Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Đình Sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Đình Sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

SỰ THAY ĐỔI THÓI QUEN ĐỌC SÁCH VÀ VẤN ĐỀ BỒI DƯỠNG VĂN HÓA ĐỌC

Sự thay đổi thói quen đọc sách 
và vấn đề bồi dưỡng văn hóa đọc 
Trần Đình Sử

Sách là kho tàng tri thức của dân tộc và nhân loại. Đọc sách là phương thức tích lũy, phát triển, tiếp biến tri thức của nhân loại. Phương tiện dùng để cố định, sản xuất và lưu truyền văn bản có tác dụng hình thành các thói quen đọc sách và học tập của con người. Sự thay đổi phương tiện lưu truyền văn bản và sự thay đổi điều kiện sinh hoạt kinh tế, văn hóa cũng kéo theo sự thay đổi các thói quen đọc sách và học tập. 

Có một nghịch lí là trong thời gian chiến tranh và thời kì bao cấp, tuy đời sống kinh tế khó khăn, lương tiền ít ỏi, nhưng nhu cầu đọc sách văn học nghệ thuật của xã hội ta rất cao. Sách văn học, sách dịch, sách nghiên cứu có giá trị đều có số in khá lớn lớn. Ví dụ cuốn Hạnh phúc ngắn ngủi của Mắc com bơ của Hemingway in 15.000 cuốn, cuốn Mười nhà thơ lớn thế giới in 8.000 cuốn, cuốn Hải Triều bàn về nghệ thuật 6.000 cuốn, cuốn Hiện thực, nghệ thuật, con người của Khrapchenco in 6.100 cuốn…. Bạn đọc phải có phiếu mua sách, có thân quen mới mua được sách, đặc biệt là sách dịch văn học nước ngoài.

Bước vào thời kì kinh tế thị trường, nhu cầu nhân lực lên cao, bằng cấp có giá trị để xin việc, thế là người đọc chuyển sang mục đích thực dụng. Họ chủ yếu tìm đọc các sách tri thức, sách dạy kinh doạnh, dạy quản lí, kế toán, sách công cụ như các loại từ điển, sách tham khảo để dùng vào việc thi cử, do đó số lượng các sách đó tăng vọt. Chưa bao giờ như bấy giờ các hiệu sách chất đầy các sách từ điển và các sách tham khảo. Có nhà xuất bản lớn tự biến mình thành nhà kinh doanh sách tham khảo cho học sinh. Các sách tri thức cao cấp bị coi là không có đầu ra, thường bị các nhà xuất bản từ chối, nếu in thì chỉ 500 - 1.000 bản. Nhu cầu tri thức thực dụng tăng vọt so với nhu cầu đọc để làm phong phú đời sống tâm hồn. Văn hóa đọc của người Việt đã đổi thay đáng kể.

Bước vào thế kỉ XXI nhu cầu tri thức và thưởng thức có được chú ý hơn trước, điều này khiến sách dịch văn học và tri thức cao cấp gia tăng. Nhà xuất bản tri thức xuất hiện với tủ sách tri thức cao cấp là một đóng góp to lớn đối với dân trí. Nhưng cảnh mua sách cũng rất lèo tèo và số phận nhà xuất bản gặp nhiều khó khăn.

Vào thời kì phát triển các phương tiện điện tử, các trang mạng, sách điện tử xuất hiện, tập quán đọc sách cũng thay đổi lớn. Mạng điện tử là một thành kênh tuyệt vời của thời đại, nó không chỉ đem đến kênh chữ, mà quan trọng không kém là có kênh hình, kênh tiếng, không chỉ tranh ảnh mà còn cả phim ảnh sinh động, thoả mãn một lúc nhiều nhu cầu của con người. Thêm nữa, mạng là không gian giao tiếp xã hội rộng lớn, bao gồm các trang mạng cá nhân, các FB, các trang blog, các giao tiếp ảo. Nó là không gian công cộng, đồng thời cũng là không gian cá nhân, riêng tư. Các cá nhân có thể công khai các ý kiến cá nhân mà không cần kiểm duyệt, thông tin rất bác tạp, đa chiều. Đặc điểm đó làm cho hoạt động đọc mạng nhiều hơn đọc sách giấy. Bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ tuổi ban đêm thức say sưa lướt các trang mạng, hết trang này sang trang khác, ngoài đủ loại thông tin còn có các hình ảnh, phim ảnh hấp dẫn. Việt Nam hiện chưa có con số thống kê, song dựa vào con số thống kê của tryền thông Trung Quốc cũng cho ta một hình dung khái quát về thực trạng thay đổi chung. Theo tin Tân Hoa xã ngày 23 /4 /2013 cho biết tỉ lệ sách giấy và sách điện tử dược đọc trong năm như sau: năm 2011 là 5/77, năm 2012 là 6/74 quyển. Rõ ràng ưu thế thuộc về sách điện tử. Bạn đọc cho biết đọc sách điện tử xong không cần mua sách giấy nữa. Như vậy là đọc sách điện tử lấn át đọc sách giấy nhiều lần. Đặc biệt là đọc báo, người ta có khuynh hướng đọc mạng thay cho đọc báo giấy. Điều này có lí do của nó. Sách giấy để tốn chỗ, sách điện tử thì không tốn không gian, giá sách. Sách điện tử giá rẻ hơn sách giấy nhiều. Đọc báo mạng có thể tiếp xúc với thông tin nhiều chiều, khác hẳn đọc báo giấy chính thống có thông tin một chiều. Sách giấy phụ thuộc vào số lượng, sách điện tử mua mấy cũng không hết. Rất tiếc là hệ thống sách điện tử, thư viện điện tử của chúng ta chưa phát triển. Không cung cấp tiện lợi cho người học, người đọc như ở nước ngoài.

Có người rất lạc quan, cho rằng từ nay thư viện sách giấy không còn mấy giá trị. Ở trường Đại học sư phạm Hà Nội, khi một giáo sư đem tặng cho khoa ngữ văn bộ sưu tập toàn bộ tạp chí Văn hóa nghệ thuật mấy chục năm từ khi ra đời, đã đóng thành tập kĩ lưỡng. Có giáo su đã chế giễu: Sách giấy đã đến ngày tận số. Người ta sẽ đưa dữ liệu vào máy tính, tìm nhanh, đọc nhanh, không ai tìm đến sách giấy nữa. Nhưng lạc quan thế là tếu.

Sách và văn bản điện tử quả thật là rất tiện lợi. Tìm kiếm nhanh, lưu trữ dễ. Tra cứu thuận lợi. Nhưng mặt khác chất lượng đọc sách điện tử cũng như đọc mạng thường không cao. Đọc sánh điện tử, đọc báo mạng thường không sâu, nhiều khi tạp. Nhiều trang mạng thông tin tạp nham, linh tinh lấn át thông tin chính. Báo mạng thiên về thức ăn nhanh, tin gây sốc, chú trọng ấn tượng cảm quan. Sa vào đó là giết hết thì giờ. Đọc mạng người ta có ấn tượng đầy ắp nhưng vụn vặt rời rạc. Có người nhận định phương tiện mạng tạo thành một thói quen đọc phiếm, giống như nói chuyện phiếm, gặp đâu nói đó, đọc mạng gặp đâu đọc đó, dễ mất đi sức tập trung, thiếu trọng điểm. Nếu không phải người có bản lĩnh, dễ biến mình thành mảnh vụn, mảnh vỡ của thông tin mạng. Đây là đặc điểm đối lập với thói quen đọc truyền thống. Đọc truyền thống do lượng sách có hạn, mục đích cụ thể, đọc thường tập trung. Đặc biệt đối với người nghiên cứu, đọc sách giấy vẫn có nhiều ưu thế không thay thế được. Khi đọc sách giấy, người đọc có thể dọc đi đọc lại, đối chiếu trước sau, trang trước trang sau đều hiện diện trước mắt, trong khi đó sách điện tử lúc nào cũng chỉ hiện diện cái trang đang đọc, trang cần so sánh đã khuất, khi có trang này thì mất trang kia. Ít nhất đối với tôi là như vậy. Làm học thuật không chỉ cần đọc nhiều, chiếm lĩnh nhiều thông tin, mà cần đọc sâu đọc kĩ một số sách hữu hạn, dở đi dở đi dở lại nhiều lần. Trong trường hợp này sách giấy có ưu thế hơn cả.

Như thế, nếu chạy theo hứng thú, chỉ say sưa đọc mạng coi nhe đọc sách giấy thì chất lượng đọc nhất định bị sa sút.

Nhiều người thường viện dẫn thói quen đọc sách truyền thống thời xưa. Chỉ mấy bộ Tứ thư ngũ kinh, mấy bộ chư gia tinh tuyển, đọc đi đọc lại nghìn lần cho đến khi sách rách nát, người học cũng có thể trở thành chuyên gia về tư tưởng, thành học giả đáng kính trọng. Điều này cho thấy đọc sách thời điện tử rất đáng hâm mộ, đáng tận dụng các ưu thế của nó, mà đồng thời cũng cần giữ thói quen đọc truyền thống, đào sâu vào một số sách kinh điển trong nghệ của mình. Đối với loại sách kinh điển này, tốt nhất là sách giấy.

Nguời đọc ngày nay không chỉ cần đọc mạng để biết rộng, mà còn phải đọc sách kinh điển để biết sâu. Phát triển sách điện tử phải là một chiến lược để đem lại nhiều sách tiện lợi giá rẻ cho người đọc. Mặt khác sách giấy, đặc biệt là loại sách kinh điển thuộc các ngành khoa học, nhất là khoa học nhân văn cần được phát triển nhiều hơn nữa để đáp ứng nhu cầu học tập chuyên sâu. Sách điện tử và sách giấy sẽ có sự phân công, đáp ứng nhu cầu học tập nghiên cứu của người hiện đại. Nhiều người cho rằng đọc sách giấy giống như bữa ăn chính, còn đọc sách điện tử, đọc mạng như là bữa ăn thêm, ăn phụ, ăm dặm, thường thực hiện vào những lúc thời gian vụn vặt của ngày. Có người hiểu ngược lại. Câu trả lời còn ở phía trước.

Theo dõi việc đọc sách trong thời gian ba mươi năm trở lại đây ta thấy việc đọc sách giải trí tăng lên, đọc sách nghệ thuật cao cấp và đọc sách kinh điển giảm xuống. Có người nêu danh sách 10 cuốn sách không cần đọc trước khi chết, bao gồm Iliad, Odissey, Ulysse, Chuông nguyện hồn ai, Chiến tranh và hòa bình, Kiêu hãnh và định kiến… thể hiện khuynh hương coi nhẹ đọc kinh điển.

Để nâng cao văn hóa đọc điều quan trọng là cần đề xuất một danh sách sách kinh điển cần được đọc để xây dựng nền tảng văn hóa nhằm đi vào lĩnh vực chuyên sâu. Kinh điển là những tác phẩm vĩ đại, có sức tác động mạnh mẽ đối với tâm hồn người, thể hiện sức sáng tạo lần đầu của nhân loại, thể hiện trong các nền văn minh, các nền văn hóa có giá trị bất hủ. Mỗi đất nước, tùy theo truyền thống văn hóa của mình mà đề xuất cho người đọc nước mình một danh sách đọc tối thiểu. Người Trung Quốc xem Thập tam kinh, Kinh thi, Sử kí, thơ Đường Tống, tiểu thuyết Minh Thanh là kinh điển, đồng thời cung coi Iliad, Odissey, Thần khúc, Shakespeare, Chiến tranh và hòa bình, Kinh thánh là kinh điển phải đọc. Có người quy vào 10 tác phẩm dân tộc và 10 tác phẩm thế giới. Đọc được 20 tác phẩm ấy coi như có được trình độ văn hóa cơ bản của dân tộc và nhân loại.

Ở Việt Nam vào năm 1957 nhà văn Trần Thanh Mại trong sách Thanh niên với sáng tác, lần đầu tiên nêu ra yêu cầu đọc tối thiểu đối với nhà văn trẻ như sau: Về cổ văn, cần thấm nhuần nền văn học truyền miệng của dân tộc: tục ngữ, ca dao, truyện cổ tích, truyện tiếu lâm, câu đố, câu đối, phú, văn tế. Ca dao tục ngữ cần học thuộc lòng, thật nhiều. Những văn kiện này có nhiều khả năng xây dựng cho cái năng khiếu văn nghệ. Đọc nhiều thơ Đường luật của ta,. Truyện Kiều thì tất nhiên phải học thuộc lòng từng đoạn. Anh mà không thuộc lấy được 812 câu trong 3254 câu của Truyện Kiều thì anh đừng hòng trở thành văn nghệ sĩ Việt Nam. Học thuộc lòng thơ Hồ Xuân Hương, thơ Tú xương, cố gằng tìm hiểu thơ Nguyễn Trãi, Đọc Hoàng Lê nhất thống chí. Nghiên cứu nhiều văn chương Tư lực văn đoàn, đặc biệt là Thạch Lam. Học thuộc lòng một số thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính. Học thơ Tố Hữu, đọc Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Chí Phèo của Nam Cao. Về văn học Trung Quốc trước hết cần đọc hết các bộ truyện từ Đông Chu liệt Quốc cho đến Hán Đường Tống Nguyên, Minh, Thanh. Đọc Thuyết Đường, Phản Đường, Tiết Nhân Quý chinh Đông, Tiết Đinh San chinh Tây, Không thể bỏ sót Tam Quốc, Tây Du, Thủy Hử, Hồng Lâu Mộng, Tây Sương kí, Liêu Trai, Học thuộc lòng một số thơ Đường. Học thuộc lòng nguyên văn bài Tỳ bà hành và Quy khứ lai hề. Nguyên văn chữ Hán Việt bài Đằng vương các. Anh không đọc làu làu, không nằm một mình mà ngâm nga một số thi phú cổ Trung Quốc bằng tiếng Hán Việt, làm cho các cô gái hàng xóm phải dứng chân ngoài cửa sổ ngơ ngác nhìn vào, thì anh đừng hòng làm nhà thơ Việt Nam.” Hãy nhớ đây là đề nghị vào năm 1957. Tập thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi phải đến sau đó mới do Phạm Trọng Điềm và Nguyễn Khắc Hanh phiên âm. Thơ chữ Hán Nguyễn Du chưa phiên dịch. Năm 1961 mới có đánh giá toàn diện về Nam Cao. Sự quan tâm nhiều đến thơ Mới và Tự lực văn đoàn cũng như thơ văn cổ đã khiên cuốn sách bị phê phán nặng nề. Tác giả cũng nhắc đến đến văn học phương Tây, các công trình văn hóa như kinh thánh, kinh Phật. Trần Thanh Mại chỉ chưa nói đến văn học chủ nghĩa hiện đại, nhưng quan niệm của ông rất rộng mở, tất nhiên danh sách có chỗ hơi nhiều, hơi thừa. Điều này đã cho thấy nhà văn Việt Nam từ lâu đã quan tâm đến văn hóa đọc của nhà văn, xây dựng một danh sách tác phẩm kinh điển đối với người muốn trởi thành nhà văn Việt Nam. Tất nhiên những người làm công việc lí luân, phê bình văn học, các nhà giá văn học, ngoài các tác phẩm trên, còn cần xây dựng cho mình một bộ sách kinh điển khác nữa gồm những tác phẩm lí luận phê bình nổi tiếng thế giới. Bộ sách kinh điển là thước đo kiến thức tối thiểu đối với người làm nghề, cái tạo nên ngôn ngữ chung để cùng bàn bạc.

Nói đến văn hóa đọc không thể không nói đén thói quen đọc, phương pháp đọc và danh mục sách cần phải đọc. Đọc đủ thứ mà bỏ qua một tối thiểu kinh điển không thể nâng cao trình độ văn hóa lên được.

5 – 11 – 2013
TĐS
 

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

HÔM NAY, GIỚI THIỆU SÁCH VỀ DIDEROT TẠI TRUNG TÂM VĂN HÓA PHÁP TẠI HN

 

Hôm nay, Giới thiệu sách:

 

DENIS DIDEROT – TỪ MỸ HỌC ĐẾN CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT 
Diễn giả: Phùng Văn Tửu, Trần Đình Sử 

14:00, thứ Sáu, ngày 06 tháng Chín năm 2013,
Thư viện L’Espace, 24 Tràng Tiền, Hà Nội

Chỉ còn ít ngày nữa là tròn ba trăm năm ngày sinh Diderot (1713 – 1784), kiến trúc sư của công trìnhBách khoa toàn thư đồ sộ, nhà văn có nhiều đóng góp độc đáo, nhà triết học duy vật, sôi nổi “lòng yêu chân lý và chính nghĩa” nhà mỹ học, nhà lý luận và phê bình nghệ thuật nổi tiếng ở Pháp. Ông là “nhà thơ lớn, họa sĩ lớn, nhà điêu khắc lớn, nhạc sĩ lớn… tuy chưa từng bao giờ làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc, nặn tượng”. Tuy ông sống cách chúng ta đã lâu, thời đại của ông khác xa với thời đại bây giờ, nhưng sự nghiệp của ông nói chung, các công trình mỹ học và lý luận phê bình nghệ thuật của ông nói riêng, vẫn là những đóng góp quý báu để thế hệ chúng ta ngày nay sàng lọc, rút ra những điều bổ ích. 

Cuốn “DENIS DIDEROT Từ mỹ học đến các loại hình nghệ thuật” được dịch giả Phùng Văn Tửu lựa chọn, tổng hợp trong khuôn khổ bảy công trình quan trọng bàn về mỹ học và văn học nghệ thuật của Diderot:Luận về cái đẹp  (Traité du beau), Về những tác giả và các nhà phê bình (Des auteurs et des critiques), Những tùy bút về hội họa (Essais sur la peinture), Châm biếm 1 (Satire I), Tán dương Richardson ((Éloge de Richardson), Trò chuyện với Dorval về đứa con hoang (Entretien sur Le Fils naturel), Ý kiến ngược đời về diễn viên (Paradoxe sur le comédien).

Nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày sinh Diderot (1713 – 1784), Nhà xuất bản Tri thức vàTrung tâm văn hóa Pháp tổ chức buổi giới thiệu sách “DENIS DIDEROT Từ mỹ học đến các loại hình nghệ thuật” tại thư viện L’espace vào hồi 14h, thứ Sáu ngày 06 tháng 09 năm 2013. Cuốn sách đặt ra nhiều vấn đề về mối quan hệ giữa cái thật, cái tốt và cái đẹp, về phong cách phê bình, về hội họa và kiến trúc, về diễn xuất của diễn viên trên sân khấu,…

Thông tin về diễn giả
GS Phùng Văn Tửu nguyên giáo sư Khoa Ngữ Văn trường Đại học sư phạm Hà Nội, là nhà giáo, dịch giả, nhà nghiên cứu phê bình văn học Pháp và văn học phương Tây.
GS Trần Đình Sử nguyên giáo sư Khoa Ngữ Văn trường Đại học sư phạm Hà Nội chuyên về lý luận văn học.
____________________
Các hội thảo - tọa đàm khác, cùng trong tháng 09:
NGÀY 10.9: 
Hội thảo: Lịch sử trang phục Việt Nam qua “Ngàn Năm Áo Mũ”
Với sự tham gia của các nhà nghiên cứu: Trịnh Bách, Phạm Văn Ánh, tác giả Trần Quang Đức, và MC Nguyễn Hoàng Diệu Thủy
Thời gian: 18h00 tại Hội trường TT Văn Hóa Pháp

NGÀY 19.9:
Tọa đàm MƯỜI THẾ KỶ MỘT HÀNH TRÌNH VĂN HỌC.
Diễn giả: GS. Nguyễn Huệ Chi, tác giả cuốn sách Văn học cổ cận đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật; cùng GS. Nguyễn Khắc Phi, GS. Chu Hảo và TS Đặng Thị Hảo.
Bàn luận trao đổi 4 vấn đề chính: Chủ nghĩa nhân văn trong văn học cổ Việt Nam, khát vọng tự do và khát vọng giải phóng dân tộc, các trường phái và các tiến trình phát triển của văn học Việt Nam, tư duy nghệ thuật phương Đông trong mối quan hệ so sánh giữa Đông và Tây.
Thời gian: 14h00 tại Hội trường TT Văn hóa Pháp.

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

Trần Đình Sử: ĐÔI ĐIỀU THƯA LẠI VỚI NHÀ THƠ TRẦN TRƯƠNG

Lời dẫn của Lâm Khang chủ nhân: Vừa qua, chúng tôi có đăng tải bài viết "Nghề văn không sang trọng" của tác giả Trần Đình Sử (ảnh bên). Tác giả là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, một nhà nghiên cứu hàn lâm, một nhà sư phạm từng giảng dạy Lí luận Văn học hơn 50 năm tại các đại học. Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ cho cụm công trình nghiên cứu về Thi pháp học. Ông cũng từng là ủy viên Hội đồng Lí luận Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương. 

Bài viết nhỏ, ghi lại tâm tư của GS. TS Nhà văn Trần Đình Sử được nhiều người tán thưởng và bàn luận. Đã có 3 bài viết trao đổi thêm xung quanh bài của Trần Đình Sử. Đầu tiên là bài "Nghề văn không sang trọng thì nghề nào hơn" của Nguyễn Hoàng Đức đăng trên trang Nguyễn Tường Thụy,  rồi đến bài "Nghề văn không sang trọng nhưng văn chương lại cần sự sang trọng" của đạo diễn - nhà báo Nguyễn Anh Tuấn đăng trên TranNhuong.com, và gần đây nhất là bài "Mấy lời với ông Trần Đình Sử" của nhà văn Trần Trương cũng đăng trên TranNhuong.com.

Mặc dù tôi đã biết về ông Trần Trương, một người có khuôn mặt phúc hậu, tướng mạo khá đẹp đẽ, dáng vẻ hào hoa phong nhã, giọng nói vang như chuông và âm sắc đẹp, tuổi đã cao mà vẫn còn mẹ già để phụng dưỡng, nhưng ẩn giấu đằng sau đó là một nhân cách không tương xứng; ấy vậy mà tôi vẫn quá bất ngờ khi đọc bài của ông. Tôi nghĩ, chắc Giáo sư Trần Đình Sử sẽ không mất thời giờ với ông Trần Trương. Chắc là thế rồi! 

Ấy thế mà trưa nay (16.8), tôi lại nhận được bài viết của ông về bài của Trần Trương, thì đây, khi đọc hết, mới thấy Trần Đình Sử không chỉ dành bài này cho một Trần Trương. Trên văn đàn quốc doanh nước nhà sao mà lắm Trần Trương đến thế!

Đôi điều thưa lại với nhà thơ Trần Trương 
Trần Đình Sử 

Tôi là một nhà khoa học nhân văn, trong thời buổi đổi mới, có rất nhiều vấn đề lí luận văn học cần được nhận thức lại, vì thế mà tôi đã cố gắng nêu nhiều vấn đề. Tôi tự thấy mình có khả năng và điều kiện đối thoại với các bạn bè, đồng nghiệp trên các vấn đề ấy, ngõ hầu đưa nền tư duy lí thuyết của chúng ta tiến thêm cho kịp các nước tiên tiến. Nhưng hóa ra ước mong của tôi chỉ là ảo vọng hão huyền. Bởi khi tôi đọc bài Mấy lời với ông Trần Đình Sử đăng ngày 15/8/2013 trên trang Trannhuong.com của nhà thơ Trần Trương thì tôi hoàn toàn thất vọng. Hóa ra ở Việt Nam hiện nay vẫn hoàn toàn không có đối thoại. Thì xin hãy đọc kĩ bài của nhà thơ Trần Trương.

Thay vì đối thoại, nhà thơ Trần Trương chọn cách bôi bác, chế giếu, nói kháy, xách mé. Ông bảo tôi đi học ở Trung Quốc vào thời Cách mạng văn hóa, nhưng ông không biết rằng, thời cách mạng văn hóa ở Trung Quốc các trường đại học đều đóng của, sinh viên đi lao động cải tạo ở nông thôn, còn lưu học sinh nước ngoài thì ai về nước nấy. Anh đọc câu vè : “Trình độ văn hóa cấp ba,Thế mà bỗng chốc được là giáo sư, Giáo sư mà dốt bỏ xừ, Tiếng Tây chỉ thuộc mỗi từ..”Măng-giê”(Tiếng Pháp= Ăn).” Có thể nước ta trong thời buổi háo danh có người gian lận về bằng cấp, nhưng nói chung về giáo sư Việt Nam, nói riêng về tôi là không đúng và là xúc phạm danh dự. Tôi bảo vệ tiến sĩ năm 1980, phong phó giáo sư năm 1990, phong giáo sư năm 1996, là một quá trình phấn đấu cật lực về chuyên môn, không ai được xúc phạm. Từ năm 1961, trong hơn nửa thế kỉ, tôi đã đào tạo hàng ngàn sinh viên đại học, hàng trăm thạc sĩ, ba chục tiến sĩ, trong các học trò đó có nhiều người đã thành giáo sư, phó giáo sư , có người làm thứ trưởng, vụ trưởng, viện trưởng, trưởng khoa, chủ nhiệm bộ môn, trưởng phòng đào tạo…Tôi đã là Nhà giáo ưu tú, Nhà giáo Nhân dân, đã nhân giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ từ năm 2000, thì những lời nói như trên là sàm sở, thiếu đứng đắn. Ông bảo tôi chỉ là phó tiến sĩ, “sau này tự nhiên thành giáo sư”. Xin thưa không có gì tự nhiên hết, đó là chủ trương của Nhà nước ta, muốn chuân hóa đào tạo cán bộ. Ông đã không biết mà lại nói xách mé. Toàn bộ phó tiến sĩ ở nước ta đều là tiến sĩ cả, không riêng một mình ai. Vậy thì có gì đáng chế giễu ở đây? Ông chê tôi dốt ngoại ngữ, không đọc được tác phẩm “bản ngữ”, mà chỉ đọc theo bản dịch. Ông không biết rằng tôi đã dịch bảy cuốn sách khoa học từ tiếng Nga và tiếng Trung, tái bản nhiều lần và cho đến nay vẫn tiếp tục dịch, lược thuật, giới thiệu các tài liệu nước ngoài cho bạn đọc Việt Nam. Ông chê chúng tôi dốt, không đọc được “Bản ngữ” nước ngoài, ông phê thế chúng tôi không hiểu được, bởi vì “bản ngữ” là tiếng mẹ đẻ của người nói, mà chúng tôi có phải là nguời nước ngoài đâu. Muốn chê đúng thì phải nói không đọc được “nguyên bản” tiếng nước ngoài, chứ không phải là bản ngữ như ông nói. Ông nói cũng đúng với nhiều trường hợp, nhưng không đúng với tôi. Ông thấy đấy, những lời xách mé, chế giếu của ông đều không đúng sự thực và không có chút giá trị gì, ngoài sự chúng tỏ là ông còn hạn chế nhiều về hiểu biết. Ông là nhà thơ mà không biết rằng, mọi châm biếm, chế giễu chỉ có giá trị khi nó đi đối với sự thật. Sự dối trá, bịa đặt chỉ là sự phỉ báng vớ vẩn.

Nói cho đúng, ông Trần Trương cũng có lúc muốn trao đổi lại về vấn đề nghề văn không sang trọng của tôi. Nhưng ý kiến của ông đầy mâu thuẫn và sai lầm. Thoạt đầu ông phủ nhận việc có người xướng ra cái thuyết nghề văn sang trọng”. Ông viết : “có ai nói nghề văn là nghề sang trọng đâu?, chắc ông (tức là tôi – TĐS chú) có nghe đâu đó ở những “diến đàn” bia bọt nào đó, chứ trên văn đàn chính thống ở các hội nghị nghiêm chỉnh không có vị lãnh đạo hoặc nhà văn nào dám nói thế..” Nhưng cách đó mấy dòng ông lại viết: “Tôi hiểu cao qúi và sang trọng có mối liên kết chặt chẽ với nhau. Làm một hành động cao quý hay viết một tác phẩm hay đến mức cao quí thì đó cũng có thể là sang trọng. Nhưng khi tác giả được nhìn nhận là sang trọng thì  chắc chắn họ có những tác phẩm cao quý.” Câu này chứng tỏ ông là người ủng hộ thuyết nhà văn sang trọng chứ chối làm sao được. Tôi nói có đối tượng đấy chứ, không nói không bao giờ. Xin lưu ý với ông là nhiều lời nói chính thống và ở hội nghọ nghiêm chỉnh không tác động vào con người mạnh mẽ bằng lời nói ở diễn đàn bia bọt đâu. Cái thiếu sót thứ nhất của ông là không phân biệt được nghĩa của từ sang trọng và từ cao quý, lẫn lộn chúng với nhau. Sang trọng là từ chỉ sự giàu có, quyền thế hơn người về địa vị, quan chức, của cải vật chất, ví như nhà cửa sang trọng, áo quần sang trọng, đồng hồ sang trọng, địa vị sang trọng, đám ma sang trọng, đám cưới sang trọng…Trong các trường hợp ấy không thể thay thế chữ cao quý vào được. Những cái sang trọng thường nằm ở bên ngoài con người, ai nhìn cũng thấy được. Thấy một người đi ô tô đắt tiền, ăn mặc chưng diện, ta có thể nói ngay, một người sang trọng. Nhưng người ấy có cao quý hay không là chuyện khác, bởi cái cao quý nhìn bề ngoài không thấy được. Phải sống, giao tiếp, thể nghiệm mới nhận thấy. Chữ cao quý chỉ phẩm chất về tinh thần, cho nên tôi nói, nghề văn cần cao quý, chứ không cần sang trọng. Chữ nghề văn sang trọng nó không thích hợp và dễ gây ngộ nhận. Thiếu sót thứ hai là do không phân biệt được hai từ đó cho nên lập luận không chặt chẽ. Cái lập luận của ông cho rằng “khi tác giả được nhìn nhận là sang trọng thì chắc chắn họ có những tác phẩm cao quý.” là không đúng. Trước khi “vụ thơ” Hoàng Quang Thuận đổ bể, hẳn mọi người đều thấy là ông ấy sang trọng, có chức vụ “viện trưởng”, đi ô tô, có nhiều tiền, nghĩ rằng thơ ông ấy “chắc chắn” là cao quý, rồi hết lời ca ngợi. Nhưng khi ca ngợi rồi thì mới biết thơ ông ấy không cao quý gì cả. Đó, nhầm lẫn sang trọng với cao quý tai hại như vậy đó.

Điều quan trọng nhất cuối cùng là ông không hiểu nội dung bài viết ngắn của tôi. Đúng như PGS Nguyễn Thị Minh Thái có nói, “bi kịch đọc không vỡ chữ”. Đã đọc không hiểu thì khó bàn bạc được gì cho rõ ràng. Ông không hiểu thì ông suy diễn : “Tự nhiên ông (tức là tôi - TĐS) đặt điều ra là nghề văn là nghề không sang trọng rồi có vẻ muốn bôi bác Hội Nhà văn.” Xin hỏi ông Trương, tôi có vẽ bôi bác Hội nhà văn ở chỗ nào? Xin ông cho biết câu chữ cụ thể nào thể hiện sự bôi bác đó ? Ông có biết là ông đang vu cáo tôi không? Hiện tượng háo danh đã rất phổ biến trong thực tế, là một hiện tượng tâm lí xã hội, không phụ thuộc vào Hội nhà văn. Chính hiện tượng đó gây gánh nặng, áp lực cho Hội nhà văn đấy. Đả phá tâm lí ấy chính là giúp cho Hội nhà văn nhẹ gánh hơn. Ông lại nói : “Cách viết của ông (tức là tôi – TĐS) trong mấy bài viết gần đây tôi thấy :”Loằng ngoằng” quá”. Tôi là người làm lí thuyết, thích tư duy logich rạch ròi, không tư duy được theo kiểu nhà thơ, cho nên không biết thế nào “loằng ngoằng”.

Dù có thất vọng thế nào thì con đường đi tới của lí luận phê bình vẫn phải là đối thoại, chứ không phải đối đầu. Muốn đối thoại thì ta phải học, trước hết cần biết tôn trọng người đối thoại. Sau là lắng nghe ý kiến trái chiều của người ta. Sau nữa cũng cần có chung một nền tảng tri thức. Hiện nay trong xã hội ta đang thịnh hành các khung tri thức khác nhau. Rất đông người theo hệ tri thức tiền hiện đại (cổ điển), một số người theo tri thức hiện đại, một số khác trẻ hơn theo tri thức hậu hiện đại. Thế là khó hiểu nhau rồi. Chúng ta không thể tiêu diệt người theo khung tri thức này, bỏ tù người theo khung tri thức kia. Để hiểu nhau chỉ có con đường đối thoại. Đối thoại là đi tìm cái chung chân lí. Chỉ cho mình là duy nhất đúng, cứ thế mà kết luận, xử lí thì có cần đối thoại nữa hay không?

T.Đ.S