Hiển thị các bài đăng có nhãn Tô Văn Trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tô Văn Trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

Tô Văn Trường: TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN

Tiến thoái lưỡng nan
Tô Văn Trường

Nền kinh tế đất nước đang trong giai đoạn gặp nhiều khó khăn cho nên các quyết sách của Quốc hội đóng vai trò rất quan trọng. Mặc dù đã nghe giải trình nhưng nhiều vấn đề vẫn rối như “canh hẹ” khiến cho các đại biểu Quốc hội tiến thoái lưỡng nan không bấm nút không được mà bấm thì lại thấy không tự tin và tự vấn thấy có lỗi với sự tin cậy của cử tri! 
.
Ngay từ khi sự kiện Vinashin bị tiết lộ trên công luận, tôi đã viết bài “Vinashin đừng đánh bùn sang ao”! Lần này, các đại biểu Quốc hội và người dân được biết Vinashin đã được “phù phép” biến thành một công ty mới không có nợ xấu. Chỉ có người trong cuộc mới rõ nội tình cuộc “lột xác” vô tiền khoáng hậu không giống bất cứ ai bởi vì chỉ có thể dự đoán là: (1) Bắt tất cả các doanh nghiệp Việt Nam kể cả ngân hàng cho Vinashin vay xóa nợ cho nó. Là quốc doanh nên các doanh nghiệp kia phải ngậm bồ hòn, làm ngọt!; (2) Phát hành trái phiếu Chính phủ trả nợ cho Vinashin; và (3) Bắt ngân hàng quốc doanh cho công ty mới vay để có vốn tiếp tục hoạt động dưới tên mới, v.v. Toàn bộ giải pháp này tốn kém cho các doanh nghiệp bao nhiêu và Nhà nước bao nhiêu, ngay các đại biểu Quốc hội cũng tù mù không thể biết được dù đó thực chất là sử dụng tiền thuế của dân và con cháu chúng ta phải è cổ ra trả nợ cho “quả đấm thép” VINA! 

Trên diễn đàn Quốc hội, nhiều người nhận ra vấn đề, nhưng do thời gian hạn chế và nhiều nguyên nhân khác nhau nên chủ yếu chỉ nói theo kiểu hô khẩu hiệu chung chung không chỉ ra được cụ thể phải làm cái gì, làm như thế nào, khi nào. Với trách nhiệm của cử tri, tôi đã phản ánh các suy tư, lập luận và dẫn chứng qua các bài viết như “Ai ăn mặn ai khát nước”; “Nguy cơ vỡ trận tài chính”; “Thế là xong, miễn bàn!”. Trong phạm vi bài viết này, tôi đi vào một dự án cụ thể đó là Quan Chánh Bố đã được Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng giải trình chiều ngày 1/11 cho là cần thiết, hiệu quả, cần tiếp tục đầu tư.

Phác họa vài nét chính của dự án 

Do nguyên nhân độ sâu luồng Định An bị bồi lắng, hàng năm phải nạo vét tốn kém, không tiếp nhận được tàu có trọng tải lớn, cho nên phải tìm một lối đi khác đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố Cần Thơ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Đây là yêu cầu chính đáng. Cuối năm 2009, dự án luồng cho tàu biển có trọng tải lớn vào sông Hậu qua kênh tắt Quan Chánh Bố được khởi công xây dựng tại huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Đây là dự án trọng điểm quốc gia, với mục tiêu xây dựng luồng tàu biển ổn định cho tàu có trọng tải 10.000 DWT đầy tải và tàu 20.000 DWT giảm tải ra, vào các cảng trên sông Hậu. 

Ngay từ năm 2008, GS Lương Phương Hậu chuyên gia hàng đầu về cảng đường thuỷ Việt Nam đã viết bài “Chỉnh trị cửa sông có khi phải chấp nhận trả giá”, có đoạn chính như sau: “Tuyến luồng qua kênh Quan Chánh Bố là phương án đã có ý tưởng từ nghiên cứu của Haecon (Bỉ), sau đó được chính thức đề xuất bởi tư vấn SNC - Lavalin (Canada). Các tư vấn trên là những tổ chức chuyên sâu về công trình cảng - đường thủy nổi tiếng trên thế giới. Những nghiên cứu của họ về cửa sông Hậu khá bài bản, có sự tham gia của các viện nghiên cứu lớn như Viện Nghiên cứu thủy lực Đan Mạch (DHI), Haskoning (Hà Lan).

Giải pháp kênh vòng tránh (by pass) cửa sông đã được sử dụng khá nhiều trên thế giới, thành công nhiều, nhưng thất bại cũng có. Giải pháp này không xa lạ ở Việt Nam vì chính luồng tàu vào cảng Hải Phòng cũng đã đào kênh Đình Vũ (1897¸ 1902) để chuyển luồng từ cửa Cấm sang cửa Nam Triệu và gần đây đào kênh Hà Nam (2004¸2006) để chuyển luồng từ cửa Nam Triệu sang cửa Lạch Huyện.

Tuyến qua kênh Quan Chánh Bố chỉ có thể thành công nếu giải quyết tốt được hai vấn đề khó sau đây:

- Xác định được vị trí, kích thước hợp lý cho cửa Đại An lấy nước từ sông Hậu. Cửa sông này nằm trên bờ bồi, rất nông và hứng nhận dòng bùn cát từ bờ xói đối diện. Làm sao để khi đào sâu, dòng nước vào kênh vừa phải để không quá ít, dẫn đến bồi lắng trở lại quá nhanh, cũng không quá nhiều dẫn đến sự suy thoái của cửa Định An và tạo ra một cửa Định An mới. Hiện nay, tư vấn không bố trí công trình gì ở đây sẽ không thể kiểm soát được sự phát triển của thế sông.

- Xác định được vị trí, quy mô, phương hướng của các đê ngăn cát ở cửa kênh tắt ra biển, ổn định được đoạn luồng biển. Chiều dài 2.500m của đê Đông, 1.500m đê Tây như dự án đề ra chắc chắn là không đủ. Theo tính toán của chúng tôi, chiều dài đê có thể phải tăng lên 3-4 lần.

Những tính toán của Công ty cổ phần Tư vấn thiết kế cảng-kỹ thuật biển (PortCoast) trong giai đoạn dự án đầu tư đúng là còn một số bất cập, chưa đủ sức thuyết phục. Trong quá trình thẩm tra, các chuyên gia Hội Cảng - Đường thủy – Thềm lục địa đã trao đổi trực tiếp, thẳng thắn với các tác giả dự án. Nhưng chúng tôi cho rằng, trong giai đoạn hiện nay, mở luồng theo kênh Quan Chánh Bố là giải pháp khả thi và ít mạo hiểm hơn, vì vậy Chính phủ phê duyệt dự án đầu tư là đúng đắn.”, v.v.

Tháng 10 năm 2009 công tác chuẩn bị đã hoàn tất, Chính phủ và Bộ Giao thông đã phát lệnh khởi công nhưng trong quá trình đang thi công đã phải tạm dừng vì nhận thấy trong điều kiện các phương án phân kỳ đầu tư không đảm bảo mục tiêu khai thác luồng tàu theo dự án được duyệt, cũng như không đảm bảo hiệu quả đầu tư nên đã báo cáo Thủ tướng rà soát để điều chỉnh dự án với tổng mức đầu tư dự kiến lên tới 10.042 tỷ đồng và giãn tiến độ thực hiện sau năm 2015. 

Ý kiến phản biện

Trong quá trình chuẩn bị cũng như kể cả khi đang thi công dự án có nhiều luồng ý kiến ủng hộ và phản đối dự án Quan Chánh Bố cũng là điều dễ hiểu vì đây là dự án khá phức tạp tùy thuộc vào nhận thức, góc nhìn của mỗi người.

Mới đây, ngày 27/10/2013 GS Nguyễn Ngọc Trân viết bài “Đừng để đất nước đến nguy cơ vỡ nợ” chủ yếu bàn về hiệu quả đầu tư, trong đó có đoạn đề cập đến dự án Quan Chánh Bố như sau: “Thời sự nhất là dự án luồng hàng hải cho tàu trọng tải vào sông Hậu qua kênh Quan Chánh Bố. Tổng dự toán lúc được khởi công tháng 11-2007 khoảng 3.150 tỉ đồng, nay năm 2013 được nâng lên 10.320 tỉ đồng. Cần nhấn mạnh thêm là dự án này đã bị Ngân hàng Thế giới từ chối cho vay 200 triệu USD vì lý do khả thi không bảo đảm trước sóng, triều và biến đổi khí hậu. Các nhà khoa học cũng đã cảnh báo. Bất chấp, dự án vẫn được khởi công cuối năm 2007 với vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước. Nay dự án này được đưa vào diện đầu tư từ trái phiếu chính phủ mà Quốc hội đang bàn để thông qua”, v.v.

Tôi chia sẻ với tâm tư, trăn trở của GS Trân nhưng có thể do khuôn khổ hạn chế của bài báo hoặc do không phải là chuyên gia chuyên sâu về lĩnh vực chỉnh trị sông nên vẫn chưa vạch rõ ra được các “lỗ hổng” vẫn còn tồn tại của dự án Quan Chánh Bố.

Các “lỗ hổng” cần giải đáp

-Dự án chưa xét đến tác động đến môi trường sinh thái do yếu tố tổng hợp của ba dự án liền kề nhau là dự án Quan Chánh Bố, dự án nhiệt điện Duyên Hải, và dự án nạo vét cửa Định An. Đây là tác động tổng hợp, đồng thời diễn biến rất phức tạp, phải xác định một cách định lượng.

-Sự phân chia lưu lượng tại cửa Đại An, là cửa kênh Quan Chánh Bố lấy nước trên bờ trái sông Hậu sẽ diễn biến ra sao? Dự án có đánh giá cho rằng không thay đổi nhiều, nhưng không thuyết phục vì mô hình toán không mô tả được chính xác kết cấu dòng chảy và chuyển động bùn cát ở đây.

-Biến động đường bờ lâu dài ở vùng cửa Kênh Tắt có tác động như thế nào đến khu Du lịch Ba Động và vùng Cửa Định An chưa được nghiên cứu bài bản và khoa học. Bởi vì ở đây, có hai loại luồng tàu song trùng, luồng tàu nhà máy nhiệt điện có đáy -9,0m; luồng tàu sông Hậu có đáy -6,5m.

- Cần bổ sung tính toán việc sạt lở bờ sông Hậu do sóng chạy tàu lớn gây ra sẽ tác động mạnh trên suốt chiều dài từ cửa sông đến Cảng Cần Thơ. 

- Chưa xét đến ảnh hưởng của biến động chế độ thủy văn, thủy lực khi trên thượng nguồn Mekong xây dựng các hồ chứa nhà máy thủy điện.

- Cửa Kênh Tắt làm phá vỡ một đoạn đê biển Trà Vinh, việc khép kín tuyến đê chưa được xem xét.

-Báo cáo đã sử dụng gồm 8 phương pháp gồm: Phương pháp đánh giá nhanh; Phương pháp so sánh; Phương pháp mô hình hóa; Phương pháp kế thừa; Phương pháp khảo sát thực địa, đo đạc hiện trường và phân tích trong phòng thí nghiệm; Phương pháp điều tra xã hội học và Phương pháp phân tích đánh giá tổng hợp. Đánh giá xâm nhập mặn dùng MIKE11, nhưng mạng lưới sông rất sơ sài. Đánh giá xói bờ, diễn biến đường bờ dùng MIKE 21FM nhưng sau thời gian thi công một đoạn kênh, dừng lại đã bị bồi lấp, các điều kiện đầu vào bị thay đổi chưa được cập nhật bổ sung trong tính toán. Đánh giá lan truyền ô nhiễm dầu, không rõ dùng mô hình gì?, v.v.

Thay cho lời kết

Từ bài học bất cập của dự án Quan Chánh Bố, Bộ Giao thông Vận tải cần phải thức tỉnh, kịp thời dừng lại đánh giá một cách toàn diện từ quy hoạch đến phương án cảng Lạch Huyện kể cả thiết kế cầu Tân Vũ vì tác động đến môi trường của dự án Quan Chánh Bố (22 triệu m3 nạo vét đổ vào vùng trũng, chỉ có 5 triệu m3 đổ ra ngoài khơi xa) chưa nghiêm trọng bằng cảng Lạch Huyện đổ tất cả 40 triệu m3 ra ngoài khơi tác động lớn đến môi trường sinh thái kể cả khu vực di sản thiên nhiên. 

T. V. T. 

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

HIẾN PHÁP, THẾ LÀ XONG, MIỄN BÀN!

THẾ LÀ XONG MIỄN BÀN
 Tô Văn Trường

Nhiều người thúc giục, hỏi tôi, Quốc hội sắp đến hồi bấm nút sửa Hiến pháp và luật đất đai sao anh không viết mạnh như loạt bài hồi thảo luận về dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam?  Cách đây khá lâu, sau khi viết bài “Hiến pháp của ai” với 4 câu hỏi còn bỏ ngỏ, tôi tự nhủ coi như mọi việc đã an bài!
 
Hầu hết các quốc gia trên thế giới có Quốc hội, các ông bà nghị sỹ đều biết lắng nghe, suy ngẫm hành động theo nguyện vọng chính đáng của cử tri để tranh thủ lá phiếu. Ở nước ta, trớ trêu là “Đảng cử - Dân bầu” nên phần lớn, người ta theo Đảng chỉ đạo hơn là lắng nghe, thấu hiểu lòng dân. Tuy nhiên, tại diễn đàn Quốc hội kỳ này, có một số vị đại biểu Quốc hội đã thẳng thắn đề cập đến lòng dân đang bất an, cần đánh giá lòng tin của người dân, sự chia sẻ của dân với các chủ trương, chính sách của Nhà nước. 

Nhưng nhìn vào bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp và Luật đất đai và phát biểu của nhiều vị “chóp bu” có trách nhiệm thì mấy vấn đề cốt lõi về Đảng, Quân đội, về doanh nghiệp nhà nước, về quyền sử dụng và quyền sở hữu đất đai thế là xong. Miễn bàn!
 
Theo tôi hiểu, quyền sở hữu có tính chất vĩnh viễn nhưng quyền sử dụng bị hạn chế trong một thời gian nhất định theo hợp đồng giữa bên sở hữu và bên sử dụng. Giá trị quyền sử dụng tùy theo thời hạn sử dụng. Quyền sử dụng có thể gây mối bất an trong xã hội. Bỏ qua mọi phức tạp khác đáng lẽ không nên có thì anh nông dân Đoàn Văn Vươn (Tiên Lãng)  rõ ràng bị rơi vào tình trạng bất an này, bởi vì bên sở hữu có thể lấy lại tài sản sau hợp đồng và về mặt luật pháp không cần phải gia hạn. 
 
Theo TS Vũ Quang Việt,  ngoài quyền sử dụng về mặt hạn chế thời hạn hợp đồng nói trên, nên hiểu tổng hợp, quyền sử dụng có 3 vấn đề:
 
1. Vấn đề thời hạn hợp đồng, mà theo luật nhà nước có thể lấy lại, không phải gia hạn. 
 
2. Vấn đề ai có quyền và quyền gì? Ai được quyền giao, giao cho ai và ai quyết nội dung hợp đồng. Thật ra 1 và 2 đi với nhau. Đây là các lỗ hổng lớn cho “rent seeking”.  
 
Tôi thấy thật khó dịch sang tiếng Việt vì “rent” có nghĩa là thu nhập từ tài sản không do con người làm ra như thu từ cho người khác khai thác dầu hỏa, đất đai v.v. mà không phải bỏ công lao động. Tạm dịch “rent seeking”  là chiếm đoạt thặng dư đúng như Marx định nghĩa. Với Marx thì chiếm đoạt thặng dư từ quyền sở hữu tư bản mà không cần lao động. Còn đây là chiếm đọat thặng dư vì có quyền. Hay nói rõ hơn là chiếm đoạt thặng dư từ việc lạm dụng quyền lực.
 
3. Vấn đề trưng thu khi chưa hết hợp đồng về quyền sở hữu.
 
Nhiều người mới chỉ nhìn vào vấn đề cuối cùng này. GS Nguyễn Lang  thì chỉ để ý đến giá vô lý là nguyên nhân gây ra xáo trộn hiện nay. GS Đặng Hùng Võ quan tâm đến cả hai yếu tố định giá vô lý hoặc thu hồi bị phản kháng vì lợi ích cá nhân cho một số người chứ không vì lợi ích chung.vv…
 
Điều quan trọng nhất mà ai cũng nhận thấy chừng nào mà không công nhận đa sở hữu, còn tránh né việc xóa bỏ chữ "sở hữu toàn dân" thì đất đai vẫn là vấn đề nóng trong xã hội.  Nhiều người thất vọng  vì mất bao giấy mực bàn về thay đổi Hiến pháp, tốn kém không biết bao nhiêu thời gian, tiền bạc, công sức, trí tuệ  của nhân dân mà không thấy thay đổi được bất cứ điều gì.
 

Người bạn đồng tâm, để xả stress, tếu táo bình luận: “Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu, nhiều người đã phân tích, vận dụng kiến thức cả đông tây kim cổ, liên hệ với thực tế, nói mãi mà người ta vẫn ù lì!  Nếu thế, ta nói theo kiểu dân dã, gọn, dễ hiểu, chuẩn không cần chỉnh như sau: Quyền sử dụng là đi ngủ với bất kể người đàn bà nào, không phải là vợ! Ngủ nhiều bà khác nhau cũng được như đi bia ôm vậy! Quyền sở hữu là ngủ với vợ suốt đời chỉ với vợ chứ không phải người đàn bà nào khác.  Đơn giản vậy mà nói chính trị, triết lý trên trời hoài nghe mệt quá! “
 
Theo tôi nghĩ,  quyền sở hữu là thuộc về, không hẳn có nghĩa là mãi mãi nên ví dụ “ngủ suốt đời với vợ” không hẳn là đúng, chỉ được ngủ với nàng đến khi nàng không còn thuộc về mình. Còn quyền sở hữu thì có khác gì đi thuê mướn, vẫn thuộc sở hữu của người khác, nên người ta mới đẻ ra cái chuyện thu hồi.  Ví quyền sử dụng là "bồ” và quyền sở hữu là "vợ" thì không chuẩn bởi vì đừng bao giờ coi vợ là thứ mình sở hữu. Ý nghĩa sâu xa của "sở hữu toàn dân" (thực chất là sở hữu của người cầm quyền) là muốn nắm vận mệnh người được giao quyền sử dụng (cho sống được sống, bảo chết là phải chết)!  Ý nghĩa sâu xa của quyền sử dụng là người nhận quyền này chấp nhận: Quy phục và chấp nhận thân phận là người nhận thứ được quyền lực (Vua) ban phát, đồng nghĩa gián tiếp thừa nhận vị thế người ban phát: Đảng đứng trên tất cả. Hệ quả: Quyền lực duy trì được mảnh đất dụng võ của mình. Tham nhũng là thứ hệ quả tất yếu.
 
Chúng tôi nghĩ Quốc hội nên nhìn thẳng vào sự thật, từ những nan đề của đất nước, phóng tầm mắt xem nhân loại họ đang làm gì để chiếu vào con người, góc phố, con đường ổ gà của Việt Nam mà hoạch định chính sách, xây dựng luật pháp. Muốn vậy phải dân chủ trong Quốc hội, từng đại biểu cần chiêm nghiệm, tự vấn về vai trò và trách nhiệm của mình đối với cử tri cả nước.
 
Nguy cơ vỡ trận tài chính đã được cảnh báo nhưng trên diễn đàn Quốc hội và thảo luận ở tổ chưa thấy ai mạnh dạn phân tích “mổ xẻ” về con số cụ thể chi tiêu cho 4 hệ thống Đảng, Chính phủ, Quốc hội và các tổ chức đoàn thể xã hội. Trong đó chi cho bộ máy “song trùng” của Đảng là rất tốn kém. Rõ ràng chi tiêu cho bộ máy của Đảng là một con số cần được minh bạch nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nói chung. Con số đó phải chẳng thuộc phạm trù bí mật quốc gia? Xã hội phải chi một khoản kinh phí khổng lồ và kém hiệu quả để nuôi một bộ máy “song trùng” khiến kinh tế thì kém cạnh tranh, xã hội thì chẳng khác gì thời trung cổ khi dân phải è cổ nuôi cả Vua và nhà thờ.  Minh bạch các khoản chi này và Dân phải có quyền giám sát nó chứ không phải chỉ có Đảng chỉ định Quốc hội làm viêc này.
 
Nhìn lại từ ngày đổi mới, các Ban xung quanh các cấp ủy trở nên thừa rất nhiều: Các Ban Tài chính, Tuyên huấn, Kinh tế, mỗi ban thừa một nửa, vì nửa còn lại phía Chính quyền làm rồi. Đáng lý ra là thừa hết đối với Chính quyền, vì các nước ngoài XHCN, có Ban nào đâu mà mà nó vẫn mạnh không ngừng. Trước 1985 còn có thêm các Ban “trời ơi”  khác như Ban Nông nghiệp, Ban Công nghiệp, Ban Cải tạo... là không cần thiết. Chỉ có cấp ủy nào muốn kiềm chế Chính quyền mà bản thân thiếu năng lực mới  mở rộng các Ban nầy ra cho đông và lập thêm các Ban khác để "bù lỗ”  cho mình. Hội nghị 7,  Trung ương khóa 9 cũng bàn về dân vận y chang như Hội nghị 7 lần nầy có phần nói về Dân vận. Nói hoài, mà dân giận càng đông, càng kéo biểu tình, khiếu kiện đòi quyền dân sinh, dân chủ.
 
Trong kháng chiến, Đảng chưa cầm quyền, Đảng ví như Chính phủ, làm  nhiều việc như Chính phủ, Tòa án, Công tố , và vì vậy chung quanh các cấp ủy có đủ các Ban bệ như các Bộ và các Sở, Ty...là đúng, là cần thiết. Khi Đảng cầm quyền lại cầm trực tiếp, không trao quyền cho Chính phủ, Quốc hội, và Tòa án nên mới có khái niệm "Thống nhất lãnh đạo" và "Quân đội trung với Đảng"... Biến các đoàn thể thành các "Ban", "Bộ" bằng cách ăn lương Chính phủ, làm theo Chính phủ tức là "ăn theo, nói leo" mà gọi là "liên tịch"...nhược điểm là càng lãnh đạo, chính quyền Nhà nước càng chồng chéo, yếu về thực chất, nhưng mạnh và oai về hình thức.  Ban Nội chính, Ban Kinh tế vốn làm không nên trò, "không được xã hội thừa nhận" mới dẹp, nay tái lập mà không có "đầu trò" giỏi thì nên dẹp tiệm cho rồi, để chi oan ương.
 
Người dân tự hỏi lãnh đạo mà chỉ biết đi giáo huấn hỏi lại "Trồng cây gì,  nuôi con gì" hay tối ngày sợ Đảng suy thoái mà không biết làm cái gì cho Đảng theo kịp thời đại? hoặc tối ngày rên rỉ, la hét mị dân. Nhưng vượt qua mọi lo âu là Đảng phải vượt lên chính mình, vượt khỏi cái bóng của anh “bạn vàng”  bành trướng phương Bắc và những giáo điều của những học thuyết không còn phù hợp, cản trở con đường phát triển của đất nước, làm cho dân tộc tụt hậu. Chỉ có qua cuộc lột xác ấy thì tài năng mới phát lộ, tài năng mới làm nên sự nghiệp và đất nước mới ra khỏi  trầm luân!
 
Sửa Hiến pháp và Luật đất đai, thế là xong , miễn bàn! Chỉ có thể an ủi những cuộc bàn thảo vừa qua suy cho cùng không phải tất cả chỉ vô tích sự vì dân gian được động não học hỏi, dân gian nhận diện được năng lực, và dân gian không thể đặt bất cứ hy vọng nào vào những cái đầu mang nặng ý thức hệ, bị chi phối bởi lợi ích nhóm và tầm nhìn chỉ loanh quanh nơi  “chân ghế” của mình.
 
T.V.T

Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

NGUY CƠ "VỠ TRẬN" TÀI CHÍNH

Nguy cơ “vỡ trận” tài chính
 Tô Văn Trường
Nhiều tập đoàn kinh tế phá nát nền kinh tế, chỉ chăm bẵm vào việc chi tiền xây dựng các công trình thiếu chất lượng, không hiệu quả, thất thoát, cho nên kích cầu sẽ chỉ đưa đến kích… tham nhũng. Cho nên không xử lý tham nhũng và xử lý tập đoàn “ăn hại” thì kinh tế Việt Nam sẽ không có tiền đồ.
Có thể nói chưa bao giờ chúng ta lại phải nghe đến từ "vỡ" nhiều như những ngày nay. Do ành hưởng của siêu bão số 10 nên suốt dải đất miền Trung nghèo khó đã xảy ra liên tiếp những vụ vỡ đê sông, đê biển, đập tràn và cả vỡ đập thuỷ điện. Từ tỉnh biên giới Lạng Sơn đến tỉnh đồng bằng Thái Bình, từ vùng núi Thái Nguyên đến đô thành Hà Nội rúng động bởi những vụ vỡ hụi, vỡ tín dụng đen hàng chục, hàng trăm tỷ đồng. Rồi những vụ vỡ nợ làm tiêu tán hàng ngàn tỷ đồng của biết bao doanh nghiệp, của nhiều "đại gia"! 

Nhưng có một thứ được cảnh báo có nguy cơ cũng dễ " vỡ", mà hậu quả kéo theo sẽ vô cùng nặng nề, có thể bằng nhiều siêu bão cộng lại, đó là " vỡ trận tài chính"!

Mâu thuẫn và nghịch lý 

Một số thông tin trên công luận nhận định nền kinh tế bắt đầu có dấu hiệu phục hồi biểu hiện rõ nhất qua con số tạo thêm nhiều công ăn việc làm mới. Trái lại, tại Hội thảo mùa Thu của Ủy ban kinh tế Quốc hội (26-27/9/2013) ở Huế nhận định chung là nền kinh tế đang rất xấu với nguy cơ “vỡ trận tài chính” trong năm 2014 và  triển vọng trung hạn 2013-2015 cũng không mấy sáng sủa vì việc tái cấu trúc kinh tế chưa được  triển khai bằng hành động. 

Có ý kiến cho rằng  kinh tế Việt Nam đang  mò đáy, và tê liệt vì các doanh nghiệp thi nhau  phá sản hay đóng cửa từ 2011. Nạn thất nghiệp gia tăng vũ bão (tỷ lệ thất nghiệp được một số giới cho là trên 10% thay vì con số chính thức là 2%) gây ra các tệ nạn xã hội đáng báo động. Và chính sách tín dụng trong cả nước hoàn toàn nghẽn mạch- một phần vì doanh nghiệp không đủ sức hấp thụ và phần lớn vì ngân hàng không muốn cho vay (với thanh khoản yếu do nợ xấu gây ra). 

Ngoài số thống kê về thất nghiệp, có nhiều nghi ngại trong hội thảo, ngay cả về các con số GDP chính xác của các tỉnh thành và cả nước để dùng trong phân tích chính sách hay nghiên cứu. Về nhu cầu chính sách trong ngắn hạn, có 02 luồng ý kiến.

Thứ nhất là kích cầu từ đầu tư công, bằng cách nới mức độ bội chi ngân sách. Và thứ hai là “kiên trì” ổn định kinh tế vĩ mô. Việc “kích cầu”, qua đầu tư công thiếu hiệu quả, có thể nhất thời làm tăng GDP nhưng không bền vững và chỉ nhằm đạt “thành tích” ngắn hạn. Một vòng xoáy lạm phát – suy trầm e là sẽ lại tiếp diễn trong năm 2014 như đã xảy ra các năm trước đây. Hơn nữa trong lúc các tỉnh thành lớn đều hụt thu nội địa thì việc nâng trần bội chi ngân sách quốc gia (lên 5,3% cho năm tới) để đáp ứng việc giải quyết tăng GDP ngắn hạn là một việc không nên làm trong lúc này.

Kích cầu 

J.M. Keynes đưa ra lý thuyết kích cầu khi người ta hoàn toàn mất tin tưởng vào nền kinh tế, thất nghiệp rất cao (đỉnh là 25%) và kéo dài cao hơn 15% trong hơn 15 năm, giảm  phát (deflation)  từ năm 1929-1945. Đó là kết quả của việc hệ thống ngân hàng tài chính đổ vỡ vì cho vay quá trớn, đầu cơ chứ không phải đầu tư vào thị trường chứng khoán.  

Như thế là vì lúc đó kinh tế Mỹ có thừa sức sản xuất cao hơn với máy móc hiện có, ngay cả nông nghiệp cũng thế,  nhưng không ai dám làm, thất nghiệp cao thì không có tiền mua cho nên bị đói. Keynes hô hào, và đã được Tổng thống Roosevelt ủng hộ bằng cách tăng chi tiêu xây đường xá, cầu cống để người ta có việc làm. Sau đó,  là sản xuất cho chiến tranh thế giới thứ hai đã lôi nước Mỹ thoát ra khỏi khủng hoảng. 

Kích cầu thì cần tiền để chi. Thường thì giới kinh tế cho rằng ngưỡng thiếu hụt ngân sách ở mức 3% được coi là nghiêm trọng, cần thay chính sách. Việt Nam đã vượt ngưỡng này nhiều năm. Còn nay, Chính phủ lại đòi tăng lên đến 5,3%. Đây là  lần đầu tiên Chính phủ chính thức đặt vấn đề này, bởi vì lâu nay Chính phủ vẫn chi vượt mức  do Quốc hội quyết thì có sao đâu? Thực tế này đã xảy ra hàng năm, tỷ lệ chi ngân sách vượt mức Quốc hội quyết đã rất cao và còn đang tăng, từ 31% lên 42% trong khoảng thời gian 2007-2011. 

Nếu thiếu tiền chi mà Chính phủ ra thị trường bán trái  phiếu cho dân và dùng tiền đó để chi tiêu thì ít có vấn đề. Nhưng ở Việt Nam thường có lệnh, cho Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu (tức là in tiền) do đó mà đẩy mạnh lạm phát. Lý do lượng tiền tăng quá mức là ở đó. In tiền kích cầu đáng lẽ phải đưa đến “trọng cung” để tạo ra sản  phẩm.  

Trọng cung

Lý thuyết về “trọng cung” do hai nhà kinh tế Friedrich Hayek và Milton Friedman xây dựng theo nguyên tắc tính hiệu quả của thị trường tự do và gần như không chấp nhận bất kỳ sự can thiệp nào của nhà nước vào nền kinh tế thị trường. 

“Trọng cung” thì phải giảm thuế và thay đổi các chướng ngại kiểm soát để doanh nghiệp tăng sản xuất. Như thế, “trọng cung” cũng thường đưa đến thiếu hụt ngân sách. Các chính sách “trọng cung” ở nhiều nước tuy có kết quả nhưng hiệu quả thấp vì chính sách này thường mang tính dài hạn.

“Cung” phải hiều theo nhiều nghĩa, là khả năng sản xuất (khả năng cung), tức là có đầy đủ yếu tố sản xuất như nhà máy, nguyên liệu và lao động. Khả năng “cầu”: Sử dụng những yếu tố sản xuất có sẵn. Trong trường hợp “cung” không được sử dụng hết khả năng, tức là thừa, thì kích cầu mới có tác động, mà chỉ có tác động trong ngắn hạn vì nó giúp dùng hết “cung” có sẵn. Khi nền kinh tế trở lại bình thường, thì không thể kích cầu để phát triển kinh tế.

Giải pháp ở đâu?

Muốn đưa  ra giải pháp đúng, trước hết  phải nắm được thực trạng. Mặc dù phương pháp và các con sô thống kê còn nhiều bất cập nhưng dễ nhận thấy là tình trạng chi tiêu ngân sách quá đà, nhiều tập đoàn kinh tế hoạt động không hiệu quả, nợ công, nợ xấu ở mức báo động. 

Tổng số nợ là lớn, trong đó có nợ xấu. Nếu nợ xấu tập trung chính vào ngân hàng quốc doanh (vì cho quốc doanh vay) không biết bao nhiêu nhưng họ có thể tự dàn xếp một cách từ từ với nhau bởi vì không thể phá sản nhau. Trong trường hợp đó, kinh tế không thể phát triển vì ngân hàng không dám cho vay như trước. Do đó, kinh tế dù chưa suy sụp ngay nhưng sẽ èo uột trong nhiều năm, không thể tạo ra niềm tin, nhất là đẩy mạnh đầu tư nước ngoài.

Người dân nhận thấy những bất cập trong chủ trương chính sách vẫn cứ bám lấy kinh tế Nhà nước là chủ đạo, đất đai là sở hữu toàn dân. Nhiều tập đoàn kinh tế phá nát nền kinh tế, chỉ  chăm bẵm vào việc chi tiền xây dựng các công trình thiếu chất lượng, không hiệu quả, thất thoát, cho nên kích cầu sẽ chỉ đưa đến kích… tham nhũng. Cho nên không xử lý tham nhũng và xử lý tập đoàn “ăn hại” thì kinh tế Việt Nam sẽ không có tiền đồ.

Một trong những minh hoạ mà  nhiều người thấy nhưng ngại không muốn nêu ra là chi cho bộ máy hành chính, bộ máy Đảng song hành là quá lớn và không hiệu quả. Rõ ràng là các tập đoàn và doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò “sân sau” phục vụ bộ máy chính trị rất cồng kềnh hiện nay. Ta mới nói về tham nhũng ở một số cá nhân ở nơi này,  nơi kia mà chưa thấy sở dĩ tham nhũng cá nhân chỉ là hiện tượng " ăn theo" của tham nhũng mang tính thể chế nhằm nuôi dưỡng bộ máy cồng kềnh kém hiệu quả nêu trên.

Trong tình hình đó việc kích cầu chẳng khác nào cho con bệnh ung thư uống thuốc bổ để khối u phát triển nhanh hơn! Động lực để cải cách thể chế chính trị cho phù hợp với hạ tầng kinh tế hiện nay là rất yếu… Bởi vì ngay từ đầu công cuộc Đổi mới, những nhà hoạch định chính sách chắc chỉ mới suy nghĩ đến lớp lang "chính sách kinh tế mới NEP của Lê Nin" mà chưa có khái niệm gì về một thành phần quan trọng góp phần khắc chế những hậu hoạ của chính sách này, đó là thúc đẩy xã hội dân sự và cải cách thể chế chính trị. 

Các học thuyết, mô hình kinh tế chỉ có thể cung cấp cho chúng ta những bài học  kinh nghiệm để từ đó vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đồng thời cần lưu ý là vận dụng các quy luật kinh tế vào điều kiện nước ta phải xuất phát từ lợi ích của người dân chứ không phải chỉ từ lợi ích của các nhà đầu tư.

Cần rà soát các bất động sản, các “quốc doanh” làm ăn thua lỗ triền miên, cái nào đáng chết, không cứu, giành mọi nguồn lực còn lại và thuận lợi cho những sản phẩm đáng sống, sản phẩm mới. Qua phẫu thuật, vứt đi cái "hoại thư" như thế và qua nuôi các sản phẩm "sống" được và tìm cách có thêm sản phẩm mới để tái cấu trúc kinh tế, nghĩa là tái cấu trúc kinh tế phải bắt đầu bằng phẫu thuật cái "hoại thư".

Quyết xóa hẳn “mafia” để chuyển sang kinh tế thị trường thực sự. Mafia lớn nhất  chính là nhóm lợi ích bất chính. Thế giới gọi những nhóm lợi ích này là thế lực trục lợi (Rent- seeking), và nó sẽ đẩy xã hội chúng ta đến vực thẳm trong tương lai gần.

Tăng cường luật pháp, tăng cường công khai minh bạch, tiết kiệm (nhất thiết phải thắt lưng buộc bụng ở tầm quốc gia). Có những biện pháp an sinh dành cho những tầng lớp dân  nghèo dễ bị tổn thương nhất để có cái đệm an toàn cho xã hội trong khi thực hiện tất cả những biên pháp trên.

Nhất thiết phải  cải cách thể chế chính trị để có khả năng thực hiện các  biện pháp nói trên. Trước hết, là xây dưng một Hiến pháp mới cho ngon lành đúng với một quốc gia có kinh tế thị trường - Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự.

Vĩ thanh

Tổng thu ngân sách Nhà nước giảm 30% từ năm 2000 đã xuống mức thấp nhất chưa từng có 22,8%  GDP vào năm 2012  (nguồn WB).  Do thu chi ngân sách mất cân đối trong năm 2013, dự kiến sẽ hụt thu khoảng 21.000 tỷ đồng so với dự toán, nên đến năm 2015, bội chi ngân sách kể cả trái phiếu Chính phủ khó đạt chỉ tiêu dưới 4,5% GDP.

Ở Việt Nam không thừa cung. Trong khi đó, cầu  quá nhiều vì có tiền do việc in tiền và nạn tham nhũng từ việc thất thoát, lãng phí của đầu tư công. Nếu mà tiếp tục “kích cầu”, vì tất cả cơ chế vẫn như cũ, nó sẽ tích tụ thêm các khuyết tật thì không những không thể ra khỏi “hố đen”, mà cũng không đơn thuần chỉ là nguy cơ vỡ trận tài chính! Bởi vì ông cha ta đã đúc kết rất chính xác “gieo nhân nào gặt quả nấy”!
T.V.T

Tô Văn Trường: AI ĂN MẶN - AI KHÁT NƯỚC?

Ai ăn mặn- ai khát nước?
Tô Văn Trường

Có chuyên gia, nói thẳng với tôi nguyên văn như sau: “Đố anh tìm đâu ra một dự án nào dám vỗ ngực khẳng định "không lại quả" trong cơ chế này đấy! Cứ có 01 dự án, dù bé bằng móng tay thôi, thì cũng có hàng chục cửa phải đi qua để "kính thưa, kính gửi" rồi.

Trăn trở, nhìn  lại lịch sử thăng trầm của đất nước qua nhiều giai đoạn, chỉ có thể dùng khái niệm “vận nước” thuyết nhân quả, duyên sinh, duyên diệt để lý giải về các tác động của nó  đến người dân trong xã hội. Khi con người bị đốt cháy bởi khát vọng quyền lực và danh vọng tiền tài thì vô cùng nguy hiểm cho xã hội. 

Nợ công- báo động đỏ

“Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Đây là cách nói của ông cha ta về cái sự đời “có vay, có trả”. Tuy nhiên, ở đây “kẻ ăn mặn” lại là những nhóm lợi ích thiểu số chẳng có dây mơ, rễ má gì đến đa số dân chúng cần lao, mà con cháu đa số này phải chịu “khát nước”, tức là phải è cổ ra trả nợ cho nhóm lợi ích thiểu số bất chính kia. 

Giá như con cháu nhóm lợi ích thiểu số ấy phải trả nợ, phải chịu “khát nước” thì lại đi một nhẽ! Mà chắc chắn lúc ấy có đi truy lùng con cháu nhóm lợi ích để bắt chúng trả nợ thì cũng như “mò kim đáy bể”, bởi  với biết bao của cải mà cha ông chúng  đã vơ vét, bây giờ đã yên ổn ở những chân trời xa tít tắp với những tài khoản khổng lồ gửi ở ngân hàng  và những khoản đầu tư  vào các lĩnh vực thời thượng của cơ chế thị trường. 


Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế chưa biết lúc nào sẽ… đến đáy, dù có vênh nhau về số liệu do các nguyên nhân về kỹ thuật, không theo chuẩn quốc tế và giả dối, thì đều đi đến  kết luận chung: Nợ công ở nước ta đã đến mức “báo động đỏ”!

Ngoài các nguyên nhân yếu kém do quản trị, chủ trương đầu tư sai lầm vào nhiều lĩnh vực không hiệu quả, còn do các nhóm lợi ích bất chính, tư duy nhiệm kỳ, tranh thủ vơ vét và cố gắng che chắn sao cho hạ cánh được an toàn.

Miếng  pho mát cho không chỉ là miếng pho mát “bẫy chuột” 

Đối với nước nghèo, chậm phát triển, nguồn vốn ODA cho vay dài hạn với lãi xuất ưu đãi là đòn bẩy thúc đẩy kinh tế rất quan trọng. Nhiều công trình hạ tầng cơ sở của Việt Nam đã “thay da, đổi thịt” nhờ nguồn vốn ODA. Tuy nhiên, mặt trái của ODA cũng chứa đựng những cơ hội làm ăn khuất tất.

ODA của bất cứ nước nào thì họ cũng đều đòi hỏi phải ưu tiên (có khi bắt buộc) dùng chuyên gia, nguyên vật liệu của họ. Người Pháp có câu nói nổi tiếng “Miếng  pho mát cho không chỉ là miếng pho mát bẫy chuột”. Tôi đã viết nhiều bài về ‘lợi bất cập hại” khi sử dụng nguồn vốn ODA chính là vùng nguy hiểm, thiếu trí thức nhất, cho nên càng sớm độc lập, tự chủ, đủ sức loại bỏ ODA, càng có lợi cho đất nước.  

Nhân dân ta không bao giờ quên sự ủng hộ chí tình, có hiệu quả của Chính phủ và nhân dân Nhật Bản trong công cuộc tái thiết đất nước, và hiện nay cũng là nước thật lòng ủng hộ ta trong  tranh chấp ở biển Đông. 

Do nguồn tài trợ ODA của Nhật Bản là song phương lớn nhất đối với nước ta, cho nên bài viết này tập trung phân tích ODA của Nhật. Theo một chuyên gia là Việt kiều nhiều năm sống và làm việc trên đất Nhật Bản cho biết, một trong những vấn đề nổi cộm trong viện trợ ODA của Chính phủ Nhật Bản bị dư luận trong và ngoài nước Nhật phê phán vào những năm 70 của thế kỷ trước, khi các tập đoàn của Nhật Bản cấu kết để dành các hợp đồng béo bở như dự án xây dựng cơ sở hạ tầng (sân bay, bến cảng, đường cao tốc…),  …trong chương trình viện trợ, thực chất là cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi có điều kiện, ưu tiên cho tập đoàn của nước này trong việc thực thi. 

Vì vậy, trước khi kí văn kiện thỏa thuận vay vốn ODA cho một công trình nào đó, người soạn thảo dự án của phía Nhật tổ chức  điều tra cơ bản để xác nhận các điều kiện (kỹ thuật lẫn tài chính) của dự án, là các đội quân chuyên môn của những tập đoàn này dưới danh nghĩa “tư vấn” (consulting)  mà chi phí này thuộc viên trợ không hoàn lại (Grant Element)  để làm phương án tiền khả thi nắm bắt và chuẩn bị tham gia “đấu thầu” các dự án do chính họ soạn sẵn, bảo đảm phần thắng về các công ty Nhật Bản.

Các chính trị gia Nhật Bản (nghị sĩ quốc hội)  là người đứng sau thúc đẩy chính phủ phê duyệt dự án ODA với những khoản tiền thù lao kếch sù núp dưới dạng “hiến kim chính trị” (ủng hộ bằng tiền cho hoạt động chính trị---Seijikenkin)  trong những lần bầu cử. Khi thắng thầu một dự án ODA, các nhà xây dựng sẽ liên kết thành một nhóm để thực hiện như chúng ta đã thấy qua liên danh Taisei-Kajima-Nippon Steel (TKN)  trong dự án xây dựng cầu Cần Thơ hay một liên danh tương tự xây đường hầm qua Thủ thiêm ở Tp. HCM vì lý do đó.

Hơn thế nữa, liên danh tập đoàn công nghiệp hay xây dựng Nhật Bản còn cấu kết với quan chức nước sở tại để thực hiện đề án ngay từ đầu và cả trong quá trình thi công. Người ta cho rằng 1/3 viện trợ ODA của Nhật Bản đã vào tay chính quyền Marcos ở Philippines hay chính quyền Suharto ở Indonesia trong những thập kỷ trước, khi người dân nước này phát hiện đã có hàng trăm triệu đến tỷ đô la của họ nằm ở ngân hàng Thụy Sĩ hay bất động sản tại Mỹ khi các chính quyền này sụp đổ.

Cơ cấu nối kết quyền lợi này mang tính tổ chức rất cao, gồm tham nhũng nước sở tại-liên danh tập đoàn-chính trị gia chạy dự án và thực tế đó đã phơi bày qua nhiều dự án mà chính phủ Nhật Bản đã thực hiện ở một số nước. Vì vậy trong xã hội Nhật Bản,  nhiều nhân vật trí thức có lương tâm và đông đảo nhân dân đòi hỏi Chính phủ phải hạn chế và loại trừ kiểu làm ăn nuôi dưỡng tiêu cực này, xem đó là một nạn tham nhũng có tổ chức (Kozô Oshoku). 

Vì tất cả tiền dùng cho ODA là của nhân dân Nhật Bản đóng góp thông qua việc nộp thuế và sẽ được các nước nhận ODA thanh toán lại, vì vậy không có lý do gì 1/3 số tiền khổng lồ lại lọt vào kiềm tỏa của “Himotsuki enjyoo” (viện trợ giật dây) để làm giàu cho ba thành phần trong mỗi dự án quốc gia.

Điển hình lãng phí, không hiệu quả

Nhiều dự án sử dụng nguồn vốn ODA có vấn đề như dự án điện của TKV (Na Dương, Cao Ngạn, Cẩm Phả). Chính phủ, đăc biệt là Bộ Giao thông Vận tải làm sao có thể giải thích cho người dân hiểu vì lý do gì mà  dự án giao thông ở Việt Nam có suất đầu tư quá cao so  với các nước giàu có như Mỹ, Hàn Quốc? Mà ngay cả các nước đang phát triển như Trung Quốc,  Thailand, Malaysia, trong khi lương của kỹ sư Việt Nam chỉ bằng 5 -20%  lương kỹ sư Mỹ, Hàn Quốc, 30-40%  lương kỹ sư Trung Quốc, giá vật liệu thì đều theo giá quốc tế. 

Đơn cử như  Dự án cao tốc Bến Lức -Long Thành, 58 km, có 02 cầu lớn, nhiều cầu nhỏ: giá 1,6 tỷ USD nay tính lại lên đến 2,2 tỷ USD. Đến nỗi Bộ GTVT yêu cầu chuyển một số đoạn từ cầu cạn (viaduct) thành nền đắp đất (embankment) để không tăng quá 1,6 -1,7 tỷ đô la. 

Dự toán dự án Metro Hà Nội 03  tuyến Tây Tựu đến ga Hàng Cỏ chỉ 12 km, trong đó chỉ 4,0 km ngầm (từ Thủ Lệ đến Ga), 8,0 km nổi (chạy như đường trên cao trên khoảng không của đường Tây Tựu- Cầu Giấy - Kim Mã (giải phóng mặt bằng ít) mà giá trên 900 triệu USD (khoảng 75 triệu/km dài). Metro ở TP HCM giá cũng tương tự (cũng chỉ ngầm 30-35%). Với gíá này thì khi nào và tiền đâu để làm hệ thống metro trên 100 km như Pusan Hàn Quốc (chưa nói các thành phố lớn hơn). 

Giá nhà ga T2 - Nội Bài 900 triệu USD (cao gấp 03 ga quốc tế TSN nhưng công suất chỉ gấp 1,5 lần). Tôi đã hỏi nhiều tư vấn giao thông nước ngoài kể cả các vị tham gia các dự án này, họ đều lè lưỡi vì "suất đầu tư" trên đơn vị km hoặc hành khách này.

Có chuyên gia, nói thẳng với tôi nguyên văn như sau: “Đố anh tìm đâu ra một dự án nào dám vỗ ngực khẳng định "không lại quả" trong cơ chế này đấy! Cứ có 01 dự án, dù bé bằng móng tay thôi, thì cũng có hàng chục cửa phải đi qua để "kính thưa, kính gửi" rồi.

Cảng tỷ đô Lạch Huyện và cầu Tân Vũ 

Dự  án Cảng tỷ đô Lạch Huyện trở thành điểm nóng trong dư luận cả nước thời gian qua, nhất là ngày chủ nhật 14/4/2013 đã chính thức khởi công trong bối cảnh ngổn ngang nhiều bất cập chưa được giải quyết. 

Hội Xây dựng trực thuộc Liên hiệp Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) là tổ chức đầu tiên quan tâm phản biện dự án cảng Lạch Huyện. Trong quá trình tham vấn, lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải 04 lần thúc ép, thuyết phục lãnh đạo Hội Xây dựng ký công văn xác định cảng Lạch Huyện là công trình “cấp bách”!?. 

Sau đó,  lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dự định tổ chức Hội thảo về cảng Lạch Huyện theo đúng chức năng giám sát và phản biện nhưng lãnh đạo Bộ GTVT lại khuyến cáo... “không nên làm”!?

Ngay cả các thành viên trong Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường  (ĐTM) của dự án cũng không thể hiểu nổi vì sao 20 câu hỏi liên quan của Hội đồng chưa được chủ đầu tư và tư vấn JICA (Nhật Bản) giải đáp theo đúng quy định. Nhưng đã được Bộ Tài nguyên & Môi trường vì sức ép của ai mà “lặng lẽ” cấp tốc phê duyệt trước Tết nguyên đán vừa qua với tốc độ chóng mặt!?

Doanh nghiệp nói gà - Bộ trưởng nói vịt

Theo quy định của Nghị quyết 49/2010/QH 12 ngày 19/6/2010 của Quốc hội đối với các dự án, công trình quan trọng quốc gia phải trình Quốc hội xin ý kiến chủ trương đầu tư. Để ”lách luật”, Bộ GTVT đã ”khôn ngoan” tách dự án cầu Tân Vũ- Lạch Huyện do Tổng cục Đường bộ quản lý nguồn vốn. Trong thực tế, dự án cầu Tân Vũ- Lạch Huyện là tuyến đường kết nối cảng cửa ngõ này, với đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, là hợp phần cầu đường của Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng Cảng Lạch Huyện. Do đó, tổng số vốn cho dự án cảng Lạch Huyện đã vượt trên 40 ngàn tỷ đồng. 

Báo Lao Động ngày 2/10 đăng bài về Dự án xây dựng cầu Tân Vũ- Lạch Huyện “Bộ trưởng có định thách đố doanh nghiệp” của tác giả Hà Linh Quân. Bài báo phản ánh ông Tạ Quyết Thắng, Tổng Giám đốc Công TNHH Sơn Trường, một doanh nghiệp thành đạt,  am hiểu thực tế, tâm huyết với vận nước gửi thư đến lãnh đạo Nhà nước đề nghị xem xét, điều chỉnh giảm nhiệm vụ thiết kế. Cụ thể là hạ thấp bớt các chỉ tiêu yêu cầu về tĩnh không thông thuyền, sử dụng nguyên vật liệu trong nước, không sử dụng vốn ODA của Nhật  Bản sẽ tiết kiệm kinh phí từ trên 11 nghìn tỷ đồng xuống  dưới 1000 tỷ đồng. 

Ý tưởng này sẽ do công ty tư vấn của Mỹ thiết kế,  nếu vượt quá con số 1000 tỷ đồng thì Tổng Công ty Sơn Trường sẽ chi trả. Bài báo đã phân tích phản ánh lãnh đạo Bộ GTVT thể hiện “văn hóa lắng nghe” hoặc do lý do nào đó, đã  cố tình đánh đố doanh nghiệp theo kiểu “ông nói gà, bà nói vịt”, vì đã dám thò “mũi vào”  dự tính đã được duyệt của Bộ!? 

Nếú đọc kỹ, ngẫm suy Quyết định 1438/QĐ/TTg ngày 03 tháng 10 năm 2012 của Thủ tướng về phê duyệt quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải thành phố Hải Phòng đến năm 2025 đề cấp đến nối kết với tuyến đường sắt thì cầu Tân Vũ phải thay đổi lại các chỉ tiêu thiết kế. 

Tín hiệu mới rà soát lại các dự án ODA

Thực tế cho thấy nhiều dự án ODA  đưa ra các giải pháp tốn kém, vô lý, không cần thiết và đắt gấp 3- 4 lần giải pháp kỹ thuật của Việt Nam. Nhiều nhà cán bộ quản lý, lãnh đạo lại không có đủ kiến thức, kỹ năng để lựa chọn, lại sợ mất tiền cho vay, nên  vội vàng chiều theo ý của tư vấn quốc tế. 

Một tín hiệu vui, tại phiên họp Chính phủ tháng 09 mới đây, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao vai trò của nguồn vốn ODA với Việt Nam, song khẳng định Việt Nam sẵn sàng trả lại một số dự án nếu không phù hợp, hoặc chưa cần thiết.  Thực tế, nhiều địa phương cứ nghe có dự án vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là “vơ vào”, trong lúc có những dự án giá rất đắt, nhưng hiệu quả cầm chừng. 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu cần phải tính hiệu quả và rà soát lại các dự án, chứ “không phải cứ ODA là nhận hết”.  Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng cho rằng có nhiều dự án ODA đắt và áp những tiêu chuẩn của nước ngoài quá cao dẫn đến khó thực thi tại Việt Nam, nếu cứ vay như vậy Việt Nam sẽ phải chịu nợ lớn. Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam đồng tình cho rằng không phải cứ cho ODA là nhận với bất kỳ dự án nào, nếu dự án đó không hiệu quả vv…

Thay cho lời kết

Nếu không thay đổi tư duy trong quản trị  và cải cách đầu tư công thì chắc chắn chúng ta sẽ còn ngụp lặn trong vũng bùn của nợ nần và đói nghèo. Bọn tham nhũng, những con sâu quyền lực và các nhóm lợi ích bất chính đang hoành hành, đúng như một số vị lãnh đạo cấp cao đã phát biểu thừa nhận công khai “cái gì cũng phải tiền, không tiền không trôi… Người ta ăn của dân không chừa thứ gì” 

Muốn ngăn chặn, răn đe và trừng phạt  ngoài luật “nhân quả”, chỉ có một con đường là "thật sự dân chủ". Dân có thực quyền kiểm soát và pháp luật phải thực sự do dân, vì dân. Để tồn tại và phát triển, đất nước sẽ phải thay đổi, vấn đề chỉ còn là thời gian. 

Khôn ngoan nhất là những người có trọng trách phải hiểu lòng dân và biết vượt lên chính mình. 

T.V.T


Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

VIỆT NAM VẪN ĐỨNG NGOÀI NHÂN LOẠI VÀ SỰ PHÁT TRIỂN?

Việt Nam vẫn đứng ngoài nhân loại và sự phát triển?
Tô Văn Trường

Chỉ cần tra cứu trên các phương tiện thông tin chính thống của Nhà nước có thể nhận thấy, đánh giá tình hình kinh tế trì trệ, vô vàn khó khăn làm người dân rối như “canh hẹ”. Hay nói đúng hơn là những người có trách nhiệm quản lý điều hành đất nước và bộ phận tham mưu giống như những học trò “kém” đang loay hoay đi tìm quỹ tích không hề có trong hình học không gian vậy!

Nguyên nhân cốt lõi

Tình hình các nước có sự phát triển vượt bực làm cho Việt Nam ngày càng lâm vào cảnh tụt hậu xa hơn. Thể chế và con đường chúng ta đang mò mẫm đi theo kiểu đã có “Đảng và Nhà nước lo” gây nên biết bao hệ lụy nhãn tiền!


Hiện nay, chỉ có ASEAN, Ucraina, Nga, Trung Quốc, Venezuela và Nam Phi công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, nguyên nhân chỉ vì "kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo", không phải do được quyết định bởi quy luật cạnh tranh tự do của thị trường.

Cũng là da vàng, tóc đen  sùng bái “Đạo Khổng", Singapore và Hàn Quốc cũng phải trải qua một thời kỳ kinh tế chính trị khắc khổ, độc tài và thắt lưng buộc bụng, mà sao con tàu kinh tế của họ vẫn về đến đích. Sự hy sinh của các thế hệ dẫu sao cuối cùng còn có nụ cười no ấm, dân chủ và hạnh phúc của con và cháu họ.  Ít nhất sự trả giá còn có lối thoát.

Xã hội các nước châu Á có nét phát triển khác với châu Âu nên Mác-Ăng ghen có đề cập đến phương thức sản xuất châu Á. Theo tôi hiểu, thì phương thức sản xuất châu Á có đặc điểm là các cuộc cách mạng xã hội, gắn với các cuộc nổi nổi dậy của nông dân, dù có thành công, cũng chỉ dẫn đến thay đổi dòng họ trị vì chứ không thay đổi chế độ xã hội như đã xảy ra tại châu Âu.

Do đó, nhân dân Việt Nam đã có câu tổng kết “Con vua thì lại làm làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”. Nói cách khác, tâm lý phong kiến, tiểu nông đã ăn sâu vào thâm căn cố đế trong tư duy của người dân.

Các nước châu Á chưa qua giai đoạn cách mạng công nghiệp (gắn với thời đại phục hưng) như của các nước tư bản châu Âu. Do đó, nền sản xuất lớn cơ giới hóa được hình thành tại các nước này là do các nước thực dân, đế quốc phương Tây đưa vào chứ không phải do tự thân vận động của các nước đó. Tuy nhiên,  cũng phải thấy Nhật Bản đã chủ động tiếp nhận quá trình công nghiệp hóa để phát triển nên mang tính chất ngoại lệ.

Chính sách đối với các nước thuộc địa của thực dân Pháp và thực dân Anh- Mỹ có nét khác biệt cơ bản. Về mặt kinh tế, thực dân Pháp duy trì nền kinh tế tại nước ta ở trình độ nền sản xuất nhỏ và chỉ đưa yếu tố của nền sản xuất lớn ở mức độ nhất định. Thế nhưng đế quốc Anh- Mỹ đã thực hiện chính sách tư bản hóa giai cấp lãnh đạo tại các nước mà họ đặt chân xâm chiếm, dẫn đến thực hiện công nghiệp hóa tại các nước này.

Đối với Việt Nam, ai cũng nhìn thấy vấn đề ở đây là hạn chế về tư duy, phẩm chất của nhiều vị lãnh đạo, (do lỗi hệ thống tuyển chọn nhân tài). Vấn đề minh bạch, cần tra soát đề bạt và bãi miễn hệ thống nhân sự điều hành cho phù hợp với năng lực và hoàn cảnh cống hiến trở nên là "vấn đề "của Việt Nam trong con mắt  các nhà đầu tư sáng giá và chuẩn "vàng ròng".
   
 Còn chúng ta thì sao nhỉ? Ra nước ngoài thì cũng là thân phận thấp hèn, dù trí tuệ và nhân phẩm của một nhóm con người ưu tú đâu có thua dân tộc nào. Còn ở trong nước thì từ cao đến thấp phổ biến tự dối lừa bản thân và tự ngạo mạn vô lối. Trong dân gian có câu khẩu ngữ 4 D nói về “nhóm lợi ích” thao túng đất nước  “Đố kỵ, Dối trá, Độc ác, Dửng dưng” nghe thật cay đắng, bởi thế chưa có thời kỳ nào người dân coi thường lãnh đạo như ngày nay.

 Ngược lại, bản thân người dân cũng lúng túng, loay hoay không  biết dựa vào " cột trục" chuẩn mực nào để xây cuộc đời.

Chỉ riêng bài toán kinh tế cũng không có nghiệm vì tình trạng phổ biến là nhiều vị lãnh đạo từ trung ương đến địa phương có xu hướng báo cáo nặng về thành tích, nói đến khuyết điểm chỉ mang tính chất cho có vẻ khách quan, cốt để đánh bóng cho bản thân mình, tìm cách trấn an dư luận xã hội.

Trong nội bộ lãnh đạo, không có cơ chế kiểm soát hữu hiệu, thiếu sự đấu tranh tự phê và phê bình một cách nghiêm túc dẫn đến mất đoàn kết nội bộ đã được đại hội Đảng nhiệm kỳ VI-XI liên tục ghi nhận nhưng hầu như không chuyển biến. Theo đánh giá của đại hội Đảng lần thứ VI thì đội ngũ cán bộ chiến lược (tham gia vào quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách) đã phạm sai lầm nghiêm trọng và kéo dài vì bị chi phối bởi hệ tư tưởng tiểu tư sản vừa tả khuynh vừa hữu khuynh.

Nợ công và con số thống kê

Để đánh giá “sức khỏe”  của nền kinh tế phải dựa vào các con số thống kê, trong đó có nợ công để đưa ra các quyết sách. Tương tự như trong lĩnh vực khoa học tài nguyên nước, khi muốn xây dựng con đê, cống lớn, nhà máy thủy điện vv…người ta phải dựa vào mô hình toán thủy văn, thủy lực để mô phỏng lựa chọn phương án tốt nhất.

Độ chính xác của mô hình phụ thuộc vào số liệu cơ bản, chất lượng phần mềm tính toán và  năng lực của người xử lý mô hình. Chỉ riêng số liệu cơ bản đầu vào mà sai  thì chất lượng của mô hình coi như đồ bỏ, nếu sử dụng thì chỉ mang lại tai họạ! Đấy chỉ là trong phạm vi của ngành, còn số thống kê của cả nước sai sự thật, thì hậu quả còn lớn hơn nhiều.

Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan khi nghe những báo cáo thống kê nửa chặng đường phát triển kinh tế trong 5 năm từ 2011 – 2015, đã phát biểu "Các con số của Việt Nam cứ thế nào ấy. Tôi không dám tin. Thế mà chúng ta lại đem số liệu đấy ra phân tích nữa thì chắc là càng không đúng". Bản thân người viết bài này ngay từ mấy năm trước đã mạnh dạn viết về sự bất cập của số liệu thống kê Việt Nam qua các bài như “Nợ công đại vấn đề”; “Đằng sau các con số thống kê”; “Con số mà biết nói năng” vv…

Theo đánh giá của chuyên gia Vũ Quang Việt nguyên nhân của tình trạng bất ổn định kéo dài từ năm 2008 đến hôm nay thì dường như ai cũng biết. Nhà nước vừa chi tiêu quá trớn, vừa sử dụng chính sách đẩy mạnh tín dụng. Kết quả là đầu tư và phát triển thiếu chất lượng, nợ nước ngoài tăng, lạm phát cao, nợ xấu tăng, nhiều doanh nghiệp mất khả năng trả nợ và nhiều ngân hàng trên bờ phá sản, còn tốc độ tăng GDP thì lại trên đà suy giảm.

Tất nhiên trong tình hình như thế, doanh nghiệp không muốn đầu tư, ngân hàng bó buộc phải cắt giảm và thận trọng hơn trong cho vay. Đầu tư nước ngoài cũng không thể tăng như trước. Tình hình đình đốn như thế này sẽ còn kéo dài nhiều năm. Chính sách kích cầu chỉ như đổ dầu vào lửa. Tuy nhiên trong tình hình như thế, nhà nước không phải chỉ ngồi bó tay mà cần lợi dụng thời cơ thiết lập lại trật tự kinh tế. 

Một trong những trật tự cần thiết lập (chứ không phải thiết lập lại) là hệ thống kiểm soát và cân bằng (check and balance) giữa Chính phủ và Quốc hội trong hoạt động kinh tế.

Loạn “sứ quân”!

Ngân sách là phản ánh cụ thể chính sách kinh tế.  Ngân sách hàng năm được Quốc hội thông qua ở nhiều nước mang đầy đủ tính chất của một đạo luật. Vi phạm bằng cách vượt mức chi ngân sách đề ra là vi phạm luật. Điều này Quốc hội Việt Nam chưa bao giờ đặt ra và thực hiện, dù rằng Chính phủ chi vượt qui định là thực tế đã xảy ra hàng năm. Tỷ lệ chi ngân sách vượt mức Quốc hội quyết đã rất cao và còn đang tăng, từ 31% lên 42% trong khoảng thời gian 2007-2011.

Chỉ có thể thấy tính nghiêm trọng của vấn đề trên nếu đem so số nợ vay thêm trên với số nợ tối đa mà Chiến lược vay nợ của Chính phủ đã đề ra cho giai đoạn 2011-2015. Nợ tối đa được qui định là 225,000 tỷ đồng,  tức là 10,6 tỷ US. Tuy nhiên, số nợ tăng thêm tính từ đầu năm 2011 đến tháng 6 năm 2013 đã hơn 11 tỷ US, nhưng vẫn còn 02 năm rưỡi nữa mới hết thời hạn kế kế hoạch.  Đấy là chỉ kể nợ trái phiếu  bao gồm cả tín phiếu ngắn hạn, chưa tính tới nợ vay chính phủ hay ngân hàng nước ngoài.

Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư Bùi Quang Vinh nhận xét tham nhũng, lãng phí trong đầu tư  công xuất hiện chủ yếu từ khâu quyết định chủ trương đầu tư. Hàng loạt các công trình xây dựng xong bỏ hoang, lãng phí không sử dụng, nhưng không ai chịu trách nhiệm cho nên khoản nợ đọng xây dựng cơ bản của các địa phương cả nước lên đến 91.000 tỉ đồng.

Theo tôi hiểu, thiếu tiền, nhiều địa phương lại tìm mọi cách “moi tiền” mà không biết ai có thể kiểm soát được họ, kể cả phát hành thêm trái phiếu, thêm nợ. Ngay ở Trung ương, ông Vương Đình Huệ Trưởng ban kinh tế tuyên bố là 7% lạm phát nằm trong kế hoạch những năm tới, có nghĩa là bình thường. Với tư duy kinh tế như vậy, không hiểu nền kinh tế của đất nước sẽ đi về đâu?  Lẽ nào, theo Hiến pháp Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước nhưng thực tế mãi mãi vẫn chỉ là “hữu danh, vô thực”!?

Bài học về Vinashin

Ngay từ khi  bùng nổ, vụ Vinashin  đã được nhiều chuyên gia phân tích đánh giá rất sâu sắc. Tôi cũng đã viết bài “Vinashin đừng đánh bùn sang ao”.

Tháng 2/2013, có ý kiến cho rằng Bộ Tài chính có thể đứng ra bảo lãnh cho khoản nợ quốc tế tới 600 triệu USD của Tập đoàn Công nghiệp Vinashin Vinashin cùng 23 triệu đô la tiền lãi chưa thanh toán thành loại trái phiếu chiết khấu có thời hạn 12 năm, do Bộ Tài chính Việt Nam phát hành để tránh chủ nợ bắt các tầu cũng như ngăn chặn hàng hóa của Vinashin trên thị trường quốc tế để lấy lại vốn.

Đề án này đã được Tòa thượng thẩm chấp thuận hôm 4/9. Như vậy,  nó không còn là nợ của Vinashin nữa. Bộ Tài chính đang phải “đứng mũi chịu sào” cho bao nhiêu những khoản nợ của nhóm “khu vực chủ đạo” - doanh nghiệp Nhà nước (DNNN)!?.

Người nước ngoài không cần biết tên Vinashin hay bất cứ thứ tên nào tương tự nữa. Đến ngày đáo nợ họ sẽ đến Bộ Tài chính để đòi. Nếu đã quyết định đẩy các công ty con đi cho người khác chịu  trách nhiệm thì bây giờ cái còn lại đã là 01 công ty mới rồi. Nó không còn liên hệ gì với những cái bị đẩy đi nữa. Nhà nước đã lãnh đủ cái đó rồi. Vậy cái mới có đủ sức sống không thì phải đánh giá tình trạng tài chính và kế hoạch của họ trong tương lai. Thông tin ở đâu để đánh giá? 

Về phát triển ngành đóng tầu trên thế giới thì đây là ngành đi xuống từ trước năm 2006 và sẽ tiếp tục đi xuống. Không có khả năng đóng tầu để bán. Vậy thị trường đóng tầu trong nước như thế nào? Có đóng nổi tầu chiến hay nên mua nước ngoài? Về mặt quản lý thì không hy vọng gì, bởi vì cái hệ thống quản lý quốc gia vẫn như cũ.  Nếu không còn có thị trường đóng tầu thương mại mà chỉ có nhu cầu đóng tầu chiến thì nên giao nó cho quân đội.

Thay cho lời kết
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia phát triển, và Đảng ta luôn nói lắng nghe mọi ý kiến góp ý, nhưng lắng nghe kiểu như vừa qua, thì rút cục đất nước VN vẫn sẽ đứng ngoài nhân loại, và sự phát triển. Chính sự tôn trọng sự khác biệt, tôn trọng mọi sự sáng tạo, trong đó, có tư duy, mới là động lực kích thích cho dân tộc đó phát triển, và cũng chứng tỏ chính quyền của quốc gia đó mạnh.
Người mạnh là người biết lắng nghe mọi chính kiến khác biệt.
T.V.T

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

TÔ VĂN TRƯỜNG: VỐN ODA - MINH BẠCH CẦN ĐƯỢC LUẬT HÓA

Vốn ODA: Minh bạch cần được luật hóa


Tuần Việt Nam: Các nhà tài trợ quốc tế thì rất "kỵ" xung đột lợi ích trong dự án của họ. Việc ngăn chặn xung đột lợi ích thường đi kèm với điều kiện minh bạch (transparency), nên đây là yếu tố quan trọng cần phải được luật hóa.

Kinh tế Việt Nam hội nhập quốc tế giống như đứa trẻ chập chững tập đi. Bởi thế, cũng như đứa trẻ cần có sữa uống như một nguồn dinh dưỡng quan trọng, kinh tế Việt Nam rất cần sự hỗ trợ từ nhiều nguồn vốn, mà vốn hỗ trợ phát triển (ODA) là nguồn vốn rất quan trọng. Tuy nhiên, đã "vay" thì phải "trả" và bởi thế ODA không phải là bầu sữa cho không.

Bên cạnh những hiệu quả to lớn mà vốn ODA mang lại cho nền kinh tế nước ta thì những bất cập do về nhận thức, cách tiếp nhận và quản lý sử dụng vốn ODA đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải kịp thời và nghiêm túc nghiên cứu đánh giá, giải quyết.

Độ vênh về nhận thức 

ODA không phải là "bầu sữa mẹ", mà thực chất là Nhà nước đứng ra vay, nhưng thuế của người dân sẽ phải trả và các khoản phúc lợi của người dân cũng phụ thuộc ở các khoản vay này. Nếu sử dụng ODA không hiệu quả thì không phải chỉ tổn hại về tài chính mà còn mất cả chủ động chiến lược điều hành quyền tự quyết của một đất nước.

Trong việc thương thảo hợp đồng, các nhà tài trợ quốc tế thường sử dụng mẫu văn bản của Hiệp hội kỹ sư tư vấn quốc tế (FIDIC). Trước khi ký hợp đồng với đơn vị được chấm trúng thầu, chủ đầu tư thường tổ chức "đàm phán hợp đồng", theo Luật Đấu thầu Việt Nam gọi là "thương thảo hợp đồng".

Nhưng theo nguyên tắc của các nhà tài trợ, không được "đàm phán" hoặc "thương thảo" về hợp đồng vì làm như thế là không công bằng với các đơn vị dự thầu. Đây là sự khác biệt trong quy định của cả 02 phía. Sự khác biệt trong thực tiễn và trong tư duy là không thể tránh khỏi.

Điều được xem là bình thường trong thực tiễn quốc tế có thể bị xem là bất hợp pháp hoặc không được phép tại Việt Nam. Hợp đồng cho phép hành động, nhưng hành động này không thể áp dụng vào thực tế. Các nhà tài trợ không đồng ý việc "đàm phán hợp đồng" mà chỉ chấp nhận việc "làm rõ hợp đồng"..
.
Các nhà tài trợ luôn nhắc nhở khi có sự khác biệt giữa quy định của Việt Nam và quy định của nhà tài trợ thì phải theo quy định của nhà tài trợ. Phía Việt Nam cho rằng phải áp dụng hài hòa hai bên. Điều đó, khó cho người áp dụng là không thể "hài hòa" được, bắt buộc phải theo bên này hoặc bên kia. Minh chứng là khi bỏ thầu vượt cao so với dự toán, thì phía Việt Nam quy định phải hủy đấu thầu, trong khi các nhà tài trợ không bắt buộc phải như thế.

Tham những lãng phí 

Nói cách công bằng, ngay cả các nước tiên tiến trên thế giới, tham nhũng cũng không phải là "miễn nhiễm" nhưng không tràn lan, phổ biến như ở Việt Nam. Trên diễn đàn Quốc hội cũng như qua các phương tiện thông tin đại chúng, người dân được biết nguồn vốn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng là nơi dễ thất thoát, lãng phí nhất, từ chủ trương đầu tư, đến thiết kế, quá trình thi công, nghiệm thu công trình. Tham nhũng, lãng phí trong lĩnh vực xây dựng cơ bản đã được Ủy ban Ngân sách và Kinh tế xã hội của Quốc hội ước định lên đến hàng chục phần trăm.

Người dân Việt Nam vẫn nhớ khi báo chí Nhật Bản đưa tin về Công ty tư vấn quốc tế Thái Bình Dương (PCI) phải hối lộ cho quan chức Việt Nam phụ trách dự án đại lộ Đông Tây thành phố Hồ Chí Minh "hoa hồng" tương đương 10% của giá trị hợp đồng. Nhưng Ban quản lý dự án có báo cáo giải trình rằng: "Việc đấu thầu, chọn thầu đều thực hiện đúng quy định và không có hành vi tiêu cực nào cả"!?

Thực tế, "vết nứt" của dự án ngày càng lộ rõ và kết quả sau đó ra sao mọi người đã biết. Mất tiền đã đau xót nhưng mất uy tín và mất lòng tin mới là bài học vô giá vì mất lòng tin là mất tất cả, nhất là về phương diện quốc gia.

Những việc tưởng chừng như nhỏ nhưng lại là "vết nứt" tiềm ẩn mà ít người nhận thấy hoặc không dám nói ra. Đó là vấn đề "tế nhị" xung đột lợi ích (conflict of interests). Có vẻ như xung đột lợi ích xảy ra rất phổ biến nhưng ít ai để ý đến để chấn chỉnh. Nhiều ví dụ minh chứng như "chồng xét thầu, vợ hoặc bà con thân cận tham gia đấu thầu", "chồng lấy báo giá và quyết định chọn nguồn cung cấp trong khi người thân là nhà cung cấp".

Người có thẩm quyền ký quyết định trong khi người thân trong cùng cơ quan hoặc ngành (không hẳn cùng phòng ban) soạn thảo hồ sơ dựa trên đó quyết định sẽ được ký. Hoặc là một cá nhân làm việc trong ban quản lý dự án nhưng cũng có phần hùn (nổi hoặc chìm) của công ty tham gia thi công. Trong những tình huống này thì cá nhân người bị xung đột lợi ích bị vướng víu giữa lợi ích cho riêng mình và lợi ích cho dự án mà khó hài hòa được.

ODA "sát thủ kinh tế " 

ODA là cống hiến của dân tộc Nhật Bản đối với thế giới nhưng cũng là một hình thức bảo hộ lợi nhuận của các công ty Nhật, là sự biểu lộ rõ ràng của ý thức quốc gia. Tác giả Nguyễn Lương Hải Khôi dựa vào những công trình nghiên cứu có tính nêu bản chất chiến lược ODA của Nhật Bản do chính các học giả Phù Tang thực hiện để viết bài ' ODA- "sát thủ kinh tế" của Nhật Bản rất đáng suy ngẫm.

Gần đây, khi tôi tham gia Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án cảng Lạch Huyện (Hải Phòng) càng thấy rõ vai trò của một số tổ chức và sự thúc ép của một số quan chức Nhà nước đối với các nhà khoa học. 

Ngay cả khi báo cáo của dự án còn khoảng 20 điểm chất vấn của hội đồng khoa học liên quan đến phương pháp luận, các vấn đề về kỹ thuật tính toán, các tác động xấu đến môi trường (nạo vét đổ ngoài biển 40 triệu m3 bùn cát), giá thành quá đắt vv... chưa được giải trình rõ ràng, họ vẫn vận động cơ quan chức năng cho mở một số gói thầu coi như việc đã rồi!!!?

Giải pháp

Nguyên lý điều hành quản lý Nhà nước là trách nhiệm, quyền hạn và quyền lợi. Nếu quyền hạn lớn hơn trách nhiệm dễ sinh ra tham nhũng, quan liêu. Nếu quyền lợi không gắn với trách nhiệm sẽ mất động lực. Để hạn chế tối đa việc thất thoát và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA, cần rà soát, chấn chỉnh lại một cách hệ thống các công việc liên quan đến việc tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA cùng với các chế tài cụ thể.

Các dự án có nguồn vốn ODA trong cả nước, kể cả ở TP.Hồ Chí Minh đều giải ngân khá chậm do các nguyên nhân như ách tắc vì thủ tục hành chính rườm rà, công tác giải phóng mặt bằng chậm trễ, đơn giá lạc hậu, năng lực của nhà thầu, tư vấn, và Ban Quản lý dự án còn hạn chế. Ở TP.HCM có trường hợp chỉ một đường ống nước cỡ trung, cản trở công trình chống ngập đang xây, mà phải chờ đợi 2- 3 tháng mới di dời được cái ống nước này!

Dự án ODA nên giao nhiều quyền hành hơn cho tư vấn chấm thầu và chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật. Nếu tư vấn có năng lực và uy tín thì sẽ vì bảo vệ uy tín của mình mà làm việc công tâm. Tư vấn nước ngoài còn có thể rút kinh nghiệm từ quốc tế về giá cả, công nghệ, năng lực của nhà dự thầu quốc tế.

Vì thế, cần xem xét kỹ, chọn tư vấn nước ngoài có uy tín và kinh nghiệm để chấm thầu, thì họ sẽ phát huy hiệu quả mà tư vấn trong nước chưa có đủ điều kiện thực hiện.

Chúng ta đã hội nhập, bước ra biển lớn, phải chấp nhận "luật chơi" của quốc tế. Cần phải rà soát lại cơ chế chính sách xuyên suốt từ trung ương đến địa phương, coi trọng cam kết với các nhà tài trợ. Sử dụng nguồn vốn ODA kể cả vốn đối ứng đều phải rõ ràng, công khai, minh bạch, chú trọng hiệu quả đầu tư.

Vĩ thanh 

Đối với Việt Nam đáng lo hơn cả là vay nợ nhưng làm ăn kém hiệu quả và khả năng trả nợ ngày càng khó khăn hơn. Nguy cơ đã thấy rõ không giữ nổi tài chính quốc gia trong ngưỡng an toàn. Thiếu hụt ngân sách ngày càng tăng, tỷ lệ chi ngân sách Nhà nước thực hiện so với tỷ lệ ngân sách Quốc hội biểu quyết thường cách xa nhau khoảng 20%.

Bội chi ngân sách, mất cân đối, cán cân thương mại, bộ máy Nhà nước cồng kềnh, ngày càng phình to, tệ nạn lãng phí, tham nhũng thể hiện rõ nhất qua chỉ số ICOR cao ngất ngưởng. Trong lĩnh vực giao thông tính bình quân đầu tư 01 km đường cao tốc ở Việt Nam thuộc loại đắt nhất trên thế giới nhưng chất lượng mau hỏng nhất !?

Cần phải đặt lại vấn đề xem xét nợ Nhà nước trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội bền vững, xây dựng cơ chế đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các dự án đầu tư phải thực sự có hiệu quả, và khả năng trả nợ cả trung hạn lẫn dài hạn. Tất cả các đối tượng sử dụng nguồn ngân sách tức là tiền thuế của dân, không có "vùng cấm" phải được kiểm toán độc lập theo định kỳ.

Nếu không căn cơ, tần tiện, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, không kiểm soát chặt chẽ các tổ chức, cá nhân có vốn vay thì sẽ không chỉ có một mà nhiều Vinashin! Không nói ra, ai cũng hiểu khi không có khả năng trả nợ, đó sẽ là "thảm họa" dân tộc thực sự! 

Tô Văn Trường
Nguồn: Tuần Vietnam