đằng được tha để đi thi đại học sau lá đơn của bố ông, tức là ông vẫn đang thời gian bị giam cầm. Còn Phan Hợi thì sau khi mãn hạn tù một thời gian, anh ta mới thi đại học. Khi mãn hạn tù thì việc anh Hợi có đầy đủ quyền của một công dân, anh ta thi đại học cũng không có gì là bất thường. Báo chí nêu trường hợp của anh Hợi có lẽ không ngoài mục đích để khuyến khích những người sai lầm tội lỗi đứng lên và làm lại cuộc đời.

Tác giả ngây thơ một cách đến ngờ nghệch khi đưa ra một ví dụ sai khác về bản chất của sự việc nhằm biện minh cho chủ kiến chế, độ chính trị hiện nay của Việt Nam cũng “ưu việt” khômg kém các chế độ chính trị các nước khác về tính nhân văn. Thế mà tác giả Trọng Đức lại quên ngay một vụ án nghiêm trọng, gây nên những cơn bão dư luận trong nước và thế giới: đó là vụ án hai em sinh viên Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha bị bắt khẩn cấp như một hình thức bố ráp/bắt cóc mà không hề có lệnh bắt trong lúc các em vẫn đang là sinh viên ngồi ghế giảng đường. Suốt cả hai phiên toà, từ thẩm phán tới chủ toạ không một ai nhớ ra rằng nếu các em bị giam cầm thì nó ảnh hưởng nghiêm trọng tới tương lai của các em, phải chăng họ đã quên?

Thứ hai: Tôi phải phì cười khi tác giả Trọng Đức viết “cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng gắn bó với nhau theo hình chóp xuôi. Không phải cơ sở hạ tầng có cái gì thì kiến trúc thượng tầng cũng phải có cái ấy”. Cách lập luận đến ngô nghê chẳng những yếu kém về cách diễn đạt mà nó sai một cách cơ bản về kiến thức.

Xin tác giả Trọng Đức hãy nhớ: khi bàn về vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng, Marx đã viết:

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt của đời sống xã hội, chúng thng nhất biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng.

Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng trước hết thể hiện ở: mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng với nó.

Tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng tầng như nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo, v.v. đều trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định”

Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng còn thể hiện ở chỗ: cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn, kiến trúc thượng tầng cũng phải thay đổi theo.

Karl Marx đã khẳng định chắc chắn trong quyển tư bản “cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng”.

Ngoài ra, tác giả Trọng Đức kém cỏi đến mức nực cười khi viết.

Điều đó không có nghĩa (cũng chẳng có nước nào cho phép) nhất thiết phải tồn tại “Đảng của những người làm trong khu vực kinh tế nước ngoài” để bảo vệ quyền lợi cho thành phần kinh tế ấy.

Đâu phải có một đảng của những người làm trong khu vực kinh tế nước ngoài mới bảo vệ được quyền lợi của họ mà chỉ cần một tổ chức, một hiệp hội các doanh nghiệp nước ngoài cũng đã bảo vệ được họ nếu họ bị xâm phạm quyền lợi. Hoặc đơn giản hơn, họ sẽ tự bảo vệ mình bằng cách rút vốn, ngừng hoạt động kinh doanh tại Việt Nam nếu họ thấy họ không được bảo vệ bằng các luật doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài. Điều đó đang diễn ra một cách ào ạt tại Việt Nam, nó càng khẳng định rõ hơn, những chính sách và những “lắt léo” khó nói thành luật về quản lý của Việt Nam có vấn đề.

Trong bản tuyên ngôn mà ông Hồ Chí Minh đã đọc “mọi người sinh ra có quyền bình đẳng” thế nhưng việc duy trì một đảng lãnh đạo độc tài suốt bao nhiêu năm qua đã vi phạm tuyên ngôn ấy.

Ông Trọng Đức viết “Quốc hội Việt Nam do toàn thể nhân dân Việt Nam bầu ra để thay mình thực hiện quyền lực Nhà nước. Do vậy, quyết định của Quốc hội thể hiện tâm tư, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân”

Đây là điều sai sự thật. Người dân Việt Nam chưa hề có được quyền tự do dân chủ thực sự, dùng lá phiếu của mình để bầu người đại diện cho mình. Đơn cử là đại biểu quốc hội hiện nay với hơn 90 % là đảng viên đảng công sản, khi mà tổng số đảng viên của tổ chức này chỉ chiếm 4,3% dân số Việt Nam, như thế làm sao đại diện cho đại đa số người dân Việt Nam? Vì thế kết luận của tác giả “Việc duy trì Điều 4 Hiến pháp năm 1992 theo quyết định của Quốc hội, do vậy, cũng thể hiện đúng nguyện vọng của nhân dân” là hoàn toàn ngụy biện và sai trái, nó chỉ duy trì quyền lợi của đảng CS và những thành viên của đảng mà thôi.

Tác giả viết “Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước vững mạnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đem lại những quyền lợi cơ bản cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động.” Đây là một luận điểm sai trái và ngụy biện tiếp theo.

Ngay chính quyền VN các cấp đều thừa nhận kinh tế VN đang khủng hoảng, nợ nước ngoài theo bác cáo của chính phủ VN là 56% GDP, còn theo báo cáo của thế giới là 102% GDP. Bình quân, một người dân Việt Nam từ già tới trẻ gánh một khoản nợ 860 USD do sự quản lý yếu kém của chính phủ gây ra. Chính ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thừa nhận trong phiên họp diễn ra tại hội nghị Trung Ương 6 “Tôi còn 3 ngày nữa là tròn 51 năm tôi theo Đảng, chịu sự lãnh đạo quản lý của Đảng. Trong 51 năm qua tôi không xin với Đảng cho tôi nhận chức vụ gì. Là một cán bộ Đảng viên, tôi đã nghiêm túc báo cáo với Bộ chính trị, Ban chấp hành trung ương Đảng. Tôi nghĩ Đảng hiểu tôi, tổ chức hiểu tôi. Đảng đã quyết định phân công tôi làm Thủ tướng Chính phủ, Quốc hội bỏ phiếu bầu làm Thủ tướng và tôi sẵn sàng chấp nhận. Gần cả cuộc đời theo Đảng, tôi không có chạy, tôi cũng không có xin, tôi cũng không có từ chối thoái thác nhiệm vụ gì mà Đảng và nhà nước phân công”.

Rõ ràng quốc hội Việt Nam hiện nay thực tế không phải là ý chí và nguyện vọng của người dân mà là ý chí của Đảng. Bằng lý lẽ trên, Đảng phân công ông Dũng làm thủ tướng, rồi quốc hội của Đảng lại bầu cho ông ta. Đảng đã sai phạm trong việc lấn quyền hạn của nhà nước khi phân công người điều hành chính phủ, chứng tỏ đảng làm thay việc của nhà nước. Ông Thủ tướng Dũng là do đảng chỉ định làm thủ tướng để điều hành nền kinh tế, vì vậy việc suy thoái và lao dốc nền kinh tế hiện nay là lỗi của đảng cộng sản, hay nói một cách khác đi, Đảng quá yếu kém khi dùng sai người.

Thứ ba: tác giả Trọng Đức viết:

“Bất cứ sự kích động chiến tranh nào trong khi vẫn còn những lựa chọn giải pháp ngoại giao đều đi ngược lại truyền thống ngoại giao của cha ông, đi ngược lại lợi ích của đất nước, của dân tộc”

Mềm mỏng hoàn toàn khác với khiếp ngược. Chúng ta chỉ mềm mỏng khi biện pháp đó hiệu quả cho việc bảo vệ lãnh thổ biên giới hải đảo, còn một khi kẻ thù vẫn ngoan cố xâm lược thì dân tộc ta “quyết đánh”. Chẳng lẽ tác giả đã quên rồi sao tinh thần của hội nghị Diên Hồng?. Xn nhắc lại một chút về lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, từ chống quân Hán thời Hai Bà Trưng, tới chống quân Nguyên thời Trần hay chống quân Minh thời hậu Lê, đó có phải là kích động chiến tranh không thưa ông/bà Trọng Đức? Chính ông Hồ Chí Minh đã đọc lời hiệu triệu toàn quốc kháng chiến “chúng ta đã nhân nhương nhưng càng nhân nhượng thực dân pháp càng lần tới. Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước”.

Với thái độ hung hăng leo thang của Trung Quốc trong việc xâm chiếm biển đảo và đất liền của Việt Nam mà cả thế giới lên án, từ sự kiện cưỡng chiếm Hoàng Sa 1974; chiến tranh biên giới, 1979; cưỡng chiếm Trường Sa 1988, cắt cáp Tàu Bình Minh 2, Virking; xây lô cốt trên vùng biển đảo của Việt Nam……t hì đã gọi là một sự cố tình xâm lược chưa thưa ông Trọng Đức cùng tờ báo QĐND?

Sự “mềm dẻo” theo cái nghĩa như ông Trọng Đức nói, không hề hợp lòng dân, người dân chúng tôi liên tục xuống đường biểu tình chống Trung Quốc dù bị chính quyền đàn áp, khủng bố; bắt chấp bắt bớ tù đầy.

Cái “truyền thống ngoại giao” mà ông Trọng Đức nói ra nó qua xa lạ với truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Thứ tư: Tác giả cho rằng không cần tam quyền phân lập, nếu phủ nhận việc phải phân định rõ ràng tam quyền phân lập, thì nó không khác kiểu vừa đánh trống, vừa thổi còi. Tất cả mọi thứ quyền lực phải được kiểm soát để kiểm tra lẫn nhau.

Khi phủ nhận quyền được tự do, tác giả viết: “Thiết nghĩ, nếu nói cho đúng hơn phải là “con người khác con vật ở chỗ biết xác lập quyền tự do trong khuôn khổ có sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung của cộng đồng, của dân tộc và của nhân loại”.

Hãy thử nhìn lại xem hiện nay đã có sự hòa hợp giữa lợi ích của công đồng người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam với lợi ích của  nhân loại hay chưa?

Ông Trọng Đức lại một lần nữa ngu ngơ và giả vờ đánh tráo khái niệm về tự do “con người khác con vật ở chỗ là có tự do”. Con người có xã hội, có văn hoá có pháp luật. Không ai đòi hỏi cái tự do của một con vật cả, điều đó có nghĩa đương nhiên tự do phải theo khuôn khổ pháp luật. Có lẽ ngoại trừ các nước như giống Việt Nam như Bắc Hàn hay Trung Quốc ra thì không có một quốc gia nào, con người có thể  bị tù đày bắt bớ đánh đập chỉ vì họ dám viết, dám nói những cái sai trái của chính quyền hay của các nhân vật chính trị bằng những điều như 258 bộ luật hình sự hay nghị định 72 của chính phủ sắp có hiệu lực. Ai đã xây dựng và ban hành những điều luật đó, chắc chắn không phải là ý chí của nhân dân Việt Nam.

Xã hội loài người ngoài hệ thống luật pháp rằng buộc hành vi, còn có những nhân tố bất thành luật kiểm soát hành vi của con người như văn hóa làng xã, chuẩn mực đạo đức xã hội tham gia. Việc một con người bình thường tự nhiên cởi truồng đi rong ngoài phố, nếu xét về luật anh ta không vi phạm luật pháp vì anh ta không phải diễn viên, nhưng người bình thường không ai làm thế. Một kẻ cho vay lấy lời một người bệnh sắp chết, dù không phạm luật nhưng cũng sẽ bị công đồng lên án về đạo lý. Nói một cách khác con người còn khác con vật là họ biết xấu hổ, biết nhục khi chuẩn mực đạo đức/hành xử của họ bị dân chúng trong nước, bị cộng đồng quốc tế phản đối và tẩy chay.

Tất cả những luận cứ mà tác giả đưa ra, với cá nhân tôi chưa có sức thuyết phục. Với cảm nhận cá nhân, có lẽ chính tác giả Trọng Đức chưa đọc hết về chủ nghĩa Marx để thấy hết những cái hay cái dở của nó, lý luận mà ông ta đưa ra quá yếu kém, thậm chí ngô nghê ở một cây bút về mảng chính luận của một tờ báo lớn như QĐND

Tôi xin bàn vài vấn đề rất nhỏ để thấy sự sai lầm cũng như tính mâu thuẫn của chủ nghĩa Marx.

Marx vận dụng ba phát minh vĩ đại nhất của loài người ở thế kỷ 19 là học thuyết tế bào, định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượnghọc thuyết tiến hóa để làm cơ sở cho luận chứng đưa ra.

- “Marx cho rằng lượng biến đổi sẽ dẫn đến biến đổi về chất và ngược lại”, ý tưởng này do thuyết tế bào ghi “tế bào luôn sinh ra từ tế bào có trước” điều đó hiểu theo một cách đơn giản có nghĩa là, khi tế bào lớn lên về thể tích, gia tăng vật liệu di truyền thì chính màng/vách tế bào sẽ trở nên chật trội và phải cho ra tế bào mới. Nếu điều đó không xảy ra, tế bào sẽ chết. Thế nhưng, việc phân tích sự thay đổi/biến đổi về cơ sở hạ tầng sẽ phải đưa đến sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng ngay trong lòng chủ nghĩa xã hội là gì, Marx đã “quên”.  Học thuyết Marx không dạy học trò của mình rằng vẫn giữ nguyên chiếc áo chật chội kiến trúc thượng tầng (mô hình xã hội) khi cơ sở hạ tầng đã biến đổi thì phải làm gì.

- Marx đưa ra giá trị khái niệm thặng dư, cho rằng giới tư bản bóc lột công nhân vì chiếm đọat giá trị thặng dư. Điều này là sai lầm khi Marx cào bằng mọi đóng góp của mọi bộ óc con người. Năng lực trí tuệ của mỗi cá nhân không giống nhau vì vậy họ phải được hưởng những kết quả không giống nhau cũng là lẽ thường. Những con người mà Marx gọi là tư sản bóc lột kia, họ làm giàu cho họ và được cả thế giới biết ơn. Với quan niệm của Marx thì những cái đầu khổng lồ như Bill Gates, Mark Zuckerberg là những kẻ đại bóc lột.

- Một điều trở nên mâu thuẫn quá hiển nhiên của Marx nữa là: Marx dùng quy luật đấu tranh sinh tồn trong học thuyết tiến hoá của Darwin làm nền tảng cho lập luận đấu tranh giai cấp. Trong học thuyết tiến hóa, Darwin đã chỉ rõ, đấu tranh sinh tồn luôn luôn diễn ra, tùy thời điểm, tùy hoàn cảnh mà mức độ mạnh hay yếu, nó chính là động lực cho sự phát triển của sinh giới. Chính chọn lọc tự nhiên giúp cho sinh giới chọn lọc được những cá thể, những loài ưu việt nhất mà đỉnh cao của quá trình đó chính là con người.

Nếu áp dụng quy luật này vào nền kinh tế thì việc cạnh tranh/thậm chí là đấu tranh với nhau chính là động lực phát triển và quy luật thị trường, sự chọn lựa của chính nhu cầu thị trường giúp sàng lọc lại những sản phẩm/dịch vụ tốt nhất

Thế nhưng nhà nước và chính quyền VN lại “tiến hành một phép lai khác loài” để đưa ra một mô hình “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” một khái niệm xa lạ thậm chí lố bịch trong con mắt các nhà chuyên môn trên thế giới.

Sự đấu tranh luôn luôn diễn ra thậm chí trong từng mặt của vấn đề hay trong bản thân một cá nhân.

Thế nhưng Marx lại cho rằng, khi tiến tới Chủ nghĩa cộng sản thì mọi mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp bị thủ tiêu.

-  Về quan niệm vật chất quyết định ý thức Marx viết “Vật chất quy định ý thức”. Theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật quan hệ giữa vật chất và ý thức được viết như sau “vật chất có trước, ý thức có sau” tuy nhiên nó không phải là quan điểm một chiều, nó khác hoàn toàn với quan điểm “chỉ có vật chất mới quy định ý thức”.

Sau đó chính Lê Nin đã bổ sung cho tiền đề này khi ông tuyên bố:

“Vật chất có thuộc tính quy định ý thức. Ý thức có thuộc tính quy định vật chất”. Theo tôi, đây là câu hoàn chỉnh. Đơn giản chúng ta hãy tưởng tượng công việc của một nhà thiết kế, hay một họa sỹ vẽ tranh trìu tượng, tác phẩm của họ có được, là những bức tranh (vật chất) hoàn tòan được xây dựng từ ý tưởng (ý thức). Tuy nhiên khi vận dụng quan điểm này vào Việt Nam, những học trò của Marx có dòng máu Lạc Rồng này chỉ nói đến quan điểm khởi đầu của Marx là “chỉ có vật chất quyết định ý thức” để thể hiện quan điểm duy vật triệt để.

Còn rất nhiều điều về những sai lầm cũng như những vận vận dụng thiếu khoa học trong học thuyết của Marx, tuy nhiên nó lại là những khía cạnh hơi sâu về kinh tế, quản lý vĩ mô, về chính sách công mà những người ngoại đạo hơi khó hình dung nên tôi không tiện bàn.

Chỉ xin nhắc tác giả Trọng Đức nhớ rằng, phản biện hoàn toàn khác với ngụy biện. Việc non nớt trong lý luận và dẫn chứng mà tác giả đưa ra nó không những không thuyết phục người nghe mà nó còn làm cho người ta khinh ghét xem thường khi tác giả cố tình đưa ra những điều sai trái và mâu thuẫn cũng như bày biện khả năng suy diễn lệch lạc.

Hãy nằm lòng trong đầu “mọi học thuyết, lý thuyết chỉ để nghiên cứu còn việc chứng minh nó là phần việc của thực tiễn. Tính đúng đắn của học thuyết Marx, của mô hình xã hội chủ nghĩa, của việc một đảng độc tài lãnh đạo nó được chứng minh qua lịch sử phát triển của nhân loại bằng sự sụp đổ có hệ thống của CNXH ngay từ cái nôi nó ra đời và hiện trạng nền kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam hiện nay”. Đó là minh chứng hùng hồn nhất, mạnh mẽ nhất, thuyết phục nhất, chứ không phải là mấy bài báo định hướng như của ông/ bà đâu.

Có lẽ đã đến lúc những cơ quan về văn hóa, tư tưởng, chính trị nhằm định hướng dư luận cũng nên thay đổi não trạng về khả năng nhận thức và phải biện của độc giả là giới bình dân trong thời điểm này.


Nguồn: Ba Sàm

Ý kiến của độc giả Nguyễn Văn Nam:Tác giả sao chỉ tính nợ nước ngoài của Việt Nam ?? Vậy Nợ trong nước thì cãi xóa hay sao? Tổng cộng nợ trái phiếu quốc gia, tính tới cuối tháng 12 năm ngoái, là 499,6 ngàn tỷ đồng, tức khoảng 25 tỷ USD.

Năm nay, tính tới vài ngày trước, nợ trái phiếu
quốc gia tăng THÊM 112 ngàn tỷ đồng, tức 5,6 tỷ USD:
http://vietstock.vn/2013/06/ky-luc-m...785-300200.htm

Như vậy, tổng cộng nợ TRÁI PHIẾU mà thôi, đã lên tới 611,6 ngàn tỷ đồng, tức khoảng 30,58 tỷ USD.

Ngoài ra, tính tới cuối năm 2011, "tổng số vốn vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài khoảng 71,7 tỷ USD":
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/95...55-4--gdp.html

Chỉ 2 nguồn trên đã là 102,28 tỷ USD. 

 
- Ngoài ra còn nợ nước ngoài nhiều tỷ USD trong nhiều món nợ không thuộc ODA, diện ưu đãi.
- Chưa tính nợ từ các thành phố phát hành trái phiếu,
- nợ từ các cty, tập đoàn quốc doanh nay 1,33 triệu tỷ đồng (66 tỷ USD).
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/viet...ies_debt.shtml

Tính 3 nguồn trên: (1) nợ trái phiếu, (2) nợ ngoại quốc DIỆN ƯU ĐÃI, (3) nợ từ tập đoàn, Cty quốc doanh, thì nợ công VN hiện đang là 168 tỷ USD.

Làm tròn số, đó là 170 tỷ USD.
Mỗi người dân Việt Nam đến thời điểm này phải trả nợ 2000 USD