Hiển thị các bài đăng có nhãn SGTT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SGTT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2013

MỘT CHỦ TRANG TRẠI TRẮNG TAY SAU MỘT "TRẬN CÀN TIÊN LÃNG"

Từ chủ trang trại điển hình phải trở về tay trắng

SGTT.VN - Doanh nhân ấy có biệt danh là Tiềm “điên” với tên thật là Nguyễn Văn Tiềm, người dám đi vay hàng trăm triệu đồng vào năm 1998 chặn dòng một con suối ở sông Ông, Ninh Thuận tự mình làm thuỷ điện. Từ sức người, ông biến một vùng cằn cỗi mà chính dân địa phương còn thừa nhận là “chó ăn đá, gà ăn sỏi” thành xưởng sản xuất nước đá, khu du lịch sinh thái theo mô hình trang trại nổi tiếng khắp nơi.

Tuy nhiên, trang trại ấy, phần lớn đã bị quy hoạch, bởi những quyết định lạnh lùng, lấy đất cho một doanh nghiệp khác làm thuỷ điện. Doanh nhân Nguyễn Văn Tiềm đi lên từ chân đất giờ trở về với chân đất. Gặp chúng tôi vào những ngày giữa tháng 6, ông Tiềm cho biết sẽ tiếp tục khiếu nại vì hy vọng sẽ đòi được công bằng theo suy nghĩ của mình. Như bao vụ giải toả khác, chuyện của ông Tiềm cũng để lại cho chúng tôi nhiều suy nghĩ, ngậm ngùi khi mồ hôi nước mắt và tâm huyết của cả đời người bỗng chốc tan tành.

Ông Tiềm thẩn thờ bên đống hoang tàn.

Nỗi đau bên dòng suối Thương

Con suối mà ông Tiềm chặn dòng tên gọi suối Thương. Nhà ông cũng dựng cạnh suối nhưng những tiếng nước chảy róc rách ngày xưa không còn. Vẫn còn đôi tay to bè và cái vóc dáng to lớn gù gù như gấu nhưng tiếng cười hào sảng của ông hôm nay không còn nữa. Ông kể: “Hồi xưa lúc tôi ăn nên làm ra, báo chí tới đây nhiều lắm và tôi cũng không tiếc thứ gì. Nhưng giờ thì…”

Ngày xưa của ông cách đây khoảng 14 năm với ba giai đoạn mà nói theo ông là chưa “lên voi” đã “xuống chó”. Đợt đầu tiên, từ năm 1998 – 2000, gia đình ông Tiềm vào thôn La Vang, xã Quảng Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận làm “chuyện không tưởng” là lấy sức người chặn dòng suối Thương để tạo ra một trang trại kiểu mẫu, lái dòng nước thành hồ chứa nuôi cá, chạy máy phát điện làm nước đá. Hai năm trời cả gia đình Nguyễn Văn Tiềm quần quật với biết bao mồ hôi, bao vết sẹo trên người để tạo ra doanh nghiệp Hồng Ân.

Từ năm 2000 – 2004, doanh nghiệp Hồng Ân với trang trại kiểu mẫu và chủ nhân sản xuất giỏi đến nỗi báo đài địa phương lẫn Trung ương nườm nượp tìm đến viết về gương sản xuất điển hình, có tác phẩm đạt giải bạc liên hoan truyền hình toàn quốc. Những chiếc đĩa CD hay hình ảnh trang trại kiểu mẫu của một thuở huy hoàng được ông Tiềm giữ gìn kỹ lắm. Với ông, nó là sự ghi nhận về một thời cực nhọc nhưng tự hào của gia đình mình, nhưng cũng là sự nhắc nhở về nhân tình thế thái hôm nay…

Trong hồ sơ đất đai của Nguyễn Văn Tiềm được cấp ghi rõ giao 32.262m2 (gồm hai sổ đỏ) trồng cây lâu năm với thời hạn 50 năm. Tuy nhiên, khi thu hồi 23.622/32.262m2 đất vào ngày 30.1.2004 thì chính quyền lại ghi trong biên bản chủ yếu là bồi thường đất trồng cây hoa màu. Trang trại của doanh nghiệp Hồng Ân từng được một đối tác tại Khánh Hoà định giá 10 tỉ đồng nhưng ông Tiềm không đồng ý bán. Khi thu hồi đất, hội đồng bồi thường huyện Ninh Sơn của tỉnh Ninh Thuận ra văn bản bồi thường cho ông Tiềm 785 triệu đồng. Ông Tiềm khiếu nại thì UBND tỉnh nâng mức bồi thường lên 1,7 tỉ đồng (văn bản số 158 ngày 23.6.2006) và đề nghị gia đình Nguyễn Văn Tiềm khởi kiện hành chính.
.
Giai đoạn thứ ba bắt đầu từ ngày 30.1.2004, ngày UBND tỉnh Ninh Thuận ra quyết định thu hồi đất của ông Tiềm và một số hộ dân khác để giao cho công ty 76 (sau đó công ty này không đủ năng lực tài chính nên đã bán dự án cho một đối tác khác để làm công ty cổ phần thuỷ điện Sông Ông). Mặc cho gia đình ông Tiềm khiếu nại, trưng ra những giấy tờ, bằng chứng nhưng chính quyền vẫn nhất quyết cưỡng chế. “Hôm đó họ dẫn theo công an, dân phòng đông lắm, chẳng khác gì vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng. Chỉ khác một điểm tôi đã cố nén để không liều mạng...”, ông Tiềm nhớ lại. Cơ nghiệp ấy phút chốc tan tành.

Hy vọng mong manh

Từ đó đến nay, ông Tiềm vẫn miệt mài gửi đơn khiếu nại từ xã lên huyện, ra tỉnh rồi ra cả Trung ương. Thanh tra Chính phủ cũng đã vào cuộc nhưng kết luận đưa ra không làm ông thoả lòng. Ông vẫn tin rằng công lý rồi sẽ đến vào một ngày nào đó dù trang trại xưa giờ chỉ gói gọn trong một tính từ: hoang tàn! Phần lớn đất bị thu hồi, phần còn lại chẳng làm gì được vì không còn nguồn nước. Ông nói chính việc thuỷ điện Sông Ông chặn dòng suối Thương đã “giết chết” gia đình mình. Nhà máy thuỷ điện nhỏ của ông lập tức phải ngừng hoạt động vì không có nước, nhà máy nước đá đóng cửa theo sau vì không điện. Hàng chục tấn cá và vườn cây ăn trái cũng chết theo vì thiếu nước. “Họ chặn dòng mà không thông báo, cũng không có biện pháp khắc phục hậu quả nên đã đẩy doanh nghiệp Hồng Ân chúng tôi đến chỗ phá sản. Nhưng xét đến cùng là do chính quyền...”, ông Tiềm nhận định.

Cơ ngơi một thời giờ là phế tích. 

“Tôi là một trong những doanh nghiệp đầu tiên ủng hộ chủ trương thu hút đầu tư của UBND tỉnh Ninh Thuận nhưng sau những hứa hẹn ban đầu, họ đã bội ước”, ông Tiềm bức xúc. Mỗi mét vuông đất của ông và người dân khu vực quy hoạch thuỷ điện chỉ được bồi thường từ 1.000 – 1.500 đồng, mức giá mà thời điểm đó chỉ đủ mua được ổ bánh mì không nhân. “Trong sổ đỏ mà UBND huyện Ninh Sơn cấp chứng nhận quyền sử dụng đất ghi rõ thời hạn 50 năm đối với gia đình tôi. Tin điều đó, chúng tôi đã bỏ công sức tiền của đầu tư làm đường, trồng cây, đắp đập ngăn suối… nhưng rồi họ bội tín khiến cả cơ nghiệp tan tành”, ông Tiềm nghẹn ngào.

Ông Tiềm kể lại: Chính quyền cấp xã, cấp huyện rồi cấp tỉnh rồi đoàn đại biểu Quốc hội mời tôi lên đối thoại nhưng chỉ có tôi trình bày những nguyện vọng và trình những chứng cứ hợp pháp của mình. Tất cả đều im lặng ngoại trừ câu giới thiệu lý do buổi đối thoại và câu tuyên bố kết thúc cuộc làm việc. Trong đợt cưỡng chế, gia đình phản đối thì đại diện UBND tỉnh Ninh Thuận nói sẽ chờ xem xét, trong quá trình đó cơ quan chức năng không được tiến hành phá dỡ. Nhưng “lời nói gió bay”, công an huyện áp cả gia đình ông Tiềm lên tạm giữ, đến khi phá dỡ xong mới cho về. “Gia đình tôi đi phát triển kinh tế cho xã, cho huyện, cho tỉnh tại sao lại đối xử với chúng tôi như kẻ đi cướp, bắt chúng tôi đến sáu lần?”, ông Tiềm bức xúc.

Ông Tiềm cho biết sẽ tiếp tục khiếu nại vì còn tin vào các nghị quyết của Đảng. Ông không kiện ra toà vì có kiện cũng chẳng có xu nào để đóng án phí. Chia tay ông Tiềm, bóng dáng ông gù gù như gấu, bàn tay to bè vịn vào thành sắt bước qua cây cầu ván gỗ mục nát như cái cơ ngơi hoang phế bây giờ của ông. Nếu không có thuỷ điện, không có những quyết định thu hồi đất lạnh lùng, có lẽ ông vẫn là một điển hình sản xuất giỏi.

Bài và ảnh: Mai Quốc Ấn
Nguyễn Văn Tiềm từng làm công nhân ở trạm bơm nước Quảng Sơn. Tháng 9.1998, trong tay chỉ có chưa đầy 5 triệu đồng tiền vốn, ông mua khoảng đất ven suối Thương. Ðây là vạt đất bỏ hoang, người ta vừa bán vừa cho với giá 1 triệu đồng. Sau khi có đất và được giao đất, lựa thế suối nước dồi dào, ông Tiềm khởi sự ý tưởng bằng một nhà máy thuỷ điện tự tạo để mở cơ sở sản xuất nước đá. Ông mời các chuyên gia ở các nhà máy thuỷ điện Thác Mơ, Ða Nhim, Trị An về tính toán đo, đặt máy phát và tự tay mình lắp đặt, xây dựng hệ thống máy phát. Ngày 20.11.2001, nhà máy nước đá đã cho ra 200 cây đá đầu tiên. Mỗi tháng gia đình ông có thu nhập từ nhà máy nước đá khoảng 30 – 40 triệu đồng. Bên cạnh nhà máy thuỷ điện, ông còn đào được 12 hồ cá bậc thang, sau sáu tháng, có con trắm cỏ đã lên đến 1,5kg. Những giống cây trái tưởng khó chịu nổi cái đất này, đặc biệt là xoài cát Hoà Lộc, sapôchê, chôm chôm và hàng ngàn gốc chuối, thơm, bơ đã phát triển và cho hoa đậu quả sum suê. Lúc đó, dù chưa trở thành một khu du lịch danh chính ngôn thuận nhưng ngày nào cũng có vài chục lượt khách đến tham quan. Những ngày lễ, khách thập phương tìm đến suối Thương tham quan có khi lên đến hàng 400 – 500 người. Có hôm, xe hơi về đậu chật cả lối vào trang trại. Ông chủ trang trại này không thu tiền tham quan mà chỉ lặng lẽ chằng dây ngồi… giữ xe!

Thanh tra Chính phủ cho rằng, trong quá trình sử dụng đất, hộ ông Tiềm đã tự ý xây dựng nhà máy nước đá, cũng như không xin phép, nộp thuế đối với sử dụng nguồn nước để vận hành trạm thuỷ điện là vi phạm các quy định về pháp luật, nhưng vẫn được tỉnh Ninh Thuận xem xét, bồi thường... Điều này thể hiện sự quan tâm của chính quyền địa phương. Căn cứ các quy định hiện tại, theo Thanh tra Chính phủ, các khiếu nại của ông Tiềm về thu hồi đất, giá trị bồi thường đất, tài sản... là không có cơ sở để xem xét giải quyết. Trong khi đó, theo ông Tiềm, doanh nghiệp Hồng Ân được cấp phép đăng ký kinh doanh hẳn hoi và nhà máy nước đá Hồng Ân cũng được cấp chứng nhận đăng ký thuế.
T.L
  Nguồn: SGTT

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

GS. Nguyễn Văn Tuấn: TỰ VẤN, TỰ TRỌNG, TỰ DO, TỰ ĐỔI MỚI


Tự vấn, tự trọng, tự do, tự đổi mới
Nguyễn Văn Tuấn 

Lời dẫn của tác giả: Xin giới thiệu các bạn một cuộc trò chuyện với phóng viên trên Sài Gòn Tiếp Thị nhân ngày 2/9/1945. Bài phỏng vấn này được phóng viên biến thành một bài viết dưới tựa đề “Tự vấn, tự trọng, tự do, tự đổi mới”. Vì không đủ “đất” nên một số đoạn phải cắt bỏ trên báo. Thời đại internet có cái hay là độc giả có thể đọc nguyên bản (dưới đây) bên cạnh bản in, và có thể rút ra vài nhận xét. NVT
 
SGTT: Thưa GS, cảm xúc của GS thế nào khi nghĩ về ngày độc lập 2/9 của đất nước?

NVT: Tôi nhìn ngày 2/9/1945 như là một ngày Việt Nam giành quyền độc lập, không còn lệ thuộc ngoại bang. Có lẽ ấn tượng nhất với tôi là bản tuyên ngôn độc lập do cụ Hồ Chí Minh đọc và trích từ câu đầu trong bản tuyên ngôn độc lập của Mĩ: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Đó là những câu phát ngôn rất đẹp và lí tưởng. Do đó, có thể nói rằng ngày 2/9 mở đầu cho một lí tưởng nhân văn và cao đẹp cho Việt Nam. Còn những gì xảy ra sau đó thì cần phải bàn thêm.

SGTT: Ngày Độc lập có gắn với kỷ niệm nào của Giáo sư không?

NVT: Tôi sinh sau ngày 2/9/1945 và ở trong Nam nên không có kỉ niệm nào với ngày đó cả. Tuy nhiên, Ba tôi lúc sinh tiền thì nhắc đến ngày này như là một bước ngoặc trong đời.

SGTT: Chúng ta có độc lập gần 70 năm qua, nhưng về mặt phát triển chúng ta vẫn lệ thuộc nhiều thứ của nước ngoài. (Đơn cử, trong lĩnh vực y tế, mỗi năm dân ta phải mất rất nhiều tiền để đi các nước chữa bệnh). GS chia sẻ gì về câu chuyện này?

NVT: Thật ra, hầu như bất cứ lĩnh vực nào liên quan đến khoa học, công nghệ, kĩ thuật, chúng ta đều phụ thuộc vào nước ngoài. Nhìn chung, nhiều kĩ nghệ ở Việt Nam chủ yếu là gia công, chứ không phải thực sự sản xuất và cũng không có nghiên cứu khoa học. Chúng ta còn lệ thuộc nước ngoài về khoa học. Khoảng 80% các công trình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam là do hợp tác với hay qua hỗ trợ từ nước ngoài.

Tôi nghĩ rằng trình độ của chúng ta (người Việt) chưa theo kịp với những vấn đề mà phát triển kinh tế - xã hội đặt ra. Điểm xuất phát của chúng ta là một nền văn minh và văn hóa nông nghiệp, và khi trong quá trình hội nhập thế giới được định hình bởi nền văn minh công nghiệp, thì nảy sinh rất nhiều vấn đề. Có nhiều sự chênh lệch giữa nhu cầu phát triển đặt ra và khả năng đáp ứng của nội lực Việt Nam. Điều này có thể giải thích tại sao các công trình xây dựng, công trình nghiên cứu khoa học của Việt Nam không đạt chất lượng cao.

Ngoài ra, sự phát triển kinh tế và xã hội Việt Nam còn thiếu tính đồng bộ và thiếu tính hệ thống. Đây đó chúng ta có những chuyên gia có thực tài, nhưng nhìn chung họ chỉ là những cá nhân đơn lẻ, không đủ để định hình một nền khoa học. Ví dụ như Việt Nam có những bác sĩ phẫu thuật không thua kém gì so với Singapore, nhưng chúng ta không có một hệ thống hỗ trợ hậu phẫu để lấy được niềm tin tưởng của bệnh nhân. Có thể chúng ta chỉ giỏi về kĩ thuật, mà kĩ thuật thì chỉ là một khâu trong nhiều khâu quan trọng. Chính vì thế mà một số bệnh nhân chưa cảm thấy an tâm và tin tưởng vào hệ thống y tế của Việt Nam.

SGTT: Khi giành độc lập, VN là một khối thống nhất, triệu con tim một ý chí quật cường? GS có thể giải mã gì về hiện tượng này dưới con mắt của một nhà nghiên cứu?

NVT: Tôi nhớ đến câu “Mùa thu rồi ngày 23 / ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến”. Đó lời hiệu triệu chống ngoại xâm. Do đó, tôi nghĩ bởi đơn giản là lúc đó ai cũng muốn đánh đuổi ngoại xâm để có được độc lập, tự do, và bình đẳng. Người Việt Nam có thể bất đồng với nhau về nhiều vấn đề, nhưng rất đồng lòng trong việc đánh đuổi ngoại xâm. Ngày nay cũng thế, khi có đe dọa hay nguy cơ từ ngoại xâm thì người dân đồng loạt đứng lên.

Nhưng lịch sử cũng chỉ ra rằng trong thời bình người Việt Nam không đoàn kết như trong thời chiến tranh chống ngoại xâm. Đất nước đã thống nhất gần 40 năm, nhưng lòng người hình như chưa thống nhất. Bất công xã hội ngày càng nhân rộng. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng rộng hơn. Người Việt trong và ngoài nước chưa thật sự đồng lòng. Tất cả những yếu tố đó chỉ làm suy yếu cộng đồng dân tộc, và làm cho Việt Nam chưa phát triển đúng với tiềm năng của dân tộc.

SGTT: Theo GS, vì sao một dân tộc từng ngẩn cao đầu trong những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm để giữ nước, nhưng lại là một dân tộc quẩn quanh với mệt nhoài ở những chặng hoà bình tìm kế bứt phá vươn lên?

NVT: Trong lịch sử cận đại, chưa bao giờ nước ta có một thời gian hoà bình lâu dài như hiện nay. Thế mà cho đến nay, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia nghèo, có thời gian nằm trong nhóm các nước nghèo nhất thế giới. Câu hỏi đặt ra là tại sao, và đã có nhiều câu trả lời cũng như cách tiếp cận câu hỏi đó. Tôi nghĩ lí do gần mà chúng ta có thể nhận ra được là chúng ta đã dành quá nhiều sức lực và tài nguyên cho chiến tranh. Đối với các nước lớn, chiến tranh là một cuộc chơi, hay thậm chí là một thương vụ; nếu không có lợi thì họ rút lui, họ không mấy quan tâm đến thắng hay thua theo nghĩa kinh điển. Nhưng đối với nước nghèo như Việt Nam thì khi chiến tranh xảy ra là dốc toàn lực toàn tâm để giành thắng lợi. Trong cuộc chiến vừa qua, có trên 50 ngàn quân nhân Mĩ tử vong, nhưng Việt Nam thì trên 2 triệu người tử vong. Sau hơn 20 năm chiến tranh thì xã hội có dấu hiệu mệt mỏi cũng là điều không khó hiểu.

Nhưng tại sao có những nước, như Hàn Quốc và Nhật, họ lại vươn lên rất nhanh sau chiến tranh, còn Việt Nam thì vẫn còn nghèo. Có ba giả thuyết chính được đề ra để giải thích sự khác biệt về mức độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các quốc gia trên thế giới: địa lí / khí hậu, văn hóa, và thể chế. Có học giả (như Montesquieu chẳng hạn) cho rằng ở những nước nhiệt đới người dân thiếu óc tò mò, hay bị mệt mỏi, dễ mắc bệnh, và năng suất lao động thấp, nên mức độ phát triển không bằng các nước ôn đới. Giả thuyết thứ hai cho rằng yếu tố văn hóa có ảnh hưởng đến phát triển, và đã có khá nhiều học giả cho rằng một số nét về văn hoá Việt Nam là những rào cản cho phát triển kinh tế trong thời đại toàn cầu hoá. Nhưng một giả thuyết mới nhất cho rằng một thể chế thiếu dung hợp là một yếu tố làm cho đất nước nghèo yếu. Một thể thiếu dung hợp như Phi Luật Tân, trong đó các nhóm lợi ích và đại gia chiếm đoạt tài nguyên quốc gia thì đất nước không thể nào giàu được. Có thể nói rằng cả ba giả thuyết trên đây đều có thể giải thích tại sao Việt Nam nghèo. Chúng ta không thay đổi được địa lí, nhưng chúng ta có thể thay đổi văn hoá và tạo ra một thể chế dung hợp hơn nữa, một thể chế mà trong đó mọi thành viên có cơ hội đóng góp chứ không phải chỉ vài nhóm lợi ích chiếm đoạt tài nguyên và lũng đoạn quốc gia.

SGTT: Thách thức lớn nhất đối với việc phát triển đất nước hiện nay, là gì, thưa GS?

NVT: Tôi nghĩ mối đe dọa lớn nhất đến phát triển đất nước hiện nay là môi sinh và đạo đức xã hội. Nước ta là nước nhỏ (về diện tích), mật độ dân số khá cao, và môi trường sống đang xuống cấp nghiêm trọng. Sự phá hủy môi sinh ở Việt Nam rất ư là kinh khủng, và nếu không ngăn chận hay khắc phục kịp thời, thì chúng ta sẽ không có gì để lại cho các thế hệ tiếp nối. Kinh nghiệm của các nước như China cho thấy phát triển kinh tế nhanh nhưng phá hủy môi trường sẽ làm cho sự phát triển trả giá rất đắt về lâu dài.

SGTT: Theo GS, trong giai đoạn hiện nay, cách thức nào hạn chế những thức thức đó để đưa dân tộc đi lên?

NVT: Tôi nghĩ chúng ta nên quay lại với một lí tưởng quan trọng của ngày 2/9/1945: đó là tự do. Hai chữ này có thể hiểu rất khác nhau giữa các cá nhân, nhưng ở đây, tôi muốn hiểu tự do theo nghĩa tự do tinh thần, tự do chính trị, và tự do kinh tế. Tự do tinh thần đồng nghĩa với tự do lựa chọn niềm tin, triết lí, và không lệ thuộc vào người khác. Tự do chính trị là tiền đề của một thể chế dân chủ. Cần phải đảm bảo quyền tự do ngôn luận và quyền tranh luận của xã hội và công dân đối với những hoạt động đó. Tự do kinh tế là động lực và cũng là nguyên khí của phát triển kinh tế xã hội. Do đó, tôi rất tâm đắc với nhận xét của Amartya Sen (nhà kinh tế học gốc Ấn Độ được trao giải thưởng Nobel kinh tế) rằng “phát triển như là tự do”.

SGTT: Những trở trăn của GS với ngành y ở Việt Nam là gì? Làm thế nào để có một ngành y mạnh và theo triết lý phụng sự người dân?

NVT: Tôi nghĩ tình trạng y tế và bệnh tật ở nước ta thật đáng lo ngại. Trước đây, chúng tôi đã từng lên tiếng rằng số người chết vì tai nạn giao thông làm nhức nhối xã hội, nhưng nguyên nhân tử vong trong các bệnh viêm phổi, viêm họng, viêm phế quản và viêm tiểu phế quản cấp, tiêu chảy, viêm dạ dày, ruột non có nguồn gốc nhiễm khuẩn, cúm, sốt rét còn cao hơn nhiều. Mẫu số chung của các bệnh này là tình trạng thiếu dinh dưỡng vì nghèo khó, là môi trường bị ô nhiễm trầm trọng.

Nền y tế của VN càng ngày càng bị thương mại hóa. Nhiều người nhìn thấy ngành y là một môi trường kinh doanh để kiếm tiền nhanh, hơn là một thiên chức chăm sóc sức khỏe cho người dân. Y đức đang là một vấn đề nhức nhối, và đang làm rẻ rúng ngành y và suy giảm uy tín của những người làm trong ngành y.

Chúng tôi từng đề nghị và xin nhắc lại: cần phải tăng đầu tư xây dựng bệnh viện, xây dựng các cơ sở y tế ở nông thôn và phổ cập bảo hiểm y tế để người nghèo có thể tiếp cận dịch vụ y tế với phụ phí thấp. Nên có chính sách miễn phí khám bệnh và phí nhập viện cho người dân nghèo hoặc cận nghèo.

SGTT: Triết lý phát triển nào cho Việt Nam là phù hợp với bối cảnh hiện nay, thưa thầy?

NVT: Người ta hay nói đến triết lý phát triển, còn tôi thì suy nghĩ đến nguyên lý phát triển. Tôi nghĩ đến nguyên lý “phát triển bền vững” sẽ là cách phù hợp nhất để Việt Nam đi lên trong bối cảnh hiện nay. Phát triển đi đôi với huỷ hoại môi sinh, hay phát triển mà chỉ lệ thuộc nước ngoài về khoa học và công nghệ, thì không thể xem là phát triển lâu dài được. Do đó, phát triển bền vững có nghĩa là chú trọng chất lượng cuộc sống cho người dân, và đồng thời tăng nội lực dân tộc.

SGTT: Câu chuyện giáo dục truyền thống ở những nước phát triển thường được kể lại cho dân họ như thế nào, thưa GS?

NVT: Có danh nhân từng nói đại khái rằng biết được sự thật sẽ làm cho chúng ta tự do. Sự thật có thể không phải lúc nào cũng đẹp, nhưng vẫn là bài học để chúng ta vươn lên. Ở Úc, tôi thấy họ lấy cuộc chiến mà Úc thất trận ra dạy cho học sinh tiểu học và trung học. Họ không mặc cảm vì thất trận. Nhưng họ cũng không hạ thấp đối phương (là cựu thù). Trong sách giáo khoa sử của Úc, tôi không thấy những hận thù trong đó, tất cả sự kiện đều được trình bày bằng một văn phong khách quan và không cảm tính. Tôi được biết ở Nhật, người ta cũng dạy học sinh rằng Nhật từng là nước chiến bại.

SGTT: Làm thế nào để những người trẻ ý thức được rằng, để có độc lập dân tộc ta phải trả bằng máu, vậy đưa đất nước đi lên là trách nhiệm của những người con người hiện tại?

NVT: Tôi cho rằng, trong việc giáo dục lòng yêu nước, cần phải truyền đạt cho giới trẻ nằm lòng rằng: làm thế nào để không cần đổ xương máu mà vẫn có độc lập. Chuyện quá khứ là quá khứ, nhưng chuyện quan trọng hơn là hiện tại: Việt Nam đang đứng trước một chặng đường đầy nguy cơ: kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học đều suy thoái, nền tảng đạo đức xã hội lung lay và trên nhiều mặt ngày càng lệ thuộc vào nước láng giềng phương Bắc. Để tránh nguy cơ đó, tôi nghĩ mỗi chúng ta phải tự mình đổi mới. Mỗi chúng ta, chứ không ai khác, có nghĩa vụ đưa đất nước đi lên.

SGTT: Xin cảm ơn GS!