Hiển thị các bài đăng có nhãn trao đổi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trao đổi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

Mai Thái Lĩnh: THÁC BẢN GIỐC - NHỮNG CĂN CỨ PHÁP LÝ

Thác Bản Giốc - Những căn cứ pháp lý
(Phản biện bài trả lời của ông Trần Công Trục [1])

Mai Thái Lĩnh

Trước hết, tôi ghi nhận thiện ý của ông Trần Công Trục khi ông viết: “tôi mong muốn thông qua quá trình trao đổi, đối thoại để thu hẹp khoảng cách trong nhận thức xã hội về vấn đề chủ quyền lãnh thổ sao cho có lợi nhất cho công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hợp pháp của quốc gia, dân tộc, đặc biệt trong bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông ngày càng gia tăng và tiềm ẩn những nhân tố khó lường.”

Tuy nhiên, để có thể “thu hẹp khoảng cách” trong nhận thức của xã hội về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, chúng ta không thể dựa trên ý chí của từng cá nhân, từng nhóm người hay thậm chí dựa trên ý chí của một đảng chính trị – cho dù đảng đó đang nắm giữ bộ máy Nhà nước. Khoảng cách đó chỉ có thể được thu hẹp và tạo nên sự đồng thuận một khi dựa trên quyền lợi chung của toàn dân tộc, và nhất là phải tôn trọng sự thật. Ngày nay, với phương tiện truyền thông có tính toàn cầu, không thể bưng bít sự thật hay tìm cách khuôn sự thật theo ý muốn của một cá nhân hay một nhóm người nào cả.

Về những bằng chứng lịch sử liên quan đến Thác Bản Giốc, tôi có một cách nhìn hoàn toàn khác với ông Trần Công Trục, bởi vì đối với đường biên giới Việt-Trung – vốn là một đường biên giới có lịch sử lâu đời và có liên quan đến sự tồn vong của dân tộc ta, đất nước ta, không thể không đề cập đến phương diện lịch sử. Hơn thế nữa, những bằng chứng lịch sử đó có từ rất lâu – trước khi Đảng Cộng sản nắm chính quyền trên toàn miền Bắc, thậm chí trước khi Đảng Cộng sản ra đời, vì thế không thể nói rằng đó là kết quả của “hệ thống tài liệu tuyên truyền chính thức” trong giai đoạn cuối thập niên 1970 – khi quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng. Chính vì lẽ đó, tôi đã giới thiệu lại các bài viết của ông Diệp Đình Huyên (tức Hàn Vĩnh Diệp) để chứng minh rằng “Thác Bản Giốc hoàn toàn thuộc về Việt Nam” từ rất lâu và suốt trong thời kỳ quan hệ giữa hai nước vẫn còn hữu hảo, phía Trung Quốc không hề thắc mắc gì về “sự thật” này. Hơn thế nữa, nếu Việt Nam thật sự là một quốc gia dân chủ bảo đảm đầy đủ quyền tự do ngôn luận cho mọi công dân thì sẽ có rất nhiều người noi gương ông Diệp Đình Huyên sẵn sàng đứng ra làm nhân chứng cho “sự thật” đó.

Trong phạm vi của bài phản biện này, tôi tạm thời gác lại khía cạnh lịch sử của chủ đề “Thác Bản Giốc”, để tập trung bàn về những căn cứ pháp lý.

1) Tại sao các tài liệu liên quan đến Thác Bản Giốc và Cồn Pò Thoong không được mang đi đàm phán?

Ông Trần Công Trục viết: “Về nguyên tắc chung tôi đã nói rõ trong bài phỏng vấn ngày 3/9 trên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam cũng như nhiều lần đã phân tích, các tài liệu ông Lĩnh nêu ra trên đây mặc dù là tài liệu chính thức của các cơ quan nhà nước Việt Nam ban hành công khai và rộng rãi thời kỳ những năm 1979 nhưng không được xem là “căn cứ pháp lý” được thỏa thuận để làm cơ sở giải quyết tranh chấp biên giới phía Bắc, vì rõ ràng các tài liệu này không phải là bộ phận cấu thành của Công ước Pháp – Thanh 1887, 1895 mà 2 nước Việt Nam, Trung Quốc đã thỏa thuận lấy làm căn cứ pháp lý để hai bên tiến hành hoạch định biên giới.”

Như vậy, theo ông Trục, các tài liệu này không được sử dụng vì “không phải là bộ phận cấu thành của Công ước Pháp – Thanh 1887, 1895 mà 2 nước Việt Nam, Trung Quốc đã thỏa thuận lấy làm căn cứ pháp lý để bai bên tiến hành hoạch định biên giới.”

Thế nhưng, việc lấy hai công ước Pháp-Thanh 1887 và 1895 để làm cơ sở đàm phán trong vấn đề biên giới không phải là điều mới mẻ. Theo cuốn VĐBG (Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc) [2] thì vào năm 1977, để phá vỡ thế bế tắc trong đàm phán biên giới, phía Việt Nam đã đưa ra một “dự thảo hiệp định” [3], trong đó điều 1 có nội dung như sau:

[Điều 1] Hai bên chính thức xác nhận đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được hoạch định và cắm mốc theo các văn kiện về biên giới ký kết giữa Chính phủ Cộng hoà Pháp và Chính phủ nhà Thanh Trung Quốc là đường biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. 

Các văn kiện biên giới đó gồm có: (1) Công ước về hoạch định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc ký ngày 26 tháng 6 năm 1887, với các biên bản và bản đồ hoạch định kèm theo. (2) Công ước bổ sung Công ước về hoạch định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc ngày 26 tháng 6 năm 1887, ký ngày 20 tháng 6 năm 1895, với các biên bản và bản đồ hoạch định kèm theo. (3) Các biên bản và bản đồ cắm mốc thực hiện hai Công ước nói trên ký kết từ ngày 15 tháng 4 năm 1890 đến ngày 13 tháng 6 năm 1897, ngày hoàn thành việc cắm mốc đoạn đường biên giới giữa Bắc Kỳ (Việt Nam) và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Trong các điều khoản sau đây, các văn kiện về biên giới nói trên được gọi tắt là “ Công ước 1887 và Công ước 1895”.

Nội dung này không có gì khác với “nguyên tắc chung” mà ông Trần Công Trục nêu ra.

Vấn đề đặt ra là: tại sao dựa vào điều khoản căn bản đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam vào cuối thập niên 1970 vẫn có đủ căn cứ pháp lý để khẳng định rằng phía Trung Quốc đã “vi phạm ngày càng nghiêm trọng sự thoả thuận đó và không tôn trọng nguyên tắc giữ nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại, và đã lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở 90 điểm trên toàn tuyến biên giới Việt Trung từ 1949 đến nay.”? [4] Bất cứ ai đọc được điều này cũng có thể đặt câu hỏi: Bộ Ngoại giao Việt Nam vào thời kỳ đó đã căn cứ vào hệ thống bản đồ nào và những chứng cứ pháp lý nào để khẳng định Trung Quốc vi phạm đường biên giới?

Mặt khác, ông Trần Công Trục lại viết: “Tôi không phủ nhận những giá trị của các tài liệu chính thức của ta mà ông Mai Thái Lĩnh đề cập, nhưng nó chỉ có giá trị trong thời điểm đó và bối cảnh đó, những tài liệu như vậy không thể mang đi đàm phán.”

Điều này quả thật rất khó hiểu. Hãy lấy một ví dụ: các tài liệu chứng minh “vào năm 1976 Trung Quốc đã dùng vũ lực xâm chiếm cồn Pò Thoong – một địa điểm hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam” thì cho dù vào năm 1979 hay vào năm 1999 cũng đều có giá trị như nhau chứ sao lại “chỉ có giá trị vào năm 1979” và đến thập niên 1990 lại “không thể mang đi đàm phán”?

Để hiểu rõ vấn đề này, có lẽ chúng ta cần phải tìm hiểu ý nghĩa của các tài liệu mà tôi nêu ra trong bài “Sự thật về Thác Bản Giốc”:

- Tài liệu 1 về việc Trung Quốc đã “sửa bản đồ” vào năm 1955-56 để âm mưu chiếm cồn Pò Thoong và một phần Thác Bản Giốc: đây chính là bằng chứng về việc Trung Quốc đã sửa chữa bản đồ, làm sai lạc vị trí của cột mốc 53; nói cách khác qua tài liệu này chúng ta được biết cột mốc 53 nằm ở vị trí khác chứ không phải nằm ở vị trí của cột mốc 835 (mới) hiện nay (xem bản đồ – hình 1 và hình 2):

15.png
Hình 1: Sơ đồ Thác Bản Giốc được phân chia lại



22.png
Hình 2: Bản đồ khu vực Thác Bản Giốc hiện nay. 
Cột mốc 835 chính là vị trí mới của cột mốc 53

- Tài liệu (2) về việc xây dựng trạm thủy văn trên cồn Pò Thoong vào thập niên 1960: chứng minh vào thập niên 1960, cồn Pò Thoong hoàn toàn thuộc về Việt Nam;

- Tài liệu (3) về việc Trung Quốc đưa quân lấn chiếm cồn Pò Thoong vào năm 1976: chứng minh Trung Quốc đã lấn chiếm cồn Pò Thoong bất hợp pháp, vì vậy việc chia cồn này theo công thức “1 phần 4 thuộc về Việt Nam, 3 phần 4 thuộc về Trung Quốc” là hoàn toàn bất hợp lý;

- Tài liệu (4) gồm hai tờ bản đồ Trùng Khánh số hiệu 6354-IV do Quân đội Nhân dân Việt Nam in vào những năm 1976 và 1980: cho phép xác định vị trí của các cột mốc cũng như đường biên giới một cách chính xác (xem bản đồ tại hình 3).

31.png
Hình 3: Vị trí nguyên thủy của cột mốc 53 (Trích bản đồ Trùng Khánh 6354-IV)

Có thể nói: từ bỏ các tài liệu đó đồng nghĩa với việc từ bỏ các vũ khí pháp lý hữu hiệu nhất để bảo vệ “chủ quyền của nước ta đối với cồn Pò Thoong và toàn bộ Thác Bản Giốc”.

Theo ông Trần Công Trục: “Những người làm công tác đàm phán chúng tôi đã nghiên cứu kỹ các tài liệu ông Mai Thái Lĩnh vừa nêu nên chúng tôi rất hiểu và chia sẻ những băn khoăn của dư luận cũng như của ông Mai Thái Lĩnh.” Nếu đã nghiên cứu kỹ thì các vị làm công tác đàm phán không lẽ không biết vị trí nguyên thủy của cột mốc 53? Không lẽ các vị không biết Trung Quốc đã sửa bản đồ để âm mưu chiếm cồn Pò Thoong và một phần Thác Bản Giốc? Không lẽ các vị không biết Trung Quốc đã chiếm cồn Pò Thoong vào năm 1976 và đã “cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới” và như vậy là đã làm biến dạng cồn Pò Thoong?

2) Tại sao lại công nhận vị trí mới của cột mốc 53?

Nhưng tại sao trong khi từ bỏ các chứng cứ pháp lý có sẵn trong tay, các nhà ngoại giao nước ta lại “sốt sắng” công nhận vị trí mới của cột mốc số 53 được đoàn khảo sát “phát hiện” ra tại một địa điểm ngay trước mặt cồn Pò Thoong?

Vào năm 2002, ông Lê Công Phụng trả lời phóng viên Thu Uyên của VASC Orient [5] như sau:

VASC Orient: Chẳng nhẽ tất cả các khách du lịch, trong đó có những người có trách nhiệm, đi thăm thác Bản Giốc mà không phát hiện ra cột mốc nằm đó hay sao?

Ông LCP: Cột mốc không nằm sát Bản Giốc. Khi chúng tôi khảo sát thì mới thấy cột mốc nằm trên một cồn nhỏ ở giữa suối, cách đấy khoảng mấy trăm thước. Vì vậy nên cũng không mấy ai quan tâm đến cột mốc ở thác Bản Giốc.

Điều kỳ lạ là không biết dựa vào bằng chứng nào, ông Lê Công Phụng lại công nhận cột mốc đã được cắm ở đó từ đời nhà Thanh:

VASC Orient: Tức là cột mốc đang tồn tại đã được cắm từ thời Thanh?

Ông LCP: Đúng vậy. Cột mốc đang tồn tại đã được cắm từ thời Thanh, xác định chỉ có chưa được một nửa thác Bản Giốc là ở bên phía ta. Theo quy định quốc tế, khi phân giới cắm mốc thì thác được coi như một dòng sông, một dòng suối. Đã là sông suối thì đường biên giới đi qua luồng chính, tức là chỗ tàu thuyền đi lại được. Còn đối với sông suối nơi tàu thuyền không đi lại được, thì đường biên giới phải đi theo rãnh sâu nhất.

4.png
Hình 4: Thứ trưởng Ngoại Giao Việt Nam Vũ Dũng trả lời phỏng vấn 
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hoạt – Tổng Biên Tập báo Dân Quyền (2009)
Vào năm 2009, ông Vũ Dũng – lúc đó là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, đã dành cho báo Dân Quyền ở Hoa Kỳ một cuộc trả lời phỏng vấn, qua đó ông cho biết:

Trước khi ký hiệp ước 1999, chúng tôi đã cử rất nhiều đoàn đi khắp thế giới để tìm các hồ sơ liên quan đến Thác Bản Dốc, vào tất cả các kho lưu trữ và tìm được một bản đồ tốt nhất về vị trí Thác Bản Dốc. Căn cứ theo bản đồ, đường biên giới đi theo trung tuyến của sông Quây Sơn (đúng như công ước Pháp – Thanh mô tả), khi đó, vẽ đường biên giới đi ở nhánh phía bắc của cồn Pò Tho, có diện tích khoảng 2,7 ha. Ngay bản đồ tốt nhất mà ta tìm được, thác này vẫn là thác chung. Tôi xin khẳng định ta không có bất kỳ tài liệu gì cho thấy thác Bản Dốc là của Việt Nam. Nói về luật pháp quốc tế, sông này là sông chung, thác này không thể là thác riêng được, không thể có nước nào chấp nhận.” [6]

51.png

Tại sao phải cử nhiều đoàn đi khắp thế giới để tìm kiếm trong khi ngay tại Việt Nam đã có những bản đồ 1/50000 rất chính xác? Nhưng “tấm bản đồ tốt nhất” mà ông Vũ Dũng nói là bản đồ nào? Phải chăng đó chính là tấm bản đồ đã được công bố trong một bài báo đăng trên tờ Diễn đàn vào năm 2003? [7] Theo trình bày của ông Nguyễn Ngọc Giao, đây là bản đồ được tìm thấy tại Vụ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp:

52.png
Hình 5: Bản đồ tìm thấy tại Vụ lưu trữ Bộ ngoại giao Pháp

Nhìn bản đồ này, chúng ta thấy có nhiều nhược điểm: thể hiện không chính xác khu vực xung quanh thác, không có vòng cao độ, không có tọa độ địa lý, không xác định được mặt cắt của thác ba tầng, v.v… Nhưng đường biên giới vẽ trên bản đồ này vẫn cho thấy toàn bộ khu vực thác (hình trái xoan hơi giống quả trứng, trên có chữ chute) thuộc về lãnh thổ nước ta. Không có điều gì chứng tỏ “thác này vẫn là thác chung“. Nếu đặt bản đồ này bên cạnh bản đồ Trùng Khánh 6354-IV, nhờ có các vòng cao độ chúng ta có thể thấy rõ mặt cắt của thác nước nằm xiên góc theo hướng từ bắc – tây-bắc đến đông – đông-nam, và đường biên giới chạy giữa dòng sông về phía hạ lưu thác không hề động chạm gì đến mặt cắt của thác nước. Điều đó chứng tỏ toàn bộ thác nước thuộc về Việt Nam (xem hình 6). Nói cách khác, nếu các nhà đàm phán của Việt Nam có trong tay tấm bản đồ Trùng Khánh 6354-IV, thì họ càng có thêm chứng cứ để chứng minh toàn bộ Thác Bản Giốc là thuộc về lãnh thổ Việt Nam, và có thể xác định dễ dàng vị trí cũ của cột mốc 53.

6.png
Hình 6: So sánh bản đồ tại Bộ Ngoại giao Pháp và bản đồ Trùng Khánh6354-IV

Bây giờ ta thử đặt bản đồ Trùng Khánh 6354-IV bên cạnh tấm bản đồ do Trung Quốc cung cấp [8] (xem hình 7). Chúng ta sẽ thấy rõ: vạch răng cưa trên bản đồ thể hiện mặt cắt của thác nước gần như thẳng đứng theo hướng bắc-nam – khác hẳn thực tế. Hơn nữa, cột mốc 53 đáng lẽ nằm gần đầu mút phía bắc của vạch răng cưa đã bị dời đi một khoảng khá xa đến một vị trí đối diện với cồn Pò Thoong. Chính vì lẽ đó, đường biên giới đáng lẽ phân chia dòng Quây Sơn ở phía hạ lưu của thác nay lại cắt ngang cồn Pò Thoong và chia đôi phần thác chính cho phía Trung Quốc. Nói cách khác, nếu có tấm bản đồ Trùng Khánh trong tay thì ông Lê Công Phụng không thể xác định cột mốc 53 cắm ở vị trí đó “từ đời nhà Thanh” và ông Vũ Dũng không thể chia Thác Bản Giốc cho phía Trung Quốc.

7.png
Hình 7: So sánh bản đồ do Trung Quốc cung cấp với bản đồ Trùng Khánh 6354-IV


Ví dụ minh họa trên đây cho thấy: hoặc các nhà ngoại giao Việt Nam không hề biết đến các tờ bản đồ của QĐND, hoặc họ biết rõ (như lời ông Trần Công Trục đã nói) nhưng lại không được phép dùng, buộc phải sử dụng các tài liệu do Trung Quốc cung cấp. Nhưng nếu không biết thì tại sao ông Trần Công Trục lại khẳng định là đã nghiên cứu kỹ ? Mà nếu đã biết rõ thì tại sao quý vị lại dễ dàng công nhận vị trí mới của cột mốc 53, dẫn đến việc chia cồn Pò Thoong và Thác Bản Giốc? Chính những lời nói mâu thuẫn của các nhà ngoại giao Việt Nam tham gia đàm phán về Thác Bản Giốc đã bộc lộ sự lúng túng, bởi vì họ không dựa trên những tài liệu chính xác có tính khách quan, khoa học.

3) Tại sao không được phép sử dụng những tài liệu pháp lý mà Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng có sẵn trong tay?

Tại sao phía Việt Nam không được quyền sử dụng những tài liệu mà tôi đã nêu trên đây? Tại sao ông Trần Công Trục một mặt “không phủ nhận những giá trị của các tài liệu chính thức của ta” nhưng lại cho rằng chúng “chỉ có giá trị trong thời điểm đó và bối cảnh đó” và đi đến kết luận “những tài liệu như vậy không thể mang đi đàm phán”? “Thời điểm đó” và “bối cảnh đó” có gì khác với “thời điểm” cũng như “bối cảnh” sau này – tức là từ thập niên 1990 cho đến khi hoàn thành việc cắm mốc vào đầu năm 2009?

Theo tôi, để có thể hiểu được điểm tế nhị này, phải đọc kỹ cuốn VĐBG ¬– tức là “bị vong lục” của Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố năm 1979. Như trên đã trích dẫn, vào năm 1977, phía Việt Nam đã đưa ra một dự thảo hiệp định, trong đó điều 1 ghi rõ căn cứ đàm phán là các công ước Pháp Thanh 1887 và 1895. Thế nhưng ngoài điều 1 còn có điều 2 như sau:

[Điều 2] “Hai bên cam kết tôn trọng đường biên giới quốc gia giữa hai nước nói ở Điều 1. Những vùng đất nào do bên này quản lý vượt quá đường biên giới nói ở Điều 1 thì nay trả lại cho bên kia.“ (VĐBG, tr. 23)

Phía Trung Quốc đã bác bỏ bản Dự thảo Hiệp định này. Bộ Ngoại giao Việt Nam viết tiếp như sau: “Phía Trung Quốc đã từ chối xem xét bản dự thảo Hiệp định đó. Họ đưa ra một đề nghị khác, thực chất là đề nghị cũ của họ được sửa đổi. Ý đồ của họ là nhằm duy trì hiện trạng biên giới (không phải nguyên trạng đường biên giới lịch sử) nhằm giữ những chỗ họ lấn chiếm và sửa lại nhiều chỗ có lợi cho họ.” (VĐBG, tr. 26)

Như vậy, đàm phán vào cuối thập niên 1970 bị bế tắc là do chỗ Trung Quốc muốn duy trì “hiện trạng biên giới” chứ “không phải nguyên trạng đường biên giới lịch sử”. Nói cách khác, họ không chịu rút lui khỏi các khu vực mà họ đã dùng vũ lực lấn chiếm. Mục đích của họ là “giữ những chỗ họ lấn chiếm và sửa lại nhiều chỗ có lợi cho họ.”

Về sau, Trung Quốc còn tiếp tục đánh chiếm thêm một số địa điểm khác nữa, ví như cao điểm Núi Đất (1509) ở phía bắc tỉnh Hà Giang, mà phía Trung Quốc đã chiếm vào năm 1984 và đặt tên là Lão Sơn. Nhà văn Phạm Viết Đào đã công bố điều này trên blog của ông và đã phỏng vấn một số sĩ quan từng tham gia các trận đánh này. Rất tiếc là ngày nay nhà văn đã bị bắt giam nên không thể tham gia “đối thoại” với ông Trần Công Trục.

Dựa trên thực tế này, chúng ta có thể đặt câu hỏi: tại sao vào lúc đó Trung Quốc khăng khăng không chịu đàm phán với phía Việt Nam mà mãi đến thập niên 1990 mới thay đổi thái độ, đồng ý đàm phán và tiến hành cắm mốc biên giới? Phải chăng phía Việt Nam đã chấp nhận đàm phán mà không đòi hỏi phía Trung Quốc rút quân ra khỏi các vùng mà họ đã chiếm đóng, nghĩa là chấp nhận đàm phán dựa trên “hiện trạng” thay vì dựa trên “nguyên trạng đường biên giới lịch sử”?

Vào tháng 8 năm 2012, ông Nguyễn Trung – cựu đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, đã công bố bài viết “Phải chặn đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990” [9], trong đó có đoạn:

“Nhìn lại hơn 20 năm qua, điểm lại toàn bộ những việc trong quan hệ hai nước đã làm được, từ đàm phán biên giới trên bộ và dưới biển, phát triển quan hệ kinh tế, việc Trung Quốc trúng thầu hàng trăm công trình kinh tế quốc gia quan trọng của Việt Nam, thuê đất, thuê rừng, bô-xít Tây Nguyên, ti-tan ven biển miền Trung, những hoạt động tăng cường quan hệ thực ra là nhằm tăng cường chi phối nhân sự nước ta, những hoạt động tăng cường giao lưu.., tất cả đều chịu sự chi phối sâu sắc của quyền lực mềm Trung Quốc.”

Việc các nhà ngoại giao Việt Nam không được phép sử dụng các tài liệu pháp lý về Thác Bản Giốc có liên quan gì đến “sự chi phối sâu sắc của quyền lực mềm Trung Quốc” mà ông Nguyễn Trung vừa nêu hay không? Phải chăng Hội nghị cấp cao tại Thành Đô (tháng 9 năm 1990) – một hội nghị cực kỳ bí mật trong đó các nhà lãnh đạo hai bên đàm phán chuyện gì và cam kết điều gì cho đến nay vẫn chưa ai biết rõ, chính là khởi điểm của sự thay đổi lập trường của phía Trung Quốc trong vấn đề biên giới trên bộ? Và phải chăng sự thay đổi lập trường đó đồng nghĩa với việc phía Việt Nam chịu từ bỏ điều 2 trong Dự thảo Hiệp định năm 1977, nghĩa là không đòi hỏi Trung Quốc phải trả lại cho phía Việt Nam những vùng đất “vượt quá đường biên giới nói ở Điều 1“?

Nếu những điều suy đoán trên đây là đúng sự thật thì trách nhiệm chính không thuộc về các nhà ngoại giao Việt Nam – dù là tầm cỡ như các ông Lê Công Phụng, Vũ Dũng hay Trần Công Trục. Nó thuộc về trách nhiệm của một cơ quan quyền lực cao hơn –một cơ quan quyền lực không chịu sự chi phối của bất cứ cơ quan quyền lực Nhà nước nào trên đất nước Việt Nam, một cơ quan quyền lực có thể quyết định bất cứ điều gì và không bị ai kiểm soát.

Ông Trần Công Trục viết: “Và về quy trình đàm phán, chúng tôi đã có bài phân tích cụ thể trên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, trong đó nói rõ đường biên giới chủ trương do nhóm chuyên gia thực hiện công phu và nghiêm túc đã phải được các tỉnh có đường biên giới đi qua xác nhận, các bộ ngành có liên quan xác nhận, trong đó có Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, được Quốc hội chấp thuận thông qua, chúng tôi mới đem đi đàm phán.”

Tôi hoài nghi ý kiến này, nhất là về vai trò của Quốc hội. Không biết khi nói “Quốc hội chấp thuận thông qua”, ông Trục muốn nói đến “Ủy ban Thường vụ Quốc hội”, “Đảng đoàn tại Quốc hội” hay “toàn thể Quốc hội”? Nếu quả thật Hiệp định biên giới năm 1999 đã được toàn thể Quốc hội chính thức thông qua thì xin ông vui lòng cho biết phiên họp đó diễn ra lúc nào, nội dung thảo luận ra sao và khi biểu quyết, đã có bao nhiêu đại biểu tán thành, bao nhiêu phản đối, bao nhiêu bỏ phiếu trắng (kèm theo danh tính của các đại biểu đã biểu quyết từng loại phiếu).

Biên bản của phiên họp đó chắc chắn sẽ là một tài liệu vô cùng quý giá để các thế hệ sau này tham khảo khi cần xác định công, tội của từng vị đại biểu trước lịch sử và trước nhân dân Việt Nam. Nhưng riêng tôi, tôi không tin rằng đã có một phiên họp như thế.

Đà Lạt, 15/9/2013
MAI THÁI LĨNH
______________________
[1] “Ts Trần Công Trục trả lời ông Mai Thái Lĩnh về thác Bản Giốc“, Giáo dục Việt Nam, Thứ ba 10/09/2013:
[2] Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, Nxb Sự Thật, Hà Nội 1979
[3] Tên đầy đủ là “Dự thảo Hiệp định về đường biên giới quốc gia trên bộ giữa Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, VĐBG, sđd, tr. 21-26.
[4] VĐBG, sđd, tr. 8.
[5] Có thể xem nguyên văn bài phỏng vấn Thứ trưởng Ngoại giao Lê Công Phụng công bố trên VASC – Orient 2-2-2002 được lưu giữ tại địa chỉ:
[6] Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hoạt – Tổng biên tập báo Dân Quyền phỏng vấn Thứ trưởng Ngoại Giao Vũ Dũng, Dân Quyền 13-3-2009:
Tôi ghi nguyên văn, kể cả những lỗi chính tả (vd: Bản Dốc, Pò Tho, v.v…)
[7] Nguyễn Ngọc Giao, “Từ Nam Quan đến Bản Giốc”, Diễn Đàn số 129 tháng 5/2003.
[8] Bản đồ này cũng do báo Diễn đàn công bố trong bài báo nói trên.
[9] “Phải chặn đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990”, Bauxite Vietnam 13/8/2013:

Nguồn: Ba Sàm

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

ĐÃ CÓ ĐỦ CĂN CỨ PHÁP LUẬT CHO SỰ RA ĐỜI CỦA NHỮNG CHÍNH ĐẢNG MỚI

CÓ ĐỦ CĂN CỨ PHÁP LUẬT CHO SỰ RA ĐỜI 
CỦA NHỮNG CHÍNH ĐẢNG MỚI 

Phạm Đình Trọng

Nhà văn Phạm Đình Trọng
Trả lời phóng viên đài BBC, ông giáo sư Vũ Minh Giang, thành viên hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng: “Đề xuất việc thành lập đảng chính trị, nhất lại là đề xuất của những người đang là đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam thì đấy là nguyện vọng nào đó, mong muốn nào đó của cá nhân hay nhóm cá nhân nào đó...nhưng mong muốn đó phải nằm trong khuôn khổ pháp luật... Theo hiểu biết của tôi thì chưa có hệ thống (pháp luật) đó” Và “Nhiều thành phần kinh tế phải có đa nguyên đa đảng chỉ là logic hình thức”. *

Ấp úng, quanh co, ông giáo sư trong Hội đồng lí luận Trung ương nói rất dài cũng chỉ đưa ra một nội dung rất ngắn và hồ đồ là: Chưa có căn cứ pháp lí cho việc thành lập chính đảng mới.

Thưa nhà lí luận của Đảng và Nhà nước Cộng sản Việt Nam, giáo sư Vũ Minh Giang.

Với một thể chế, một xã hội lành mạnh và tử tế thì Nhà nước và pháp luật được hình thành theo một qui trình: Nhân dân lựa chọn và bầu cử ra những người quản lí xã hội được gọi là Nhà nước và Nhân Dân trao quyền cho Nhà nước để thực hiện chức trách trước Nhân Dân.

Kẻ có quyền thường lạm quyền để vụ lợi và áp bức người Dân thân cô thế yếu. Từ đó pháp luật phải ra đời. Nhà nước lại được người Dân ủy quyền soạn thảo ra pháp luật để quản lí xã hội và điều quan trọng hơn cả của pháp luật là ngăn chặn sự lạm quyền của kẻ cầm quyền để bảo vệ người Dân thấp cổ bé họng. Để bảo vệ người Dân, nguyên tắc thực thi pháp luật là: Quan chức chỉ được làm những việc pháp luật cho phép còn người Dân được làm mọi việc pháp luật không cấm.

Với thể chế Cộng sản, với xã hội Việt Nam thời Cộng sản, người Dân bị gạt ra ngoài rìa trong qui trình bầu chọn lập nên Nhà nước, trong việc hình thành xây dựng pháp luật. Nhà nước của Đảng. Quốc hội của Đảng. Chính phủ của Đảng. Đến các tổ chức xã hội cũng của Đảng nốt. Pháp luật cũng chỉ để bảo vệ sự độc tôn thống trị xã hội của đảng Cộng sản mà thôi. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, người Dân Việt Nam vẫn có đủ căn cứ pháp lí để lập lên chính đảng của mình khi cần thiết. Những căn cứ đó là:

1.  Không có luật nào và không có điều luật nào cấm người dân lập chính đảng. Người Dân được làm mọi việc pháp luật không cấm. Người Dân có đầy đủ quyền lập chính đảng của mình.

2.  Hiến pháp hiện hành cho người Dân quyền lập chính đảng khi điều 69 Hiến pháp 1992 hiện hành ghi: Công dân có quyền tự do ngôn luận. tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo qui định của pháp luật.

Hội và đảng chỉ là hai cách gọi khác nhau của một tổ chức chính trị. Như khi đảng Cộng sản Đông Dương muốn giấu mình đi liền đổi tên thành hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Người Dân có quyền lập hội đương nhiên cũng có quyền lập đảng. Nhà nước chưa có luật về lập hội chưa có luật về tự do ngôn luận, tự do báo chí là trách nhiệm, là thiếu sót của Nhà nước. Không thể vì thiếu sót của Nhà nước mà tước đoạt quyền công dân cơ bản mà Hiến pháp đã bảo đảm cho người Dân.

3.  Điều 52 của Hiến pháp 1992 hiện hành cho người Dân được quyền: Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Hơn ba triệu công dân Việt Nam có quyền lập lên đảng Cộng sản Việt Nam vậy thì hơn tám mươi triệu người Việt Nam còn lại cũng có quyền lập lên đảng chính trị của mình. Đó là là cơ sở pháp lí vững chắc bảo đảm cho mọi công dân Việt Nam được bình đẳng với những công dân đảng viên Cộng sản. Cấm công dân lập đảng chính trị của mình là vi phạm điều 52 Hiến pháp.

Khi ông giáo sư thành viên Hội đồng lí luận Trung ương lớn tiếng nói rằng nhiều thành phần kinh tế phải có đa đảng chỉ là logic hình thức là ông đã lớn tiếng bảo rằng chủ nghĩa Mác Lê nin chỉ là logic hình thức, không có thực chất, không có nội dung, là ông đã thẳng thừng bác bỏ chủ nghĩa Mác Lê nin mà đảng Cộng sản của ông đã lấy làm nền tảng tư tưởng.

Tất cả sự lụn bại của xã hội Việt Nam, sự nguy khốn của dân tộc Việt Nam hiện nay là do sự thao túng quyền lực của một đảng độc tài theo đuổi một học thuyết sai lầm và tội lỗi, một đảng không vì lợi ích dân tộc mà chỉ vì lợi ích của một nhóm người cầm quyền trong đảng độc tài đó. Một đảng chính trị mới ra đời là đòi hỏi khẩn thiết của cuộc sống, của lịch sử, là bước phát triến tất yếu và lành mạnh của xã hội Việt Nam. 

P.Đ.T. 

* ’Căn cứ đâu để lập chính đảng mới?‘ (BBC). 

THƯA GS. VŨ MINH GIANG, ĐẢNG CSVN HOẠT ĐỘNG TRÊN CƠ SỞ PHÁP LÝ NÀO?

 
Thưa ông Vũ Minh Giang,  
Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trên cơ sở pháp lý nào?*
Hoàng Xuân Phú
Hiến pháp 1992 có năm lần nhắc đến từ "Đảng", trong đó có ba lần ở "Lời nói đầu“, hai lần đề cập đến lịch sử và công lao của Đảng CSVN, lần thứ ba trong câu:
"Hiến pháp này... thể chế hoá mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.
Hai lần còn lại là ở Điều 4, nguyên văn như sau:
"Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Như vậy, mặc dù Hiến pháp 1992 khẳng định "Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, nhưng trong toàn bộ văn bản Hiến pháp không có quy định cụ thể nào về khuôn khổ mà Đảng CSVN được phép hoạt động, và cho đến nay vẫn chưa có "Luật về Đảng“ (hay tương tự) để quy định về quyền hạn, trách nhiệm, phạm vi và hình thức hoạt động của Đảng, cũng như hình thức xử lý khi tổ chức Đảng vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Rõ ràng, xét về lô-gíc, tính hợp pháp của việc "Công dân... biểu tình theo quy định của pháp luật“ khi chưa có Luật biểu tình không hề yếu hơn so với tính hợp pháp của việc "Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật“ khi chưa có "Luật về Đảng“. 
Vậy thì quý vị có cho là Đảng CSVN phải... đợi đến khi cóLuật về Đảng“ hay không?
*Đầu đề do T-blog đặt
 Trích trong bài Quyền Biểu tình của công dân của GS. Hoàng Xuân Phú

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

TRAO ĐỔI VỚI GS. VŨ MINH GIANG, NGUYÊN PGĐ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HN - BÀI 3

 
Trao đổi với Giáo sư Vũ Minh Giang: 
Cơ sở pháp lý cho phép việc thành lập
các chính đảng mới ở Việt Nam

Đào Tiến Thi

Trong trả lời BBC mới đây, GS. Vũ Minh Giang nói: “Hiện chưa thấy có cơ sở pháp lý nào để cho phép việc thành lập các chính đảng mới ở Việt Nam”.

GS. Vũ Minh Giang dùng chữ “cho phép” như trên khiến nhiều người cảm thấy phản cảm, vì liên hệ ngay đến cái cơ chế “xin cho” tồn tại lâu nay trong chế độ XHCN ở Việt Nam. Chính vì thế GS. Ngô Đức Thọ và nhà văn Phạm Đình Trọng đã phản ứng tức thời.

Lẽ dĩ nhiên Đảng CSVN chẳng bao giờ muốn một lực lượng khác bên cạnh mình. Nhưng muốn là một chuyện, còn điều muốn đó có hợp thức hay không, tốt xấu thế nào lại là chuyện khác. Bởi vì Hiến pháp hiện hành cũng như Điều lệ Đảng hiện hành đều ghi nguyên tắc của Đảng: “hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. 

Cho nên muốn kết tội tổ chức nào đó “bất hợp pháp” thì, về mặt chính danh (chỉ nói mặt chính danh thôi, chứ nếu bất chấp thì không có gì để bàn), cũng không thể qua mặt Hiến pháp và pháp luật. 

Dưới đây tôi xin đưa ra một số cơ sở pháp lý.

1. Hiến pháp hiện hành nói Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chứ không hề nói là đảng “duy nhất”, tức là không cấm một đảng thứ hai, thứ ba,...

2. Điều 69 Hiến pháp hiện hành ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật” (Đảng cũng là một kiểu “hội”). Quyền này đã nằm trên giấy đã gần 70 năm, chẳng lẽ còn bắt nó tiếp tục nằm trên giấy? Nếu còn muốn chung sống với nhân loại tiến bộ thì dứt khoát phải thực thi các quyền này.

3. Cũng từng đã có tiền lệ[1]: trước đây trong Quốc hội và Chính phủ đã từng có mặt đại biểu của Việt Nam Quốc dân đảng, Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam. Về sau Quốc dân Đảng bị đánh đuổi, nhưng hai đảng còn lại vẫn tồn tại bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến năm 1988. Xã hội ngày càng cần phải dân chủ hơn thì không lý do gì lại từ chối đa đảng.

4. Ông TBT Nguyễn Phú Trọng khi còn làm Chủ tịch Quốc hội, trong chuyến thăm Ấn Độ (2-2010) đã nói: “Thực tiễn các bạn thấy đất nước chúng tôi, chính trị, xã hội ổn định, nhân dân được làm chủ thực tế, quốc hội hoạt động ngày càng dân chủ (...), đất nước phát triển ngày càng đi lên. Thực tế trong hoàn cảnh cụ thể đất nước chúng tôi, thực hiện một đảng vẫn là hiệu quả nhất”. Vậy có nghĩa là: khi đất nước không còn ổn định, không còn phát triển, cơ chế một đảng không hiệu quả, trong khi ấy, đa đảng sẽ tốt hơn, thì Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không từ chối đa đảng. 

Phát biểu của GS. Vũ Minh Giang thực ra mang tính “nước đôi”. Tuy mang ý chí chính thống nhưng ông cũng không dám bác bỏ thực tế hiển nhiên. Vì vậy, ý này theo tôi là được:

Trong lịch sử Việt Nam kể từ khi sau cuộc Cách mạng tháng 8/1945, trong hệ thống chính trị từng có tồn tại một cơ cấu có những đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, lúc đó gọi là Đảng Lao động Việt Nam, thí dụ như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội, v.v...

Cho nên tôi cho rằng việc ở đâu đó có những người hoặc có những nhóm người xuất phát từ những quan niệm, những mong muốn mà họ có những đề xuất này khác, tôi cho cũng là hiện tượng bình thường thôi”.

Ta biết rằng Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam tuyên bố “tự giải tán” (năm 1988) chứ không phải bị cấm hoạt động. Hai đảng trên, dù quyền lực rất hạn chế, đã đóng góp rất lớn vào công cuộc kháng chiến kiến quốc suốt gần nửa thế kỷ. Ít nhất họ cũng làm “bình phong” cho Đảng Cộng sản để đoàn kết các thành phần xã hội, huy động sức mạnh toàn dân tộc và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Đảng Dân chủ Việt Nam có nhiều nhân vật trí thức sáng giá: Dương Đức Hiền, Vũ Đình Hòe, Nghiêm Xuân Yêm,... Đảng Xã hội Việt Nam cũng vậy: Hoàng Minh Giám, Phan Anh, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Xiển,... Nhiều lãnh tụ hai đảng trên được Nhà nước trao Huân chương Sao vàng.

Nhưng đến ý sau, Giáo sư nói: “Lý luận của một nhóm nào đó nói đa thành phần kinh tế ở hạ tầng cơ sở thì cũng có thể mở đường cho nhu cầu đa nguyên, đa đảng xuất hiện tương ứng ở thượng tầng kiến trúc có thể chỉ là suy luận lôgic hình thức” thì Giáo sư lại rất dại dột. “Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng”, “kiến trúc thượng tầng phù hợp với “cơ sở hạ tầng”, đấy là nguyên lý “nằm lòng” của những người theo chủ thuyết Mác-Lê nin. Chẳng lẽ Giáo sư lại hồn nhiên phủ định?

Nói thêm

GS. Vũ Minh Giang nói: “Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo Việt Nam hiện nay đang rất cần kiểm soát quyền lực”. Đó đúng là một thực tế. Nhưng đó chỉ là ý chí của Đảng, chính xác là bộ phận đang nắm quyền (và tất nhiên nắm lợi) của Đảng, chứ không phải nhu cầu của xã hội nói chung, của dân tộc nói chung, kể cả của nhiều đảng viên. Ngược lại, xã hội hiện nay có nhu cầu bức thiết kiểm soát quyền lực của Đảng (hay của bất cứ ai cầm quyền sau này). Chính quyền lực bao trùm của Đảng đã tạo nên đủ loại vấn nạn xã hội, kể cả vấn nạn cho chính Đảng, làm cho Đảng ngày càng thoái hoá. 

Xét quy luật phổ biến, tất cả các nhà nước dân chủ đều cần sự kiểm soát quyền lực. Nhà nước nào càng bị/được kiểm soát quyền lực thì càng tồn tại lâu dài. Trái lại, tất cả các nhà nước độc tài đều sụp đổ rất nhanh, như đã từng diễn ra với chế độ Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hãn, Hitler, Polpot,... 

Mặt khác, chính Hiến pháp hiện hành quy định: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”. Tại Hội nghị Trung ương V, ông TBT Nguyễn Phú Trọng còn nhắc lại điều đó. Quyền lực thuộc về nhân dân nghĩa là nhân dân có quyền lập hiến, có quyền chọn chế độ chính trị, chọn đảng cầm quyền, chọn các cá nhân vào các ghế quyền lực,... (Tất cả thông qua phiếu bầu). Điều 4 hiện nay cũng có thể có lý do tồn tại nếu được nhân dân bỏ phiếu. 

Tuy nhiên khi nói tới “nhu cầu kiểm soát quyền lực thì đã nói sang “cơ sở xã hội”, chứ không phải “cơ sở pháp lý” nữa.

Nếu sau đây GS. Vũ Minh Giang tiếp tục nói về “cơ sở xã hội”, tức là những nhu cầu hiện nay (đã có hay chưa) của việc đa đảng, thì sẽ rất hay. Bởi vì đấy mới là vấn đề. Hiến pháp, pháp luật hay mọi luật lệ nói chung đều do con người làm ra. Giả sử bây giờ việc đa đảng chưa có “cơ sở pháp lý” nhưng cuộc sống đòi hỏi thì hiến pháp, pháp luật cũng phải thay đổi để mở đường cho cuộc sống đi lên. 

Đ.T.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

[1] Chữ Tiền lệ theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, in lần thứ chín, 2003) là: “Việc xảy ra từ trước, tạo thành cái lệ cho những việc về sau”. Có những việc đã thành tiền lệ, phải theo. Tạo thành một tiền lệ cho sau này”. Như vậy cũng là một kiểu “cơ sở pháp lý”. Nhất là cái tiền lệ trên đã tồn tại khá lâu dài, rất đàng hoàng và hai đảng trên được Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tuyên dương công trạng.

Nguồn: BVN


Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

TRAO ĐỔI VỚI GS. VŨ MINH GIANG, NGUYÊN PGĐ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HN

Về ý kiến của ông GS Vũ Minh Giang trên BBC
Ngô Đức Thọ

Do PV BBC mà ông  GS Vũ Minh Giang trở thành người đầu tiên của ĐCS lên tiếng về Lời kêu gọi thành lập Đảng XHDC VN do các ông Lê Hiếu Đằng- Hồ Ngọc Nhuận đề ớng! Chắc hẳn đó là do cái "tính Đảng" nhạy bén của ông Giang, chứ lãnh đạo cấp cao thường đọc “châm rãi”, chưa có thì giờ để phân công cho ai phản hồi ! Theo tôi,̀ có lẽ không phải ông Giang nói loanh quanh đâu. Hai ông đề xuất lập Đảng XHDC để hoạt động đối lập với ĐCSVN, nhất là bài ông Hồ Ngọc Nhuận kêu gọi Phá Xiềng-đã gồng người lên để phá xiếng mà còn phải tìm cơ sở pháp lý của ĐCS thì còn nói phá cái gì ? Tất nhiên là trong Hiến Pháp hiện hành  (chưa sửa đổi) vẫn đã có quyền lập hội, nhưng ngay cả không có hoặc bỏ quyền ấy đi, ai thấy cần người ta cứ lập. Ông Giang chưa biết mấy người đề xướng kia ứng phó ra sao với nhà cầm quyền, có thể không cần phải khúm núm đội đơn đi xin phép, nhưng các nhà khởi xướng sẽ có một cách nào đó hợp hiến, hợp pháp để thông báo cho chính quyền sở tại biết hoạt động quang minh chính đại của họ thì sao? Chưa gì ông Giang quá lo xa (cho họ?), liên tục truy vấn :  “Căn cứ pháp lý đâu?” “Căn cứ pháp lý đâu?”. Bảo người ta phải chờ hoặc mang đơn từ lễ vật đi van nài hưởng ơn “ xin - cho” để có “căn cứ pháp lý", thì thà ngủ khèo đến mùa quýt cho khỏe!  Có "căn cứ pháp lý"  rồi về lập "đảng mới " làm "quân xanh quân đỏ" cho ĐCSVN ư? Đã có ông GS  Vũ Minh Giang mở đầu, vài ngày hay vài tuần tiếp theo chắc sẽ cấp tập xuất hiện đủ mọi "khuôn mặt", từ tầm tầm đến “nổi”danh dày dạn sẽ  liên tục chửi rủa, vu khống bôi nhọ những người đề xướng, mà bài mẫu  vẫn là câu  truy vấn “Căn cứ pháp lý đâu?”mà ông GS Vũ Minh Giang đã dùng trong bài PV đài BBC vừa rồi. 

PV Quốc Phương phỏng vấn ông Giang sớm thế là muốn thăm dò xem giới Đại học VN có cảm đông đậy gì về vấn đề nóng sốt nhạy cảm bậc nhất này không? Than ôi, cứ tìm mấy người như ông Vũ Minh Giang mà PV thì còn khuya mới thấy có gì cảm động đậy! 
17-8-2013

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

Trần Đình Sử: ĐÔI ĐIỀU THƯA LẠI VỚI NHÀ THƠ TRẦN TRƯƠNG

Lời dẫn của Lâm Khang chủ nhân: Vừa qua, chúng tôi có đăng tải bài viết "Nghề văn không sang trọng" của tác giả Trần Đình Sử (ảnh bên). Tác giả là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, một nhà nghiên cứu hàn lâm, một nhà sư phạm từng giảng dạy Lí luận Văn học hơn 50 năm tại các đại học. Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ cho cụm công trình nghiên cứu về Thi pháp học. Ông cũng từng là ủy viên Hội đồng Lí luận Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương. 

Bài viết nhỏ, ghi lại tâm tư của GS. TS Nhà văn Trần Đình Sử được nhiều người tán thưởng và bàn luận. Đã có 3 bài viết trao đổi thêm xung quanh bài của Trần Đình Sử. Đầu tiên là bài "Nghề văn không sang trọng thì nghề nào hơn" của Nguyễn Hoàng Đức đăng trên trang Nguyễn Tường Thụy,  rồi đến bài "Nghề văn không sang trọng nhưng văn chương lại cần sự sang trọng" của đạo diễn - nhà báo Nguyễn Anh Tuấn đăng trên TranNhuong.com, và gần đây nhất là bài "Mấy lời với ông Trần Đình Sử" của nhà văn Trần Trương cũng đăng trên TranNhuong.com.

Mặc dù tôi đã biết về ông Trần Trương, một người có khuôn mặt phúc hậu, tướng mạo khá đẹp đẽ, dáng vẻ hào hoa phong nhã, giọng nói vang như chuông và âm sắc đẹp, tuổi đã cao mà vẫn còn mẹ già để phụng dưỡng, nhưng ẩn giấu đằng sau đó là một nhân cách không tương xứng; ấy vậy mà tôi vẫn quá bất ngờ khi đọc bài của ông. Tôi nghĩ, chắc Giáo sư Trần Đình Sử sẽ không mất thời giờ với ông Trần Trương. Chắc là thế rồi! 

Ấy thế mà trưa nay (16.8), tôi lại nhận được bài viết của ông về bài của Trần Trương, thì đây, khi đọc hết, mới thấy Trần Đình Sử không chỉ dành bài này cho một Trần Trương. Trên văn đàn quốc doanh nước nhà sao mà lắm Trần Trương đến thế!

Đôi điều thưa lại với nhà thơ Trần Trương 
Trần Đình Sử 

Tôi là một nhà khoa học nhân văn, trong thời buổi đổi mới, có rất nhiều vấn đề lí luận văn học cần được nhận thức lại, vì thế mà tôi đã cố gắng nêu nhiều vấn đề. Tôi tự thấy mình có khả năng và điều kiện đối thoại với các bạn bè, đồng nghiệp trên các vấn đề ấy, ngõ hầu đưa nền tư duy lí thuyết của chúng ta tiến thêm cho kịp các nước tiên tiến. Nhưng hóa ra ước mong của tôi chỉ là ảo vọng hão huyền. Bởi khi tôi đọc bài Mấy lời với ông Trần Đình Sử đăng ngày 15/8/2013 trên trang Trannhuong.com của nhà thơ Trần Trương thì tôi hoàn toàn thất vọng. Hóa ra ở Việt Nam hiện nay vẫn hoàn toàn không có đối thoại. Thì xin hãy đọc kĩ bài của nhà thơ Trần Trương.

Thay vì đối thoại, nhà thơ Trần Trương chọn cách bôi bác, chế giếu, nói kháy, xách mé. Ông bảo tôi đi học ở Trung Quốc vào thời Cách mạng văn hóa, nhưng ông không biết rằng, thời cách mạng văn hóa ở Trung Quốc các trường đại học đều đóng của, sinh viên đi lao động cải tạo ở nông thôn, còn lưu học sinh nước ngoài thì ai về nước nấy. Anh đọc câu vè : “Trình độ văn hóa cấp ba,Thế mà bỗng chốc được là giáo sư, Giáo sư mà dốt bỏ xừ, Tiếng Tây chỉ thuộc mỗi từ..”Măng-giê”(Tiếng Pháp= Ăn).” Có thể nước ta trong thời buổi háo danh có người gian lận về bằng cấp, nhưng nói chung về giáo sư Việt Nam, nói riêng về tôi là không đúng và là xúc phạm danh dự. Tôi bảo vệ tiến sĩ năm 1980, phong phó giáo sư năm 1990, phong giáo sư năm 1996, là một quá trình phấn đấu cật lực về chuyên môn, không ai được xúc phạm. Từ năm 1961, trong hơn nửa thế kỉ, tôi đã đào tạo hàng ngàn sinh viên đại học, hàng trăm thạc sĩ, ba chục tiến sĩ, trong các học trò đó có nhiều người đã thành giáo sư, phó giáo sư , có người làm thứ trưởng, vụ trưởng, viện trưởng, trưởng khoa, chủ nhiệm bộ môn, trưởng phòng đào tạo…Tôi đã là Nhà giáo ưu tú, Nhà giáo Nhân dân, đã nhân giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ từ năm 2000, thì những lời nói như trên là sàm sở, thiếu đứng đắn. Ông bảo tôi chỉ là phó tiến sĩ, “sau này tự nhiên thành giáo sư”. Xin thưa không có gì tự nhiên hết, đó là chủ trương của Nhà nước ta, muốn chuân hóa đào tạo cán bộ. Ông đã không biết mà lại nói xách mé. Toàn bộ phó tiến sĩ ở nước ta đều là tiến sĩ cả, không riêng một mình ai. Vậy thì có gì đáng chế giễu ở đây? Ông chê tôi dốt ngoại ngữ, không đọc được tác phẩm “bản ngữ”, mà chỉ đọc theo bản dịch. Ông không biết rằng tôi đã dịch bảy cuốn sách khoa học từ tiếng Nga và tiếng Trung, tái bản nhiều lần và cho đến nay vẫn tiếp tục dịch, lược thuật, giới thiệu các tài liệu nước ngoài cho bạn đọc Việt Nam. Ông chê chúng tôi dốt, không đọc được “Bản ngữ” nước ngoài, ông phê thế chúng tôi không hiểu được, bởi vì “bản ngữ” là tiếng mẹ đẻ của người nói, mà chúng tôi có phải là nguời nước ngoài đâu. Muốn chê đúng thì phải nói không đọc được “nguyên bản” tiếng nước ngoài, chứ không phải là bản ngữ như ông nói. Ông nói cũng đúng với nhiều trường hợp, nhưng không đúng với tôi. Ông thấy đấy, những lời xách mé, chế giếu của ông đều không đúng sự thực và không có chút giá trị gì, ngoài sự chúng tỏ là ông còn hạn chế nhiều về hiểu biết. Ông là nhà thơ mà không biết rằng, mọi châm biếm, chế giễu chỉ có giá trị khi nó đi đối với sự thật. Sự dối trá, bịa đặt chỉ là sự phỉ báng vớ vẩn.

Nói cho đúng, ông Trần Trương cũng có lúc muốn trao đổi lại về vấn đề nghề văn không sang trọng của tôi. Nhưng ý kiến của ông đầy mâu thuẫn và sai lầm. Thoạt đầu ông phủ nhận việc có người xướng ra cái thuyết nghề văn sang trọng”. Ông viết : “có ai nói nghề văn là nghề sang trọng đâu?, chắc ông (tức là tôi – TĐS chú) có nghe đâu đó ở những “diến đàn” bia bọt nào đó, chứ trên văn đàn chính thống ở các hội nghị nghiêm chỉnh không có vị lãnh đạo hoặc nhà văn nào dám nói thế..” Nhưng cách đó mấy dòng ông lại viết: “Tôi hiểu cao qúi và sang trọng có mối liên kết chặt chẽ với nhau. Làm một hành động cao quý hay viết một tác phẩm hay đến mức cao quí thì đó cũng có thể là sang trọng. Nhưng khi tác giả được nhìn nhận là sang trọng thì  chắc chắn họ có những tác phẩm cao quý.” Câu này chứng tỏ ông là người ủng hộ thuyết nhà văn sang trọng chứ chối làm sao được. Tôi nói có đối tượng đấy chứ, không nói không bao giờ. Xin lưu ý với ông là nhiều lời nói chính thống và ở hội nghọ nghiêm chỉnh không tác động vào con người mạnh mẽ bằng lời nói ở diễn đàn bia bọt đâu. Cái thiếu sót thứ nhất của ông là không phân biệt được nghĩa của từ sang trọng và từ cao quý, lẫn lộn chúng với nhau. Sang trọng là từ chỉ sự giàu có, quyền thế hơn người về địa vị, quan chức, của cải vật chất, ví như nhà cửa sang trọng, áo quần sang trọng, đồng hồ sang trọng, địa vị sang trọng, đám ma sang trọng, đám cưới sang trọng…Trong các trường hợp ấy không thể thay thế chữ cao quý vào được. Những cái sang trọng thường nằm ở bên ngoài con người, ai nhìn cũng thấy được. Thấy một người đi ô tô đắt tiền, ăn mặc chưng diện, ta có thể nói ngay, một người sang trọng. Nhưng người ấy có cao quý hay không là chuyện khác, bởi cái cao quý nhìn bề ngoài không thấy được. Phải sống, giao tiếp, thể nghiệm mới nhận thấy. Chữ cao quý chỉ phẩm chất về tinh thần, cho nên tôi nói, nghề văn cần cao quý, chứ không cần sang trọng. Chữ nghề văn sang trọng nó không thích hợp và dễ gây ngộ nhận. Thiếu sót thứ hai là do không phân biệt được hai từ đó cho nên lập luận không chặt chẽ. Cái lập luận của ông cho rằng “khi tác giả được nhìn nhận là sang trọng thì chắc chắn họ có những tác phẩm cao quý.” là không đúng. Trước khi “vụ thơ” Hoàng Quang Thuận đổ bể, hẳn mọi người đều thấy là ông ấy sang trọng, có chức vụ “viện trưởng”, đi ô tô, có nhiều tiền, nghĩ rằng thơ ông ấy “chắc chắn” là cao quý, rồi hết lời ca ngợi. Nhưng khi ca ngợi rồi thì mới biết thơ ông ấy không cao quý gì cả. Đó, nhầm lẫn sang trọng với cao quý tai hại như vậy đó.

Điều quan trọng nhất cuối cùng là ông không hiểu nội dung bài viết ngắn của tôi. Đúng như PGS Nguyễn Thị Minh Thái có nói, “bi kịch đọc không vỡ chữ”. Đã đọc không hiểu thì khó bàn bạc được gì cho rõ ràng. Ông không hiểu thì ông suy diễn : “Tự nhiên ông (tức là tôi - TĐS) đặt điều ra là nghề văn là nghề không sang trọng rồi có vẻ muốn bôi bác Hội Nhà văn.” Xin hỏi ông Trương, tôi có vẽ bôi bác Hội nhà văn ở chỗ nào? Xin ông cho biết câu chữ cụ thể nào thể hiện sự bôi bác đó ? Ông có biết là ông đang vu cáo tôi không? Hiện tượng háo danh đã rất phổ biến trong thực tế, là một hiện tượng tâm lí xã hội, không phụ thuộc vào Hội nhà văn. Chính hiện tượng đó gây gánh nặng, áp lực cho Hội nhà văn đấy. Đả phá tâm lí ấy chính là giúp cho Hội nhà văn nhẹ gánh hơn. Ông lại nói : “Cách viết của ông (tức là tôi – TĐS) trong mấy bài viết gần đây tôi thấy :”Loằng ngoằng” quá”. Tôi là người làm lí thuyết, thích tư duy logich rạch ròi, không tư duy được theo kiểu nhà thơ, cho nên không biết thế nào “loằng ngoằng”.

Dù có thất vọng thế nào thì con đường đi tới của lí luận phê bình vẫn phải là đối thoại, chứ không phải đối đầu. Muốn đối thoại thì ta phải học, trước hết cần biết tôn trọng người đối thoại. Sau là lắng nghe ý kiến trái chiều của người ta. Sau nữa cũng cần có chung một nền tảng tri thức. Hiện nay trong xã hội ta đang thịnh hành các khung tri thức khác nhau. Rất đông người theo hệ tri thức tiền hiện đại (cổ điển), một số người theo tri thức hiện đại, một số khác trẻ hơn theo tri thức hậu hiện đại. Thế là khó hiểu nhau rồi. Chúng ta không thể tiêu diệt người theo khung tri thức này, bỏ tù người theo khung tri thức kia. Để hiểu nhau chỉ có con đường đối thoại. Đối thoại là đi tìm cái chung chân lí. Chỉ cho mình là duy nhất đúng, cứ thế mà kết luận, xử lí thì có cần đối thoại nữa hay không?

T.Đ.S