Hiển thị các bài đăng có nhãn Khiếu kiện đất đai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khiếu kiện đất đai. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

MỘT CHỦ TRANG TRẠI TRẮNG TAY SAU MỘT "TRẬN CÀN TIÊN LÃNG"

Từ chủ trang trại điển hình phải trở về tay trắng

SGTT.VN - Doanh nhân ấy có biệt danh là Tiềm “điên” với tên thật là Nguyễn Văn Tiềm, người dám đi vay hàng trăm triệu đồng vào năm 1998 chặn dòng một con suối ở sông Ông, Ninh Thuận tự mình làm thuỷ điện. Từ sức người, ông biến một vùng cằn cỗi mà chính dân địa phương còn thừa nhận là “chó ăn đá, gà ăn sỏi” thành xưởng sản xuất nước đá, khu du lịch sinh thái theo mô hình trang trại nổi tiếng khắp nơi.

Tuy nhiên, trang trại ấy, phần lớn đã bị quy hoạch, bởi những quyết định lạnh lùng, lấy đất cho một doanh nghiệp khác làm thuỷ điện. Doanh nhân Nguyễn Văn Tiềm đi lên từ chân đất giờ trở về với chân đất. Gặp chúng tôi vào những ngày giữa tháng 6, ông Tiềm cho biết sẽ tiếp tục khiếu nại vì hy vọng sẽ đòi được công bằng theo suy nghĩ của mình. Như bao vụ giải toả khác, chuyện của ông Tiềm cũng để lại cho chúng tôi nhiều suy nghĩ, ngậm ngùi khi mồ hôi nước mắt và tâm huyết của cả đời người bỗng chốc tan tành.

Ông Tiềm thẩn thờ bên đống hoang tàn.

Nỗi đau bên dòng suối Thương

Con suối mà ông Tiềm chặn dòng tên gọi suối Thương. Nhà ông cũng dựng cạnh suối nhưng những tiếng nước chảy róc rách ngày xưa không còn. Vẫn còn đôi tay to bè và cái vóc dáng to lớn gù gù như gấu nhưng tiếng cười hào sảng của ông hôm nay không còn nữa. Ông kể: “Hồi xưa lúc tôi ăn nên làm ra, báo chí tới đây nhiều lắm và tôi cũng không tiếc thứ gì. Nhưng giờ thì…”

Ngày xưa của ông cách đây khoảng 14 năm với ba giai đoạn mà nói theo ông là chưa “lên voi” đã “xuống chó”. Đợt đầu tiên, từ năm 1998 – 2000, gia đình ông Tiềm vào thôn La Vang, xã Quảng Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận làm “chuyện không tưởng” là lấy sức người chặn dòng suối Thương để tạo ra một trang trại kiểu mẫu, lái dòng nước thành hồ chứa nuôi cá, chạy máy phát điện làm nước đá. Hai năm trời cả gia đình Nguyễn Văn Tiềm quần quật với biết bao mồ hôi, bao vết sẹo trên người để tạo ra doanh nghiệp Hồng Ân.

Từ năm 2000 – 2004, doanh nghiệp Hồng Ân với trang trại kiểu mẫu và chủ nhân sản xuất giỏi đến nỗi báo đài địa phương lẫn Trung ương nườm nượp tìm đến viết về gương sản xuất điển hình, có tác phẩm đạt giải bạc liên hoan truyền hình toàn quốc. Những chiếc đĩa CD hay hình ảnh trang trại kiểu mẫu của một thuở huy hoàng được ông Tiềm giữ gìn kỹ lắm. Với ông, nó là sự ghi nhận về một thời cực nhọc nhưng tự hào của gia đình mình, nhưng cũng là sự nhắc nhở về nhân tình thế thái hôm nay…

Trong hồ sơ đất đai của Nguyễn Văn Tiềm được cấp ghi rõ giao 32.262m2 (gồm hai sổ đỏ) trồng cây lâu năm với thời hạn 50 năm. Tuy nhiên, khi thu hồi 23.622/32.262m2 đất vào ngày 30.1.2004 thì chính quyền lại ghi trong biên bản chủ yếu là bồi thường đất trồng cây hoa màu. Trang trại của doanh nghiệp Hồng Ân từng được một đối tác tại Khánh Hoà định giá 10 tỉ đồng nhưng ông Tiềm không đồng ý bán. Khi thu hồi đất, hội đồng bồi thường huyện Ninh Sơn của tỉnh Ninh Thuận ra văn bản bồi thường cho ông Tiềm 785 triệu đồng. Ông Tiềm khiếu nại thì UBND tỉnh nâng mức bồi thường lên 1,7 tỉ đồng (văn bản số 158 ngày 23.6.2006) và đề nghị gia đình Nguyễn Văn Tiềm khởi kiện hành chính.
.
Giai đoạn thứ ba bắt đầu từ ngày 30.1.2004, ngày UBND tỉnh Ninh Thuận ra quyết định thu hồi đất của ông Tiềm và một số hộ dân khác để giao cho công ty 76 (sau đó công ty này không đủ năng lực tài chính nên đã bán dự án cho một đối tác khác để làm công ty cổ phần thuỷ điện Sông Ông). Mặc cho gia đình ông Tiềm khiếu nại, trưng ra những giấy tờ, bằng chứng nhưng chính quyền vẫn nhất quyết cưỡng chế. “Hôm đó họ dẫn theo công an, dân phòng đông lắm, chẳng khác gì vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng. Chỉ khác một điểm tôi đã cố nén để không liều mạng...”, ông Tiềm nhớ lại. Cơ nghiệp ấy phút chốc tan tành.

Hy vọng mong manh

Từ đó đến nay, ông Tiềm vẫn miệt mài gửi đơn khiếu nại từ xã lên huyện, ra tỉnh rồi ra cả Trung ương. Thanh tra Chính phủ cũng đã vào cuộc nhưng kết luận đưa ra không làm ông thoả lòng. Ông vẫn tin rằng công lý rồi sẽ đến vào một ngày nào đó dù trang trại xưa giờ chỉ gói gọn trong một tính từ: hoang tàn! Phần lớn đất bị thu hồi, phần còn lại chẳng làm gì được vì không còn nguồn nước. Ông nói chính việc thuỷ điện Sông Ông chặn dòng suối Thương đã “giết chết” gia đình mình. Nhà máy thuỷ điện nhỏ của ông lập tức phải ngừng hoạt động vì không có nước, nhà máy nước đá đóng cửa theo sau vì không điện. Hàng chục tấn cá và vườn cây ăn trái cũng chết theo vì thiếu nước. “Họ chặn dòng mà không thông báo, cũng không có biện pháp khắc phục hậu quả nên đã đẩy doanh nghiệp Hồng Ân chúng tôi đến chỗ phá sản. Nhưng xét đến cùng là do chính quyền...”, ông Tiềm nhận định.

Cơ ngơi một thời giờ là phế tích. 

“Tôi là một trong những doanh nghiệp đầu tiên ủng hộ chủ trương thu hút đầu tư của UBND tỉnh Ninh Thuận nhưng sau những hứa hẹn ban đầu, họ đã bội ước”, ông Tiềm bức xúc. Mỗi mét vuông đất của ông và người dân khu vực quy hoạch thuỷ điện chỉ được bồi thường từ 1.000 – 1.500 đồng, mức giá mà thời điểm đó chỉ đủ mua được ổ bánh mì không nhân. “Trong sổ đỏ mà UBND huyện Ninh Sơn cấp chứng nhận quyền sử dụng đất ghi rõ thời hạn 50 năm đối với gia đình tôi. Tin điều đó, chúng tôi đã bỏ công sức tiền của đầu tư làm đường, trồng cây, đắp đập ngăn suối… nhưng rồi họ bội tín khiến cả cơ nghiệp tan tành”, ông Tiềm nghẹn ngào.

Ông Tiềm kể lại: Chính quyền cấp xã, cấp huyện rồi cấp tỉnh rồi đoàn đại biểu Quốc hội mời tôi lên đối thoại nhưng chỉ có tôi trình bày những nguyện vọng và trình những chứng cứ hợp pháp của mình. Tất cả đều im lặng ngoại trừ câu giới thiệu lý do buổi đối thoại và câu tuyên bố kết thúc cuộc làm việc. Trong đợt cưỡng chế, gia đình phản đối thì đại diện UBND tỉnh Ninh Thuận nói sẽ chờ xem xét, trong quá trình đó cơ quan chức năng không được tiến hành phá dỡ. Nhưng “lời nói gió bay”, công an huyện áp cả gia đình ông Tiềm lên tạm giữ, đến khi phá dỡ xong mới cho về. “Gia đình tôi đi phát triển kinh tế cho xã, cho huyện, cho tỉnh tại sao lại đối xử với chúng tôi như kẻ đi cướp, bắt chúng tôi đến sáu lần?”, ông Tiềm bức xúc.

Ông Tiềm cho biết sẽ tiếp tục khiếu nại vì còn tin vào các nghị quyết của Đảng. Ông không kiện ra toà vì có kiện cũng chẳng có xu nào để đóng án phí. Chia tay ông Tiềm, bóng dáng ông gù gù như gấu, bàn tay to bè vịn vào thành sắt bước qua cây cầu ván gỗ mục nát như cái cơ ngơi hoang phế bây giờ của ông. Nếu không có thuỷ điện, không có những quyết định thu hồi đất lạnh lùng, có lẽ ông vẫn là một điển hình sản xuất giỏi.

Bài và ảnh: Mai Quốc Ấn
Nguyễn Văn Tiềm từng làm công nhân ở trạm bơm nước Quảng Sơn. Tháng 9.1998, trong tay chỉ có chưa đầy 5 triệu đồng tiền vốn, ông mua khoảng đất ven suối Thương. Ðây là vạt đất bỏ hoang, người ta vừa bán vừa cho với giá 1 triệu đồng. Sau khi có đất và được giao đất, lựa thế suối nước dồi dào, ông Tiềm khởi sự ý tưởng bằng một nhà máy thuỷ điện tự tạo để mở cơ sở sản xuất nước đá. Ông mời các chuyên gia ở các nhà máy thuỷ điện Thác Mơ, Ða Nhim, Trị An về tính toán đo, đặt máy phát và tự tay mình lắp đặt, xây dựng hệ thống máy phát. Ngày 20.11.2001, nhà máy nước đá đã cho ra 200 cây đá đầu tiên. Mỗi tháng gia đình ông có thu nhập từ nhà máy nước đá khoảng 30 – 40 triệu đồng. Bên cạnh nhà máy thuỷ điện, ông còn đào được 12 hồ cá bậc thang, sau sáu tháng, có con trắm cỏ đã lên đến 1,5kg. Những giống cây trái tưởng khó chịu nổi cái đất này, đặc biệt là xoài cát Hoà Lộc, sapôchê, chôm chôm và hàng ngàn gốc chuối, thơm, bơ đã phát triển và cho hoa đậu quả sum suê. Lúc đó, dù chưa trở thành một khu du lịch danh chính ngôn thuận nhưng ngày nào cũng có vài chục lượt khách đến tham quan. Những ngày lễ, khách thập phương tìm đến suối Thương tham quan có khi lên đến hàng 400 – 500 người. Có hôm, xe hơi về đậu chật cả lối vào trang trại. Ông chủ trang trại này không thu tiền tham quan mà chỉ lặng lẽ chằng dây ngồi… giữ xe!

Thanh tra Chính phủ cho rằng, trong quá trình sử dụng đất, hộ ông Tiềm đã tự ý xây dựng nhà máy nước đá, cũng như không xin phép, nộp thuế đối với sử dụng nguồn nước để vận hành trạm thuỷ điện là vi phạm các quy định về pháp luật, nhưng vẫn được tỉnh Ninh Thuận xem xét, bồi thường... Điều này thể hiện sự quan tâm của chính quyền địa phương. Căn cứ các quy định hiện tại, theo Thanh tra Chính phủ, các khiếu nại của ông Tiềm về thu hồi đất, giá trị bồi thường đất, tài sản... là không có cơ sở để xem xét giải quyết. Trong khi đó, theo ông Tiềm, doanh nghiệp Hồng Ân được cấp phép đăng ký kinh doanh hẳn hoi và nhà máy nước đá Hồng Ân cũng được cấp chứng nhận đăng ký thuế.
T.L
  Nguồn: SGTT

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

TS. Vũ Quang Việt: SỞ HỮU ĐẤT ĐAI VÀ ỔN ĐỊNH XÃ HỘI



SỞ HỮU ĐẤT ĐAI VÀ ỔN ĐỊNH XÃ HỘI
Khi sở hữu tư nhân đất đai không được chấp nhận thì nó tiếp tục là mầm mống
tạo bất ổn xã hội và điều này sớm hay muộn cũng sẽ phải giải quyết.   

Vũ Quang Việt 

Khi sở hữu tư nhân đất đai không được chấp nhận thì nó tiếp tục là mầm mống tạo bất ổn xã hội và điều này sớm hay muộn cũng sẽ phải giải quyết. Lý do đơn giản là đất đai là nguồn tài nguyên và nguồn sống của nông dân chiếm tới 70 % người dân Việt Nam. Các nhà lý thuyết “ xã hội chủ nghĩa ” hiện nay cho rằng đất đai cũng như hầm mỏ là một loại tài sản do thiên nhiên ban tặng, không thể tự tái sinh nên không thể tư hữu hóa mà phải là “ sở hữu toàn dân ”. Tài nguyên thiên nhiên không do con người làm ra như hầm mỏ, bầu trời, sông biển thuộc sở hữu nhà nước là điều hợp lý, dù rằng có nước công nhận sở hữu tư nhân nằm dưới đất tư hữu. Nhưng đất đai khác với các tài nguyên thiên nhiên khác vì chúng có lịch sử lâu đời về khai phá, được sử dụng và công nhận rộng rãi bởi cộng đồng và luôn gắn liền với tư nhân, dưới hình thứ sở hữu cá nhân (dân đinh, vua chúa) và tập thể (như cộng đồng làng xã). Chỉ từ khi có việc nhân danh “ chủ nghĩa xã hội ” đất đai mới bị coi là “ sở hữu toàn dân ” nhưng về thực chất “ toàn dân ” không có quyền gì. “ Sở hữu toàn dân ” thật ra là một ý niệm tiếm danh (misnomer), ngoa ngữ bởi vì thực chất nó là sở hữu nhà nước. Không có việc “ toàn dân ” có quyền gì ở đây mà là quyền của những người cầm quyền. Bài viết này nhằm phân tích quyền sở hữu và quyền sử dụng và nêu ra những khả năng bất ổn xã hội có thể mang đến khi quyền tư hữu đất đai không được công nhận.

Trước tiên hãy bàn về quyền sở hữu, rồi bàn đến quyền sử dụng và sau đó là ảnh hưởng của các cách xử lý khác nhau. 

1. Quyền sở hữu đất 

Quyền sở hữu gồm những quyền được chấp nhận rộng rãi và được pháp luật bảo về ở hầu hết mọi nước: 

a. Quyền sử dụng vĩnh viễn 
b. Quyền thụ hưởng mọi lợi ích kinh tế và phi kinh tế mà tài sản sở hữu mang đến 
c. Quyền chuyển nhượng (bán, cho thuê, hoặc cho không) 
d. Quyền cấm người khác xâm phạm sở hữu.

Các quyền thuộc quyền sở hữu ở bất cứ nước nào cũng bị hạn chế bởi luật pháp như luật quy hoạch (đất nông nghiệp không được đem xây nhà cho thuê chẳng hạn), luật bảo vệ môi trường, và trong trường hợp vì lợi ích chung, ở mọi nước nhà nước có thể nhân danh quyền eminent domain để trưng thu, v.v. Trong trường hơp đem bán hoặc bị trưng thu, thì việc chuyển nhượng sẽ dựa vào giá trị của chúng. Giá trị này về mặt kinh tế cũng phải phản ánh giá trị lợi ích kinh tế mà nó mang lại khi sử dụng, được các nhà kinh tế gọi là giá cơ hội (opportunity cost). Các nhà đầu tư đều có phương pháp đánh giá để tìm ra giá trị mà họ muốn thu được khi đem bán. Giá thị trường không nhất thiết bằng với giá trị tính toán trên nhưng phải phản ánh nó. Nó là chuẩn để người bán và người mua dựa vào để thương thảo giá. Bản thân người viết cũng đã tham gia vào việc tính giá các tòa nhà thuộc khu World Trade Center ở thành phố New York có doanh nghiệp công Port Authority of New York and New Jersey vào năm 1982-1983 trước khi chúng bị phá hoại vào năm 2001 nên những trình bày ở đây không phải chỉ là chuyện lý thuyết. 

2. Quyền sử dụng đất 

Quyền sử dụng không phải là quyền sở hữu cho nên không có tính chất vĩnh viễn, quyền sử dụng vì thế bị giới hạn về thời gian theo hợp đồng giữa bên sở hữu và bên sử dụng. Khi người sở hữu đem cho thuê có thời hạn, tức là giao quyền sử dụng cho người khác theo hợp đồng. Hợp đồng đó nếu có điều khoản cho phép chuyển nhượng cho người thứ ba thì hợp đồng cũng có giá trị trên thị trường. Đó là giá trị sử dụng trong thời hạn còn lại theo hợp đồng. Giá trị này là tài sản của người có quyền sử dụng. 

3. Nguyên tắc định giá 

Việc tính toán giá, giá tài sản sở hữu hay giá hợp đồng sử dụng có thể chuyển nhượng đều dựa vào cùng một nguyên tắc, có thể công thức hóa. Sự khác biệt chính là : 1) thời hạn của quyền sử dụng : vĩnh viễn hay có thời hạn thấp hơn vĩnh viễn, 2) thu nhập ròng thu được mà quyền sử dụng mang lại từng thời kỳ trong thời gian sử dụng. Coi hộp về nguyên tắc tính giá sử dụng.
Nguyên tắc định giá hợp đồng đất vĩnh viễn hay có thời hạn
- Giá trị hợp đồng đất = Tổng giá trị thu nhập ròng thu được trong thời hạn hợp đồng, tính theo giá trong thời điểm hiện tại = Thu nhập ròng của năm thứ nhất còn lại trên hợp đồng + ... + thu nhập ròng của năm cuối cùng hợp đồng.
- Thu nhập ròng = thu nhập thu được trong sử dụng – chi phí sử dụng.
Nhận xét :
Để tính giá trị hợp đồng, cần tính được thu nhập ròng và cần có suất chiết khấu thực (có khử ảnh hưởng của lạm phát).
Giá trị hợp đồng tính theo cách trên là giá cơ hội (opportunity cost) như trên không nhất thiết bằng giá trên thị trường, tuy nhiên nó là chuẩn để người bán và mua hợp đồng dựa vào để thương thảo.
Giá trị hợp đồng đòi hỏi nhiều thông tin mà các công ty chuyên nghiệp có thể thu thập để tính.
Ở nhiều nước, như ở Mỹ chẳng hạn, khi nhà nước muốn trưng thu, thì nhà nước và người bị thu sẽ đưa ra giá trị mà từng bên coi là khách quan. Quan tòa là nơi tốt nhất giải quyết hoặc đi đến đồng thuận giữa hai bên hoặc quan tòa sẽ quyết định cuối cùng. Quan tòa cũng sẽ quyết định việc trưng thư có vì lợi ích chung không hay là vì mục đích tư lợi của một hay vài cá nhân. Tất nhiên cũng có thể có phương pháp khác để đi đến đồng thuận khi nhà nước trưng thu, nhất là khi nhà nước cần trưng thu cả khu vực có ảnh hưởng đến nhiều người có sở hữu, như đồng thuận của tuyệt đại đa số người bị ảnh hưởng. Ở Việt Nam, ông Đặng Hùng Võ đã đưa ra giải pháp là cần ít nhất 70 % những người bị trưng thu đồng ý vì quan tòa có thể không liêm chính, hoặc bị áp lực chính trị.

4. Ảnh hưởng kinh tế khi sở hữu không được công nhận  

Công thức tính giá cho ta thấy với các điều kiện sử dụng bị hạn chế giống nhau, có thể định nghĩa quyền sở hữu là quyền sử dụng với thời gian vô tận. 

Giá trị quyền sử dụng tùy thuộc vào một yếu tố quan trọng, đó là thời hạn sử dụng, mà thời hạn có thể đi từ zero đến vĩnh viễn. Khi hợp đồng tiến đến hạn thì giá trị hợp đồng tiến tới zero. Quyết định đầu tư cho mảnh đất là tùy thuộc vào thời hạn dài ngắn trong hợp đồng. Về mặt kinh tế, khi hợp đồng gần đến hạn thì không có lý do gì người sử dụng phải đầu tư dài hạn thêm vì không biết ông chủ sở hữu có gia hạn không, gia hạn bao lâu và giá phải trả cho người sở hữu.  

Đối với tài nguyên thiên nhiên như hầm mỏ, hay rừng, biển, kể cả đất đai khai thác khác thuộc quyền sở hữu nhà nước thì người sở hữu và người có hợp đồng biết rõ các điều kiện về mặt pháp lý là khi hợp đồng hết hạn tài sản này phải hoàn trả không điều kiện, và không có bồi thường.  

Đối với đất đai của người dân đặc biệt là đất nông nghiệp của nông dân, khi sở hữu tư nhân không được chấp nhận, tức là quyền sử dụng không vĩnh viễn thì cái thời hạn sử dụng luôn luôn là gông đeo cổ người dân.  

Triết lý không chấp nhận sở hữu cá nhân tức hạn chế thời hạn giao đặt ra một số vấn đề sau: 

  • Số phận người nông dân Việt Nam chiếm 70 % dân số bị đặt vào một tương lai cực kỳ bất an. Người có quyền sử dụng chỉ được giao đất một số năm, và không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau hợp đồng : họ có được tiếp tục không, với điều kiện nào. Như thế người nông dân không những chỉ hành động một cách ngắn hạn mà còn giảm đầu tư khi thời gian đi dần đến hạn. Nền kinh tế sẽ rơi vào tình thế bất an.
  • Với luật định hợp đồng thời hạn, người nông dân có quyền sử dụng đất khó lòng dùng chúng làm thế chấp nhất là khi sắp tới hạn vì giá trị của hợp đồng tùy thuộc vào thời hạn sử dụng ngắn hay dài. Quyết định một thời hạn sử dụng ngắn hơn vô tận (tức là sở hữu) đương nhiên đưa giá trị chúng xuống thấp hơn giá trị của nó nếu nó là quyền sở hữu.
  • Đối với đất đai được giao để làm nhà ở hay để làm khu công nghiệp cũng phải đối phó với tình thời hạn của hợp đồng đất đai, tuy nhiên nếu là người đầu tư họ đã tính toán với các hạn chế này, và nhận thức rõ là đất đai phải trả lại không bồi hoàn khi hợp đồng khi hết hạn.
  • Hiện nay không có cơ sở để quyết định ai có quyền giao, ai được giao và thời gian giao để bảo đảm ý nghĩa đất đai thuộc “ sở hữu toàn dân ”. Các quyết định quan trọng trên sẽ tiếp tục thuộc chính quyền, và dựa vào sự tùy tiện của các cấp chính quyền. Hiến pháp hiện nay và sắp tới giao “ quyền tùy tiện ” này cho các cấp chính quyền thì đương nhiên mở ra lỗ hổng để các cá nhân lãnh đạo chính quyền khai thác chiếm dụng thặng dư. Quyền giao đất đương nhiên tạo nên một tầng lớp chiếm đoạt thặng dư (rent seeking).

5. Trưng thu đất vì lợi ích chung 

Như đã trình bày, việc trưng thu đất là điều mà mọi nước đều có, dựa vào quyền eminent domain của nhà nước. Vấn đề là họ giải quyết trên cơ sở của luật pháp về nguyên tắc lợi ích chung và nguyên tắc định giá trên cơ sở giá cơ hội đã bàn ở trên. Không có việc giao cho các cấp chính quyền quyết định thế nào là lợi ích công và quyền quyết định giá. Luật pháp Việt Nam có thể sửa đổi – mặc dù đây vẫn là điều không tưởng – để giải quyết công bằng và hợp lý việc trưng thu đất vì lợi ích chung (liên quan đến nguyên tắc quyết định giá và quyết định thế nào là lợi ích chung) nhưng sẽ không giải quyết được vấn đề về tính bất an về thời hạn hợp đồng khi quyền tư hữu về đất đai không được chấp nhận. 

6. Vấn đề lo sợ nông dân không có đất cày  

Ngày xưa, chính vì lo sợ người nông dân không có đất cày cấy mà trước đây nhiều nước đã có chương trình cải cách ruộng đất, trưng thu đất của các đại điền chủ và bán lại cho nông dân để người nông dân có đất cày cấy và sau đó áp dụng chính sách hạn điền. Thời hiện đại khi phát triển kinh tế đã dựa vào công nghiệp hóa, do đó mà chiều hướng chung trên toàn cầu là số nông dân ngày càng giảm để trở thành công nhân thì việc tập trung ruộng đất để áp dụng đại nông canh tác, tăng năng suất lại là yêu cầu ngược lại ngày xưa. Do đó việc nới rộng mức hạn điền lại là điều cần thiết. Ngoài ra việc khuyến khích nông dân tập trung đất thành hợp tác xã hay công ty cổ phần cũng là điều nên khuyến khích.


VŨ QUANG VIỆT
Nguồn: tác giả gửi DiễnĐànngày 5.11.2013

TIN NÓNG: HÀNG TRĂM DÂN OAN KÉO ĐẾN TRỤ SỞ TIẾP DÂN CỦA ĐẢNG VÀ NN


Sáng nay, ngày 7 tháng 11 năm 2013 - Ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười - hàng trăm dân oan mất đất, khiếu kiện trong vô vọng từ các địa phương: Văn Giang (Hưng Yên), Vĩnh Phúc, Bà Rịa Vũng Tàu đã kéo đến trụ sở tiếp dân của Trung ương Đảng, Nhà nước để yêu cầu giải quyết các đơn thư tố cáo.

Bà Lê Hiền Đức, công dân chống tham nhũng cũng có mặt sát cánh cùng bà con.










Tin và ảnh do bà con gửi từ trụ sở tiếp dân số 1 Ngô Thì Nhậm, quận Hà Đông, Hà Nội.

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013

LỜI MỞ CỦA BLOG "HỒ SƠ ĐẤT ĐAI"


LỜI MỞ CỦA BLOG "HỒ SƠ ĐẤT ĐAI"
Mới mở, tại địa chỉ: hosodatdai.blogspot.de

Tranh chấp đất đai là một trong những vấn đề nhức nhối nhất tại Việt Nam hiện nay. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, 70% các vụ khiếu kiện trong cả nước có liên quan tới đất đai[1]

Số liệu tổng hợp của nhiều địa phương cho thấy chính quyền sai sót trong gần 50% các vụ khiếu kiện về đất đai. Tỷ lệ này ở một số địa phương lên tới gần 70%. Thêm vào đó, trong số các vụ tranh chấp được đưa ra xét xử tại tòa án, tỷ lệ người kiện đúng hoặc đúng một phần chiếm gần 20%. [2]

Con số thực có lẽ lớn hơn đáng kể.

Chắc chắn rằng, trong số hàng ngàn người khiếu kiện về đất đai mỗi năm, số được giải quyết thỏa đáng hết sức khiêm tốn. Số còn lại hoặc phải chấp nhận mất mát khi bỏ cuộc, hoặc phải chịu rủi ro khi đấu tranh cho quyền và lợi ích chính đáng của họ.

Dù họ chọn cách nào, dường như họ luôn cô đơn...

Cô đơn, kèm theo sợ hãi và thiếu hiểu biết về pháp lý... là tình cảnh chung của những người khiếu kiện.

Xuất phát từ thực trạng đáng buồn ấy, blog này được lập ra với mục đích giản đơn là trở thành một người đồng hành với những người khiếu kiện về đất đai.

Tiếp nối nhưng khác biệt blog Hồ Sơ Long Khánh, blog này đưa các tin tức, tài liệu về tranh chấp đất đai tại khắp các tỉnh, thành của Việt Nam.

Hi vọng rằng, với sự xuất hiện của blog này, những ai đang khiếu kiện về đất đai, những ai đang đấu tranh cho quyền và lợi ích chính đáng của họ sẽ thấy mình không còn cô đơn nữa!

02/11/2013
Nhóm Hồ Sơ Đất Đai
_____________________

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

KẾT QUẢ PHIÊN TÒA VỤ ÔNG ĐOÀN VĂN VƯƠN KIỆN UBND HUYỆN TIÊN LÃNG


Tòa bác yêu cầu đòi bồi thường của gia đình ông Vươn
30/10/2013 14:05 (GMT + 7) 
 
TTO - Kết thúc phiên xét xử vụ án “khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai” giữa ông Đoàn Văn Vươn với UBND huyện Tiên Lãng vào sáng 30-10, HĐXX TAND huyện Tiên Lãng đã quyết định bác toàn bộ các yêu cầu đòi bồi thường của gia đình ông Vươn.
 
Về quyết định thu hồi đất số 461 của UBND huyện Tiên Lãng, HĐXX cho biết trong quá trình thụ lý vụ án, UBND huyện đã có quyết định thu hồi quyết định này. Vì vậy quyết định số 461 của UBND huyện không còn giá trị pháp lý.

Về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định 461 gây ra, theo HĐXX, đại diện cho gia đình ông Vươn tại phiên tòa là ông Vũ Văn Luân (thư ký liên chi hội Nuôi trồng thủy sản nước lợ huyện Tiên Lãng), đã yêu cầu UBND huyện Tiên Lãng bồi thường thiệt hại trực tiếp là giá trị quyền sử dụng đất với các khoản chi phí đầu tư, kiến trúc, công trình trên đất… với trị giá hơn 11 tỉ đồng. 

Giá trị thiệt hại gián tiếp khoảng gần 3 tỷ đồng, bồi thường về thu nhập thực tế bị mất sau 5 năm đi kiện, hơn 1 tỷ đồng, thiệt hại về tinh thần của gia đình khoảng 10 tỷ đồng và các thiệt hại khác. 

Tổng số tiền gia đình ông Đoàn Văn Vươn (50 tuổi, xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng) đòi bồi thường khoảng 40 tỷ đồng.

Tuy nhiên tại phiên tòa, ông Luân cho biết gia đình không đòi cụ thể số tiền tổn thất về tinh thần mà để hai bên tự thỏa thuận. Vì vậy tổng số tiền gia đình ông Vươn đòi bồi thường còn 30 tỷ đồng.

Theo quan điểm của HĐXX, nhận thấy mặc dù quyết định thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng là không đúng quy định của pháp luật nhưng không gây thiệt hại về tài sản của gia đình ông Vươn. HĐXX cho rằng quyết định này chưa làm mất đi giá trị sử dụng đất của gia đình ông Vươn.

Theo HĐXX, diện tích, tài sản trên khu đầm của gia đình ông Vươn vẫn còn nguyên trạng, không bị phá hủy đến trước khi diễn ra cuộc cưỡng chế vào ngày 5-1-2012. Việc tài sản bị thiệt hại trong cuộc cưỡng chế đã được xét xử trong một vụ án hình sự trước đó nên không xem xét trong vụ án này. Kể từ khi ra quyết định thu hồi đất đến nay gia đình ông Vươn vẫn sử dụng diện tích đất này. Vì vậy HĐXX tuyên không có căn cứ để gia đình ông Vươn đòi bồi thường thiệt hại giá trị sử dụng đất và bác yêu cầu này.

Về yêu cầu bồi thường thiệt hại gián tiếp, thiệt hại thu nhập thực tế bị mất… HĐXX tuyên trường hợp của gia đình ông Vươn không nằm trong các trường hợp được quy định trong các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất. 

Về thiệt hại tinh thần, HĐXX cũng không chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường của gia đình ông Vươn. 

Về các thiệt hại do thuê luật sư, ủy quyền người đại diện tham gia phiên tòa… HĐXX nhận thấy đây là việc bảo vệ quyền và lợi ích của người khởi kiện nên cũng bác yêu cầu đòi bồi thường.

HĐXX yêu cầu gia đình ông Vươn phải nộp án phí với tổng số tiền hơn 23 triệu đồng.

THÂN HOÀNG